2. QUẢN LÝ TÀI NĂNG (TALENT MANAGEMENT) TRONG HỆ SINH THÁI QUẢN TRỊ TPS

Tài năng con người thuộc 1 trong 4T : Tình, tiền, tài và tuổi mà chúng ta cần quan tâm.

tình là tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, tổ quốc hay tình cảm bạn bè cho đến tuổi là sức khỏe theo qui luật sinh lão bệnh tử. tiền và tài có thể đo lường dễ hơn so với tình và tuổi (sức khỏe).
Trong hệ sinh thái quản trị TPS, một tổ chức khi có người tài sẽ gia tăng về giá trị (70% giá trị gia tăng là từ nguồn nhân lực). tài năng của nhân viên hòa quyệt với môi trường sinh thái (Improving developing learning) của doanh nghiệp thì mới phát huy tác dụng – hay ta gọi đó là văn hóa doanh nghiệp. để làm điều đó, DN phải có chính sách, chế độ cũng như tầm nhìn, sứ mạng và giá trị cốt lõi được nhân viên cảm nghiệm và thực thi. nếu tài năng của nhân viên không phù hợp với văn hóa DN thì cả hai đều bị thiệt hại.

About thomastanda

1. Management consulting : Working with many kinds of customers including both Vietnamese and foreigners, good experience, Business Process outsourcing, BPI : document templates as well as professional skills in some areas:Banking, Financial management, DD 2. Information technology: ERP, SCM, CRM, MIS, BI, DIS and Specific Industry Solutions, BSC, PBSC, TPS: More than 18 years implementing EUROJOB, iFlex -Core Banking, Microsoft Dynamics-Navision, Solomon, Axapta, especially BizForceOne® for outstanding successful customer implementations. 1997 – 1998: Pixibox, French company 1998 – 2000 Vietnam Bank for Agriculture and Rural 2. Development, HCM Branch : IS Manager and Accountant 2000 -> 2002 Eaten Asia Bank as IS MIS Project manager 2002 at Ben Thanh Brewery and Beverage 2004> 2006: Kimdosoft (Time shared Real Estate – Phú Hải resort) and ERP-with Navision implementation: Sanofy pharma. 2006-2007: BMI founder with MegasolutionCenter, USA 2007 -> now: BizForceOne Country manager with BFO Implementation: >30 projects with BizForceOne® Projects: Casumina JSC, TTA Group, DANAPHA, Vinpharco, Indico,CPC1, Duoc Hau Giang, Vimedimex, Danameco, Medochemie, VTJ, Vietceramic, PhuongNga, Samco… 2011 -> now: CENFORD : Center of Research and Development Association – Center of Asia R&D Association- VN Gorvement. Xem tài liệu powerpoint về hệ sinh thái quản trị (Business Management ecology system): http://www.authorstream.com/channels/thomastanda/Business-Management-Ecology/
This entry was posted in Hệ sinh thái quản trị, Management consulting. Bookmark the permalink.

5 Responses to 2. QUẢN LÝ TÀI NĂNG (TALENT MANAGEMENT) TRONG HỆ SINH THÁI QUẢN TRỊ TPS

  1. thomastanda says:

    Theo tướng số học Trung Hoa hay tâm lý học hiện đại, mỗi cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng bởi hệ giá trị gọi là nhân sinh quan tùy thuộc vào môi trường, hệ qui chiếu hay niềm tin của họ mà ảnh hưởng đến nhận thức. Quan điểm sống hay hệ giá trị sẽ hình thành nên các tiêu chí giúp họ nhận thức đúng sai về giá trị chân – thiện – mỹ từ đó hình thành mục tiêu sống và khẳng định sự tài năng của họ.

    Tài năng cá nhân (talent) dựa trên năng lực cốt lõi (Core competancy) được qui ra 3 phần:
    1. Năng lực làm việc -> kỹ năng giải quyết vấn đề (Cái mỹ) -> Quản trị theo học thuyết Taylor
    2. Năng lực làm người -> Kỹ năng cảm nhận thiện ác, đúng sai, lòng trắc ẩn (chân) -> Quản trị theo học thuyết Maslow
    3. Năng lực đóng góp: cho chính mính, gia định vợ chồng, con cái, anh em ruột thịt và công đồng xã hội… (Thiện) -> Quản trị theo học thuyết động lực 3.0

    Để đo lường năng lực của họ, cơ bản theo 2 tiêu chí sau:
    1. Kỹ năng cứng (tài/căn): Kiến thức chuyên ngành, kinh nghiệm chuyên môn, một phần thành tựu đạt được (Năng lực làm việc, năng lực cống hiến)
    2. Kỹ năng mềm (đức/cốt) Chia làm 3 nhóm:
    a. Nhóm tâm lý:
    i. Động cơ : mục tiêu tài chánh, tài năng, danh vọng, quan hệ xã hội, cống hiến, an nhàn…
    ii. Năng lực tự vệ: đè nén -> cam chịu, bốp chát, ộn hòa, bình thản…
    iii. thế giới quan: hệ qui chiếu/Lăng kính hay lòng tin
    iv. bản chất (nhân cách): thật thà, thuyết phục, chụp mũ, ngụy biện, vòng vo…
    v. khí chất: trầm tính, linh hoạt, nóng nảy và ưu tư/cả nghĩ
    vi. tính cách: khiêm tốn tự kiêu, trung thành Phản bội, thật thà giả dối
    b. Nhóm 2 về xã hội (4 loại): Nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm tham chiếu và nhóm áp lực
    c. Nhóm 3 về văn hóa (2 loại); Văn hóa nền, Văn hóa nhánh

  2. thomastanda says:

    Để thành công hay hoàn thành công việc, ta cần có tài năng, nhưng để thành đạt, ta phải thành công và đạt mục tiêu (PDCA) theo thẻ điểm cá nhân Personal Balanced Scorecard.
    Công thức thành đạt = năng lực (3 nhóm) / Thể hiện.

    Để đánh giá một con người theo Trung Hoa, nhìn tướng số + tiếp xúc …
    + Theo khoa học tâm lý (Hình sự hay an ninh…): sử dụng KPI của quản lý tài năng
    -> để biết rõ hơn, tham khảo phần mềm quản lý tài năng (SaaS) tại: Peoplesonalbsc.com.

    VD: đánh giá Bill, Jobs, Obama, Tập Cận Bình, các chuyên gia tài chánh, các chuyên gia ERP VN…

  3. thomastanda says:

    “Lắm tài, nhiều tật”, chân dung của nhân tài thường được vẽ như vậy từ hàng trăm năm nay, mặc nhiên bao hàm cả yếu tố “tài” và “tật”. Tuy nhiên, mọi việc đã thay đổi khi Dave Ulrich, người được coi là bộ óc số một thế giới về nhân sự, đưa ra “lý thuyết nhân tài 3C”…

    Tư tưởng và học thuyết của Dave Ulrich, GS. Đại học Michigan (Hoa Kỳ), về nhân lực, nhân tài, trong đó đặc biệt là “lý thuyết nhân tài 3C” (3C Talent Formula), đang được áp dụng phổ biến trên thế giới, tỏ ra khả dụng đối với các tổ chức trong việc phát hiện “người giỏi”, từ đó bồi dưỡng, vun đắp họ thành “người tài”, mang lại giá trị cao cho tổ chức, xã hội.

    Giỏi chưa hẳn đã tài

    Lâu nay “giỏi” và “tài” thường được coi là một cặp song hành, gắn kết khăng khít với nhau. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của Dave Ulrich, “giỏi” mới chỉ là điều kiện cần, một người muốn trở thành “nhân tài” thực thụ thì còn phải hội đủ nhiều yếu tố khác.

    Một “người giỏi” sẽ không thể là “người tài” khi cái “giỏi” đó là trời phú và chỉ nằm im ở dạng tiềm năng. Nghĩa là, một người cho dù thông minh, có tố chất đến mấy đi chăng nữa nhưng không chịu làm hoặc không biết cách làm thì không thể tạo ra giá trị. Ngược lại, cũng có những người giỏi, tạo ra nhiều giá trị nhưng cũng gây ra không ít hệ lụy, phiền toái thì cũng không thể gọi là “nhân tài”, là “nguyên khí” của tổ chức được.

    “Lý thuyết nhân tài 3C” (Talent = Competence*Commitment*Contribution / Nhân tài = Năng lực*Cam kết*Cống hiến) được Dave Ulrich xây dựng sau khi khảo sát, nghiên cứu trên hàng nghìn doanh nghiệp và hàng chục nghìn “người tài” trên khắp thế giới.

    Năng lực – Competence

    Một nhân sự được cho là có năng lực khi anh ta có kiến thức, kĩ năng và giá trị phù hợp với công việc của hôm nay và nhất là trong tương lai. Năng lực liên quan tới 3 “đúng”: kỹ năng đúng, vị trí đúng và công việc đúng.

    “Nhân tài phải là những người có khả năng làm tốt những công việc của ngày hôm nay và đặc biệt là của tương lai. Sẽ hết sức sai lầm nếu chỉ so sánh thành tích của quá khứ để xác định ai là nhân tài, mà phải nhìn về phía trước xem trong tương lai tổ chức mình sẽ cần những con người như thế nào”, Dave Ulrich đặc biệt nhấn mạnh.

    Cam kết – Commitment

    Năng lực là không đủ nếu thiếu cam kết! Cam kết có nghĩa là nhân viên sẵn sàng cống hiến hết mình cho sự thành công của công ty. Trên thực tế, có những người rất giỏi, thông minh, thạo việc nhưng do không “chịu làm” hoặc làm không hết mình nên rút cục họ không tạo ra giá trị, đóng góp gì.

    Cống hiến – Contribution

    Trước đây, khi đánh giá người tài thường ta chỉ dừng lại ở 2 yếu tố: năng lực (có khả năng làm việc) và cam kết (có ý chí làm việc). Tuy nhiên, với thế hệ nhân lực hiện nay và tương lai, chừng đó là chưa đủ, người tài còn phải là người biết cống hiến và được ghi nhận. Nghĩa là họ còn phải ý thức được ý nghĩa và mục đích của công việc mình làm, thậm chí, như Dave Ulrich nhấn mạnh, họ còn cần có được sự “thăng hoa”, sự “viên mãn” trong cuộc sống và công việc.

  4. Biết người là khôn, Biết mình là sáng (Lão Tử ?)

    Lê Anh Chí
    __________________________________________
    Dàn Bài :
    I) Khôn khác với Sáng

    II) Khôn thì có thể lừa người
    III) Khôn thì có thể lấy lòng người
    IV) Khôn thì có thể dùng người
    V) Khôn thì có thể có vinh hoa phú quí
    VI) Khôn thì có thể tự quảng cáo là Sáng

    VII) Sáng thì có thể học giỏi
    VIII) Sáng thì có thể biết pháp tu
    IX) Sáng thì có thể đắc đạo
    X) Sáng thì có thể . . . lận đận

    XI) Tự biết là Anh tự thắng là Hùng
    XII) Biết mình là biết Vọng Tâm của mình
    XIII) Biết người biết ta trăm trận trăm thắng (Binh pháp)
    XIV) Biết mình, biết cuộc đời là bể khổ nên tu hành
    XV) Hiểu biết tin nhận Chân Tâm để tu theo Thiền-tông
    __________________________________________

    I) Khôn khác với Sáng

    Sáng nói về sự Sáng suốt của tâm trí một người. Sáng nói về bản chất của một người
    Khôn nói về sự xử thế Khôn khéo của một người. Muốn xử thế Khôn khéo thì phải biết người.
    Khôn quả khác với Sáng

    II) Khôn thì có thể lừa người

    Khôn thì phải biết người, biết người thì có thể lừa người
    Tùy tâm của người Khôn , tâm xấu thì lừa người
    Người Khôn thường lừa người. Vì mục đích người ta thường là vinh hoa phú quí, đâu kể gì đến luân lý.

    III) Khôn thì có thể lấy lòng người

    Khôn thì có thể lấy lòng người
    Do được lòng người nên thiên hạ mới biết là người Khôn

    IV) Khôn thì có thể dùng người

    Khôn thì có thể dùng người vì biết người.
    Bọn chánh trị gia đại lưu manh thuộc nhóm Khôn này. Như Lưu Bang (Hán Cao tổ) vốn dĩ bất tài, nhưng dùng được Trương Lương mà thành Hoàng đế.

    V) Khôn thì có thể có vinh hoa phú quí

    Mục đích của hầu hết người Khôn : có vinh hoa phú quí
    Thường thì họ có phú quí vinh hoa.

    VI) Khôn thì có thể tự quảng cáo là Sáng

    Người Khôn thường không ngừng ở vinh hoa phú quí mà còn muốn được xem là Sáng suốt , thông minh
    Thường họ cũng thành công trong việc này.

    VII) Sáng thì có thể học giỏi

    Sáng thì có thể học giỏi, dĩ nhiên.

    VIII) Sáng thì có thể biết pháp tu

    Sáng thì có thể biết pháp tu: khi thức ngộ rằng cuộc đời là bể khổ nên tu hành, thì nhờ tâm trí Sáng nên biết pháp tu. Nhà Phật gọi đó là ‘‘trạch pháp giác chi’’

    IX) Sáng thì có thể đắc đạo

    Sáng thì có thể biết pháp tu , biết pháp tu mà nếu tu hành trau chuyên thì có thể đắc đạo.
    Sáng thì có thể đắc đạo

    X) Sáng thì có thể . . . lận đận

    Trong cuộc đời, người Sáng có thể . . . lận đận
    Trong cuộc đời, không hại người thì bị người hại
    Trong cuộc đời,vì đố kỵ ghét ghen người ta có thể hãm hại, thậm chí có thể giết người

    Trong cuộc đời, người tốt dẫu Sáng cũng không thể phòng ngừa hết những bẫy rập. Nên, người Sáng có thể lận đận

    XI) Tự biết là Anh tự thắng là Hùng

    Nhà đại nho Vương Thông đời Tùy, có nói :
    _Tự biết là Anh tự thắng là Hùng
    Câu này nói lên được phong cách tu thân của nhà nho.
    Chữ Anh ở đây có thể xem như cùng nghĩa với Sáng.
    Cần nhớ rằng phải ‘‘tự thắng’’ chớ tự biết thì không đủ.

    XII) Biết mình là biết Vọng Tâm của mình

    Biết mình là biết Vọng Tâm của mình, nói theo Đại Thừa.
    Bởi vậy, ở trên, nói đến việc ‘‘tự thắng’’, phải tự thắng cái Vọng Tâm.

    XIII) Biết người biết ta trăm trận trăm thắng (Binh pháp)

    Binh pháp có nói :
    _Biết người biết ta trăm trận trăm thắng

    Có Sáng, có Khôn ( nhiều mưu mẹo) thì mới thắng được.

    Cần nhớ rằng Khôn ( nhiều mưu mẹo) trong việc dùng binh khác với Khôn ( nhiều mưu mẹo) trong cuộc đời. Rất nhiều vị tướng giỏi dùng binh, nhưng trong cuộc đời chẳng có Khôn.

    XIV) Biết mình, biết cuộc đời là bể khổ nên tu hành

    Khi ta biết cuộc đời là bể khổ và biết mình không thể tiếp tục cuộc đời bể khổ đó thì ta tu hành

    Vì trong hầu hết pháp môn nhà Phật, tu là sửa.
    Vì muốn sửa thì phải biết mình

    Nên, cũng như nhà nho Vương Thông, điều kiện tiên quyết để tu hành theo Phật là biết mình.

    Với Thiền-tông, thì phải thêm điều kiện khác. . .

    XV) Hiểu biết tin nhận Chân Tâm để tu theo Thiền-tông

    Muốn tu theo Thiền-tông thì phải hiểu biết tin nhận Chân Tâm.

    Mục đích Thiền-tông là Kiến Tánh là chứng ngộ Phật Tánh
    Kiến Tánh là chứng ngộ Phật Tánh
    Phật Tánh là Chân Tâm là Chân Như là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh . . .

    Cần biết rõ
    _Chân Tâm
    _Mục đích Thiền-tông
    mới có thể tu theo Thiền-tông

    Điều kiện tiên quyết để tu theo Thiền-tông là phải hiểu biết tin nhận Chân Tâm.

    Còn Biết mình , tức là biết Vọng Tâm của mình, có cần không ?
    _Thiền-tông là pháp môn Tối Thượng Thừa, việc ‘‘biết Vọng Tâm của mình’’ là quá dễ, Thiền-tông miễn nói đến !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s