Hiểu mình biết người

Nguyên-tác

PLEASE UNDERSTAND ME

character & temperament types
David Keirsey & Marilyn Bates
Del Mar, CA 1984

Permision granted by PNBC 1993

Bản dịch

HIỂU MÌNH BIẾT NGƯỜI

Hà-Hoàng-Tâm
cao-học hướng-dẫn tâm-lý

CHƯƠNG 1

bá nhân bá tính

1.- DẪN NHẬP (thay lời tựa)

Nếu tôi không muốn những điều bạn muốn như bạn muốn, xin đừng vội tìm cách bảo cho tôi biết rằng điều tôi muốn là sai quấy.

Hoặc nếu tôi tin người khác hơn tin bạn, ít nhất xin bạn cũng bình-tâm suy-nghĩ trước khi sửa đổi quan-điểm của tôi.

Hoặc trong cùng một hoàn-cảnh, tôi có nhiều hoặc ít cảm-xúc hơn bạn, xin đừng tìm cách bảo tôi phải có ít hoặc nhiều đúng mức bạn có.

Hoặc tôi hành-động hay không hành-động như cách thức bạn nghĩ phải hành-động, xin cứ để cho tôi được tự-do y như tôi muốn và nghĩ.

Ít nhất trong lúc này, tôi cũng xin bạn hiểu cho tôi. Bạn chỉ có thể hiểu tôi khi bạn hết không còn ý-nghĩ nào muốn biến-đổi tôi thành một con gần-gật hoặc chỉ là một bức phóng-ảnh của bạn.

‘TÔI’ đây có thể là người vợ người chồng, người con cái, người bạn bè, người đồng-nghiệp của bạn. Nếu bạn để cho tôi có được một số điều tôi ước muốn, cảm-xúc, tin-tưởng, hành-động, bạn đã cởi mở con người của bạn, để một ngày nào đó, bạn có thể nhận thấy rằng những đường lối của tôi có lẽ không sai lầm lắm, và có thể còn là đúng nữa, ít là đối với tôi. Bước đầu-tiên để bạn hiểu tôi là bạn phải tiếp-xúc liên-hệ với tôi. Như thế không có nghĩa là bạn chấp-nhận đường lối của tôi là đúng đối với bạn, nhưng là bạn không còn bực mình khó chịu coi tôi như đi sai đường lạc lối. Một khi đã hiểu tôi rồi, biết đâu bạn chẳng lại nhận thấy giá-trị sự-kiện thực-tế là tôi khác với bạn., và thay vì tìm cách thay đổi tôi, bạn lại giúp tôi bảo-trì và nuôi dưỡng những khác biệt đó.

Chủ-điểm cốt-yếu của cuốn sách này là người này khác người kia, và cho dù cố-gắng bao nhiêu cũng không thể thay đổi họ được. Mà cũng chẳng có lý-do gì để thay đổi họ nữa, bởi lẽ những khác biệt đó có lẽ là một điều tốt chứ chưa hẳn đã là một điều xấu.

Người này khác người kia trên những quan-điểm nền-tảng: khác nhau về ước muốn, động-lực, chủ-tâm, mục-đích, giá-trị, nhu-cầu, khuynh-hướng, bản-năng, năng-động. Thực ra không có quan-điểm nào nền-tảng hơn các quan-điểm vừa kể đó. Rồi người ta lại khác nhau về niềm tin, suy-tư, nghĩ-tưởng, quan-niệm, nhận-thức, hiểu biết, lĩnh-hội, lý-luận. Dĩ nhiên những cách thế hành-động và cảm-xúc bị chi-phối bởi những ước muốn và tin-tưởng cũng trở nên khác và thay đổi tận gốc tùy người.

Có rất nhiều khác biệt và chỉ cần quan-sát một chút là có thể nhận ra không khó khăn gì cả. Chính những thay đổi này trong hành-động và thái-độ làm cho mỗi người chúng ta có khuynh-hướng phản-ứng đại-khái như sau: nhìn thấy những người chung quanh chúng ta khác biệt với chúng ta, chúng ta phải kết-luận rằng những khác biệt tính tình cá-nhân này chỉ là những biểu-lộ tạm thời của dại dột, xấu xa, ngu-đần và bệnh hoạn. Nói cách khác, chúng ta có khuynh-hướng tự-nhiên coi những thay đổi tính tình này là thiếu sót đáng tiếc. Vì thế, chúng ta cảm thấy như có nhiệm-vụ phải sửa sai cho những người gần chúng ta. Kế-hoạch của chúng ta hình như là muốn làm sao cho những người gần chúng cũng trở nên giống như chúng ta vậy.

Cũng may là kế-hoạch đó chẳng bao giờ có thể thành sự thực hoàn toàn cả. Nhào nặn chạm trổ người khác làm cho họ trở nên giống y như chúng ta là một kế-hoạch phải thất-bại trước cả ngay khi bắt đầu. Không ai có thểâ thay đổi hình-thái của một ai, cho dù người ta có đòi hỏi nhiều cách gì đi chăng nữa. Hình-thái là một cái gì dính liền ăn sâu vào mỗi người, khó mà xóa bỏ đi được. Bắt mèo tự cắn đuôi cũng giống như bắt buộc một người phải thay đổi hình-thái, suy-tư, ước muốn khác đi. Đó là một việc không thể làm được. Nếu cần phải thay đổi, phải thay đổi suy-tư và ước muốn, chứ hình-thái không thể tự thay đổi.

Dĩ nhiên cũng có khi có thay đổi, nhưng đó là bóp méo vặn vẹo hình-thái tiềm-tàng. Bạn có thể đủ sức để bẻ gẫy răng nanh một con sư-tử, và bạn có được một con sư-tử mất răng, chứ bạn không thể có được một con mèo. Chúng ta có thể tìm cách thay đổi người vợ/chồng, con cái, hoặc bất cứ ai khác, nhưng hậu-quả chỉ cho thấy những vết thương trên một con người, chứ không phải là một con người mới đã được biến-hóa đổi thay.

Quan-niệm rằng tất cả mọi người đều giống nhau từ nền-tảng căn-bản, hình như là một quan-niệm của thế-kỷ 20 này. Có lẽ quan-niệm phát-sinh do các tư-tưởng liên-hệ tới các nền dân-chủ phát-triển ở các nước Aâu-Mỹ. Vì mọi người bình-đẳng, nên mọi người phải giống nhau từ nền-tảng căn-bản.

Sigmund Freud tin rằng tất cả chúng ta đều bị chi-phối bởi tính-dục (eros), và ông suy-luận rằng cho dù ai có những lý-tưởng cao-thượng, những ý-nghĩ tốt đẹp mấy đi chăng nữa, chung quy cũng chỉ là hình-thức ngụy-trang của tính-dục. Các bạn đồng-nghiệp và các đồ-đệä của ông đặt vấn-đề thắc-mắc, để rồi không đồng-ý với ông hoàn-toàn, nhưng đa-số vẫn duy-trì quan-niệm tính-dục là động-lực duy-nhất đó. Alfred Adler nhận thấy chúng ta chỉ đi tìm kiếm quyền-lực. H. Sullivan lại nhận chủ-đề cuối đời của Adler và coi liên-đới xã-hội như là ước-vọng căn-bản của bản-năng. Sau cùng các nhà hiện-sinh như Erich Fromm lại bắt chúng ta tìm kiếm bản-ngã của chính mình. Mỗi vị đều cho bản-năng là cứu-cánh của con người, và coi bản-năng là căn-bản nền-tảng.

Năm 1920 Carl Jung tỏ ra bất-đồng ý-kiến và cho rằng người này khác người kia trên quan-điểm nền-tảng, cho dù họ có thể có chung những bản-năng tổng-thể (archetypes) giống nhau thúc đẩy từ bên trong. Bản-năng này không quan-trọng hơn bản-năng kia. Điều quan-trọng là chúng ta lựa chọn và thích hành-động ra sao thôi. Điểm khác-biệt chính-yếu là tùy như chúng ta sẽ lựa chọn và thích hành-động ra sao, và chính vì thế mà chúng ta thuộc về những loại hoạt-động khác nhau. Ông đã sáng-chế các từ ‘loại hoạt-động’, hoặc ‘mẫu tâm-lý’.

Năm 1907 E. Adickes nói rằng nhân-loại có thể được chia thành 4 loại tùy theo 4 quan-niệm về thế-giới và nhân-sinh-quan: cuồng-tín, bất-tín, truyền-thống và sáng-tạo. Năm 1920 E. Kretschmer nói rằng con người hoạt-động bất-bình-thường là do tâm-tính giống như 4 loại của Adickes phân-tích tìm hiểu: mẫn-cảm (hyper-esthetic), bất-cảm (an-esthetic), đa-sầu (melancholic) và nhược-cảm (hypo-maniac). Như vậy có người sinh ra là đã quá nhạy cảm, bất-cảm, nghiêm-nghị hoặc cảm-xúc. Năm 1920 Adler cũng nói đến một quan-niệm tương-tự và chỉ cho biết có 4 mục-đích sai lầm mà những người có tâm-tính khác nhau thường theo đuổi. Đó là: danh-vọng, uy-quyền, phục-vụ và báo-oán. Cũng vào năm 1920 E. Spranger nói đến 4 giá-trị nhân-sinh thường làm cho người ta chia rẽ nhau: tôn-giáo, thuyết-lý, kinh-tế và nghệ-thuật. Như vậy đầu thế-kỷ 20 này đã chứng-kiến một cố-gắng ngắn ngủi để làm sống lại quan-niệm mà Hippocrates đã trình bày từ 25 thế-kỷ trước ở Hy-lạp. Ông cố-gắng tìm hiểu hành-động của con người và đã đề-cập tới 4 loại tính-tình, tương-ứng với những lối phân-loại của Adickes, Adler, Kretschmer và Spranger : vượng-huyết (sanguine), lãnh-đạm (phlegmatic), đa-sầu (melancholic), đa-cảm (choleric).

Vào năm 1930 những quan-niệm của Jung, Adickes, Kretschmer, Spranger và Hippocrates đều bị rơi vào quên lãng, và thay vào đó có các ngành tâm-lý năng-động (dynamic psychology), tâm-lý tác-hành (behovioral psychology). Thời-kỳ này người ta giải-thích rằng mọi hành-động là do một nguyên-do vô-thức, hoặc do kinh-nghiệm, hoặc có khi do cả hai. Quan-niệm về tính-tình hoàn toàn bị bỏ rơi vào quên-lãng.

Vào những năm 1950 tình-cờ quan-niệm tâm-lý về tính-tình được làm sống lại. Isabel Myers mở lại cuốn sách của Jung về các loại tâm-lý và cùng với bà mẹ là Katharine Briggs thiết-lập nên bảng phân-loại tính-tình theo Myers-Briggs). Đây là một dụng-cụ để nhận-định 16 loại tính-tình mẫu. Bảng phân-loại này được nhiều người dùng khắp nơi, nên người ta lại bắt đầu để ý đến việc nghiên-cứu về phân-loại tính-tình và tìm hiểu thêm lý-thuyết của Jung về các loại tâm-lý.Nhờ đó người ta cũng làm sống lại thuyết-lý cổ-truyền xa xưa về 4 mẫu tính-tình, bởi vì 16 loại của Myers-Briggs thích-hợp với 4 mẫu tính-tình của Hipporates, Adickes, Krestchmer, Spranger và Adler.

Bắt đầu từ giả-dụ như mọi người khác nhau về tính-tình để đi đến suy-đoán kết-luận rằng họ sinh ra là đã khác nhau rồi. Do đó, nếu chúng ta coi những khác biệt về tính-tình như là thiếu sót, lầm lẫn, thì quả là bắt bí nhau quá! Hiểu lầm người khác như vậy, chúng ta sẽ mất cơ-hội dự-đoán trước những gì họ sẽ hành-động. Cũng thế chúng ta không thể khen ngợi tưởng-thưởng ai, vì lời ca-ngợi đó có thể chỉ là vô-vị dửng dưng đối với người khác. ‘Bá nhân bá tính’ (trăm người, trăm tính): mỗi người một vẻ muời phân vẹn mười (truyện Kiều). Muốn thực-hiện được ý-nghĩa của câu nói trên, chúng ta phải cố-gắng thật nhiều mới có thể thực sự nhìn nhận được rằng khiếm-khuyết không phải là lỗi lầm.

Phần thưởng của lối nhận-định trên là bạn có thể nhìn thấy nơi vợ chồng, con cái, bạn hữu của bạn một con người KHÁC, một con người mà bạn chưa bao giờ tìm hiểu được hoàn toàn trọn vẹn, nhưng đồng-thời lại cũng là một con người bạn có thể bắt đầu khám-phá để khâm-phục với những ngạc-nhiên thích-thú. Cũng vậy bạn sẽ được người khác như con cái, cha mẹ, người trên, kẻ dưới, đồng-nghiệp, bạn-hữu, ca-ngợi thán-phục. Chỉ được lợi ích chứ không mất mát gì đâu mà phải lo sợ.

psycho

Thế nhưng, trước tiên bạn cần phải tìm hiểu chính mình bạn đã. Nếu bạn không nhìn nhận ra con người của chính mình bạn một cách chính-xác trung-thực, không có cách gì bạn có thể nhìn nhận ra con người của kẻ khác được. Cách tốt nhất hiện-thời là bạn hãy làm bảng phân-loại tính-tình theo Myers-Briggs bằng cách tham-dự một khóa hội-học, hoặc xin một người hướng-dẫn tâm-lý giúp bạn làm bảng phân-loại này. Trong khi chờ-đợi, mong bạn có thể đọc cuốn sách này một cách thích-thú. Nên nhớ cho rằng không có chuyện câu trả lời nào câu trả lời nào sai, bởi vì mỗi người mỗi khác, và cùng lắm thì cũng chỉ có 50-70% có loại tính-tình khác bạn, còn 50-30% kia là giống bạn mà.

Sau khi đã biết loại tính-tình của bạn rồi, xin bạn hãy coi phần nội-dung để tìm hiểu loại tính-tình của bạn, coi xem có thích-hợp với bạn không. Nếu bạn có chữ X có nghĩa là loại tính-tình hỗn-tạp, xin bạn đọc cả hai loại tương-ứng t.d. XSFJ, bạn phải đọc ESFJ và ISFJ. Bạn cũng có thể đọc loại tính-tình đối-lập với mình xem người ta có gì lạ không? Nếu bạn phân-biệt được nền-tảng 4 loại tính-tình căn-bản, bạn sẽ dễ nhận-định ra 16 loại tính-tình kia. Bạn không cần phải nhận xét tinh-vi hay kỹ-lưỡng, mà chỉ cần học hỏi làm quen một thời-gian, bạn sẽ nhận thấy những khác biệt của mỗi loại, và nhờ đó hiểu được từng loại tính-tình.

MBTI, MYERS-BRIGGS TYPE INDICATOR
Consulting Psychologists Press, Inc.
577 College Avenue, Palo Alto, CA 94306

2.- TRẮC-NGHIỆM TÌM HIỂU TÌNH TÌNH

để dễ tẩy xóa, nên dùng bút (viết) chì số 2 đánh dấu vào tờ trả lời

1.- Khi dự tiệc trà tiếp-tân, bạn thích
a.) giao-thiệp nói chuyện với nhiều người, kể cả những người chưa hề quen biết
b.) chỉ giao-thiệp nói chuyện với một số ít người, thường là những người đã quen

2.- Bạn có óc
a.) thực-tế hơn là lý-thuyết
b.) lý-thuyết hơn là thực-tế

3.- a.) ‘thả hồn mơ mộng theo mây gió’
b.) ‘ráng chịu trận để gắng sống gượng’ đàng nào tệ hơn?

4.- Bạn thích nghe theo
a.) lý-luận chinh-phục
b.) ngỏ lời tâm-tình

5.- Bạn dễ bị lôi cuốn khi người ta
a.) lý-luận chinh-phục bạn
b.) ngỏ lời thỏ thẻ tâm-tình với bạn

6.- Bạn thích làm việc
a.) theo thời-khắc-biểu, lịch-trình rõ ràng
b.) linh-động tùy hứng, tùy thời-cơ

7.- Bạn có khuynh-hướng lựa chọn
a.) cẩn-thận tính toán kỹ-lưỡng
b.) tùy theo ngẫu-hứng, tùy lúc

8.- Khi dự tiệc trà liên-hoan, bạn thường
a.) ở lại lâu, vì càng lâu càng thích-thú
b.) ra về sớm, vì càng lâu càng chán

9.- Bạn dễ làm quen thân-thiết với
a.) những người giầu tình-cảm
b.) những người giầu tưởng tượng

10.- Bạn hay để tâm chú ý đến những điều, những việc
a.) thực-tế, hiện-tại
b.) tương-lai, khả-hữu

11.- Khi nhận-định phán-đoán về người khác, bạn căn-cứ
a.) theo luật-lệ tổng-quát hơn là hoàn-cảnh cá-nhân
b.) theo hoàn-cảnh cá-nhân hơn là luật-lệ tổng-quát

12.- Khi tiếp-xúc với người khác, bạn có khuynh-hướng
a.) khách-quan không thiên-vị
b.) chủ-quan cảm-tình vị-nể

13.- Bạn nhận thấy chính mình
a.) giữ đúng giờ, theo đúng chương-trình
b.) dễ dàng co dãn, linh-động, thích-ứng

14.- Bạn cảm thấy bồn-chồn lo-lắng khi nhận thấy
a.) gần hết giờ mà chưa xong công việc đang làm
b.) đã hoàn-tất việc đã làm xong

15.- Trong nhóm bạn bè chơi với nhau
a.) bạn biết được diễn-tiến mọi sự
b.) bạn ít để ý đến những gì đang xẩy ra

16.- Bạn làm những công việc thường ngày
a.) một cách bình-thường như mọi người quen làm
b.) theo cách-thức đặc-biệt riêng của bạn

17.- Các văn-sĩ phải
a.) viết y như họ suy-nghĩ, và hiểu như lời họ viết
b.) diễn-tả cảm-tình ý-nghĩ bằng những lời hoa-mỹ

18.- Bạn muốn làm sao cho
a.) tư-tưởng thuần-nhất có đầu có đuôi
b.) mọi người hòa-đồng vui vẻ với nhau

19.- Bạn cảm thấy thoải-mái khi
a.) nhận-định theo suy-luận của lý-trí chung
b.) nhận-định theo giá-trị của vấn-đề riêng

20.- Việc gì bạn cũng muốn
a.) giải-quyết rõ ràng, quyết-định dứt-khoát
b.) để bỏ ngỏ đó không cần quyết-định

21.- Bạn cho rằng con người của bạn
a.) chín-chắn cương-quyết nhiều hơn
b.) dễ tính chịu chơi nhiều hơn

22.- Khi gọi điện-thoại (hoặc viết thư thăm hỏi ai)
a.) ít khi bạn đặt vấn-đề phải nói hết mọi sự
b.) phải nhẩm đi nhẩm lại những gì sẽ nói/viết

23.- Có những sự-kiện và sự việc thực-tế là
a.) đủ để chứng-minh hùng-hồn
b.) để làm sáng-tỏ nguyên-tắc

24.- Những người ước mơ hoài-bão nhiều
a.) thực ra chỉ làm phiền người khác
b.) là những người rất đáng khâm-phục

25.- Thông-thường, bạn là một con người
a.) bình-thản, lạnh-nhạt nhiều hơn
b.) niềm-nở, chào đón nhiều hơn

26.- a.) ‘bất-công vô-lý’
b.) ‘thẳng tay tàn-bạo’ đằng nào tệ hơn?

27.- Nên để cho công việc diễn-tiến
a.) sau khi lựa chọn tính toán cẩn-thận
b.) theo ngẫu-nhiên tình-cờ

28.- Bạn cảm thấy dễ chịu nhiều hơn
a.) sau khi đã mua sắm xong
b.) khi còn tự-do lựa chọn, muốn hay không

29.- Khi gặp ai, bạn cũng
a.) bắt đầu khơi-mào câu chuyện
b.) đợi người ta chào hỏi rồi mới nói

30.- Bạn nghĩ a.) ít khi nên đặt vấn-đề
hoặc b.) nên đặt vấn-đề thường-xuyên về lương-tri, lương-tâm của quần-chúng?

31.- Thường thường trẻ em không
a.) hoạt-động tích-cực giúp ích cho đời
b.) thực-tập trí tưởng-tượng cho đủ

32.- Khi đi đến một quyết-định nào, bạn thích
a.) dùng yếu-tố tiêu-chuẩn, chỉ-tiêu
b.) dùng tình-cảm, con tim con người

33.- Con người của bạn thì
a.) cương-quyết hơn dịu dàng
b.) dịu dàng hơn cương-quyết

34.- a.) ‘có tài tổ-chức, làm việc có phương-pháp’
b.) ‘có tài thích-ứng, biết huy-động người khác’ đằng nào đáng thán-phục hơn?

35.- Bạn đặt giá-trị nhiều vào
a.) những gì chắc chắn dứt-khoát
b.) những gì linh-động tự-do

36.- Giao-thiệp với những người mới, ngoài khuôn khổ cũ
a.) bạn thêm phấn-khởi và tăng thêm nghị-lực
b.) bạn tỏ ra do-dự và dè-dặt hơn

37.- Thường thường bạn là con người
a.) có óc thực-tế nhiều hơn
b.) giầu tưởng-tượng nhiều hơn

38.- Thường thường bạn muốn biết
a.) người khác có giúp ích gì cho bạn không?
b.) người khác tỏ ra thái-độ quan-niệm gì?

39.- Bạn cảm thấy đằng nào thoải-mái dễ chịu hơn?
a.) phải thảo-luận một vấn-đề cho thấu-đáo
b.) phải đi tới một quyết-định

40.- Bạn để cho
a.) trí óc
b.) con tim chế-ngự con người của bạn?

41.- Bạn cảm thấy thoải-mái dễ làm việc
a.) theo giao-kèo khế-ước
b.) theo đồng-ý tuỳ nghi

42.- Bạn có khuynh-hướng muốn mọi sự
a.) trật-tự lớp lang
b.) có sao cứ để vậy

43.- Bạn ưa thích
a.) chơi tình bạn sơ-giao (tiếp-xúc nhiều người nhưng ngắn ngủi, vội vàng)
b.) chơi tình bạn thâm-giao (ít người nhưng lâu dài)

44.- Bạn hành-động theo
a.) sự-kiện
b.) nguyên-tắc

45.- Bạn để tâm chú-ý đến
a.) khía cạnh sản-xuất tiêu-thụ
b.) phương-pháp điều-tra nghiên-cứu

46.- Ai là người đáng ca-tụng hơn?
a.) một người có lý-luận vững chắc
b.) một người có tình-cảm sâu-đậm

47.- Bạn nhận thấy bạn có giá-trị nhiều hơn vì bạn
a.) kiên-vững lập-trường
b.) tha-thiết dấn-thân

48.- Thường thường bạn thích có một lập-trường
a.) dứt-khoát không thay đổi
b.) tạm-thời, sơ-khởi

49.- Bạn cảm thấy thoải-mái dễ chịu
a.) sau khi đã quyết-định một điều gì
b.) trước khi quyết-định một việc

50.- Đối với người xa lạ chưa quen
a.) bạn bắt chuyệïn dễ dàng và nói lâu
b.) bạn chẳng có gì để nói cả

51.- Thường thường bạn tin tưởng vào
a.) kinh-nghiệm của chính mình
b.) trực-giác linh-cảm của mình

52.- Bạn cảm thấy bạn có bộ óc
a.) thực-tế nhiều hơn sáng-tạo
b.) sáng-tạo nhiều hơn thực-tế

53.- Ai là người đáng ca-ngợi hơn?
a.) người có lý-luận minh-bạch
b.) người có tâm-tình đậm-đà

54.- Bạn có khuynh-hướng
a.) vô-tư nhiều hơn
b.) thông-cảm nhiềâu hơn

55.- a.) ‘Phải sắp đặt mọi sự cho đâu vào ‘
b.) ‘Cứ để mặc kệ sự việc xẩy ra tới đâu hay tới đó’ đằng nào nên làm hơn?

56.- Trong liên-hệ tình-nghĩa, đại-để chuyện gì cũng nên
a.) thương-lượng dàn xếp với nhau
b.) cứ để hoàn-cảnh chi-phối, tình-cờ xẩy đến

57.- Khi điện-thoại reo (có người gõ cửa, bấm chuông)
a.) bạn vội vàng trả lời ngay
b.) bạn chờ mong cho có ai trả lời trước

58.- Bạn quý-trọng nơi chính mình
a.) óc thực-tế mạnh mẽ
b.) trí tưởng-tượng xuất-sắc

59.- Bạn chú-ý nhiều đến những gì là
a.) nền tảng căn-bản
b.) chi-tiết ngoại-cảnh phụ-thuộc

60.- Đằng nào lỗi lầm nguy-hiểm hơn?
a.) thiên về tình-cảm quá nhiều
b.) chủ-trương khách-quan quá nhiều

61.- Bạn nhận-định về chính mình là con ngườiø
a.) cứng đầu cứng cổ
b.) mềm lòng nể-vì dễ dàng

62.- Bạn thích làm việc trong một môi-trường
a.) có thứ-tự lớp lang đàng hoàng
b.) không cần sắp xếp thứ-tự

63.- Bạn là mộït con người
a.) theo tập-quán hơn là ngẫu-hứng
b.) theo ngẫu-hứng hơn là tập-quán

64.- Thường thường người khác dễ
a.) tiếp-xúc với bạn
b.) thấy bạn dè dặt đắn-đo

65.- Khi viết (nói), bạn thích viết (nói)
a.) chữ nào nghĩa đó phải hiểu theo nghĩa đen
b.) những lời bóng bẩy hoa-mỹ theo nghĩa bóng

66.- Bạn nhận thấy điều nào khó hơn?
a.) ‘hòa-đồng với người khác’
b.) ‘biết dùng người’

67.- Bạn mong ước cho mình được
a.) biết cách lý-luận minh-bạch hơn
b.) biết thông-cảm thành-thực hơn

68.- Bạn nhận thấy đằng nào nguy-hiểm hơn?
a.) không phân-biệt ất giáp trắng đen gì cả
b.) chỉ biết phê-bình chỉ-trích

69.- Việc gì bạn cũng thích
a.) sắp đặt chuẩn-bị đàng-hoàng đâu vào đó
b.) cứ để tùy thời-cơ ứng-biến, không hẹn mà hò

70.- Bạn có khuynh-hướng
a.) suy-nghĩ tính toán hơn là để tự-nhiên
b.) để tự-nhiên hơn là suy-nghĩ tính toán

16 MẪU TÍNH-TÌNH CĂN-BẢN do các thành-tố E/I, N/S, T/F, J/P tạo nên

INFP    ENFP    INFJ    ENFJ
ISFP    ESFP    ISFJ    ESFJ
INTP    ENTP    INTJ    ENTJ
ISTP    ESTP    ISTJ    ESTJ

Khi 2 thành-tố trong một cặp (đôi) bằng nhau, xin ghi chữ X, do đó sẽ có 32 mẫu tính-tình hỗn-tạp như sau:

XNTP     XNTJ     XNFP     XNFJ
XSTP     XSTJ     XSFP     XSFJ
EXTP     EXTJ     EXFP     EXFJ
IXTP     IXTJ     IXFP     IXFJ
ENXP     INXP     ENXJ     INXJ
ESXP     ISXP     ESXJ     ISXJ
ENTX     INTX     ENFX     INFX
ESTX     ISTX     ESFX     ISFX

Tùy theo câu bạn trả lời, xin ghi dấu (v) vào cột (a) hoặc (b).

Nên dùng bút (viết) chì số 2 để có thể dễ tẩy xóa và thay đổi.

Xin đọc kỹ câu hỏi và trả lời cho thật đúng ý của bạn.

* C là tổng-số của A và B cộng chung lại theo như mũi tên chỉ

* Xin khoanh tròn mẫu-tự nào có trị-số lớn hơn của mỗi cặp (đôi) chữ E-I, S-N, T-F, J-P.

* khi gặp cùng một trị-số, xin đọc một lần nữa cho chắc rồi ghi chữ X nếu vẫn giữ y như lần trước

* Loại tính-tình của bạn là những mẫu-tự đã khoanh tròn được ghép lại, từ phía tay trái qua phía tay phải.

Chúng tôi vẫn giữ y nguyên các ký-danh và từ của Anh-ngữ, vì tiện việc ghi chép và dễ nhớ hơn, trong khi chúng ta chưa có các từ chuyên-môn Việt-ngữ duy-nhất và chính-xác về khoa này.

About thomastanda

1. Management consulting : Working with many kinds of customers including both Vietnamese and foreigners, good experience, Business Process outsourcing, BPI : document templates as well as professional skills in some areas:Banking, Financial management, DD 2. Information technology: ERP, SCM, CRM, MIS, BI, DIS and Specific Industry Solutions, BSC, PBSC, TPS: More than 18 years implementing EUROJOB, iFlex -Core Banking, Microsoft Dynamics-Navision, Solomon, Axapta, especially BizForceOne® for outstanding successful customer implementations. 1997 – 1998: Pixibox, French company 1998 – 2000 Vietnam Bank for Agriculture and Rural 2. Development, HCM Branch : IS Manager and Accountant 2000 -> 2002 Eaten Asia Bank as IS MIS Project manager 2002 at Ben Thanh Brewery and Beverage 2004> 2006: Kimdosoft (Time shared Real Estate – Phú Hải resort) and ERP-with Navision implementation: Sanofy pharma. 2006-2007: BMI founder with MegasolutionCenter, USA 2007 -> now: BizForceOne Country manager with BFO Implementation: >30 projects with BizForceOne® Projects: Casumina JSC, TTA Group, DANAPHA, Vinpharco, Indico,CPC1, Duoc Hau Giang, Vimedimex, Danameco, Medochemie, VTJ, Vietceramic, PhuongNga, Samco… 2011 -> now: CENFORD : Center of Research and Development Association – Center of Asia R&D Association- VN Gorvement. Xem tài liệu powerpoint về hệ sinh thái quản trị (Business Management ecology system): http://www.authorstream.com/channels/thomastanda/Business-Management-Ecology/
This entry was posted in Management consulting. Bookmark the permalink.

18 Responses to Hiểu mình biết người

  1. CHƯƠNG 1

    bá nhân bá tính

    3.- BỐN CẶP KHUYNH-HƯỚNG
    Sau khi đã đọc phần diễn-tả loại tính-tình của bạn và một vài loại tính tình khác, bạn có thể đặt những câu hỏi như đâu là nền-tảng cho bảng chia loại tính-tình này cũng như bảng phân-loại của Myers-Briggs? Jung hiểu thế nào khi dùng những chữ hướng-ngoại (E: Extrovert), hướng nội (I: Introvert), cảm-giác (S: Sensation), trực-giác (N: iNtuition), suy-tư (T: Thinking), tâm-tình (F: Feeling), nhận-thức (P: Perceiving), phán-đoán (J: Judging).

    Trước hết chúng ta nên nhớ: Carl Jung không nói rằng một người chỉ là một trong các cặp tính-tình đó. Đúng ra, mỗi người có thể hướng-ngoại một phần và hướng-nội một phần, suy-tư một phần và tâm-tình một phần.

    Thứ đến, Jung không nói rằng người ta không thể thay đổi khuynh-hướng này qua khuynh-hướng khác. Với thời-gian, khuynh-hướng này có thể mạnh lên, khuynh-hướng kia có thể yếu đi.

    Điểm thứ ba: chưa có giải-quyết dứt-khoát về vấn-đề tranh-luận xem khuynh-hướng nào có từ khi bẩm-sinh, hay là phát-hiện tình-cờ thời thơ-ấu. Jung tin rằng đó là khuynh-hướng bẩm-sinh, cho dù ông không dám quả-quyết rõ ràng về vấn-đề này. Theo Jung, dù là bẩm-sinh hay do lựa chọn sau này, những hành-động đó phát-triển và trở nên mạnh mẽ hơn nhờ việc năng sử-dụng. T.d. một người năng sử-dụng trực-giác nhiều, trực-giác sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, một người dùng tâm-tình nhiều hơn, tâm-tình sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đảo lại, một người không dùng suy-tư và phán-đoán hoặc bất cứ khuynh-hướng nào khác, khuynh-hướng đó cũng không phát-triển được và giống như bị cùn, rỉ sét đi vậy. Đây là một giả-thuyết đáng được nghiên-cứu thêm.

    Dù sao điều quan-trọng về cách Jung phân-loại tính-tình là những lối diễn-tả cách-thức người ta hành-động khác biệt với nhau làm sao, chứ không phải việc chọn từ-ngữ đúng hay không đúng cho những khác biệt này.

    A.) HƯỚNG-NGOẠI và HƯỚNG-NỘI
    Người nào coi người khác như nguồn năng-lực của mình, có lẽ đã đi theo khuynh-hướng hướng-ngoại, còn người nào thích yên-tĩnh trầm-lặng, để lấy lại sinh-khí, có lẽ đã đi theo khuynh-hướng hướng-nội. Hướng-ngoại được viết tắt là E do chữ Extraversio (quay ra ngoài), còn hướng-nội được viết tắt là do chữ Introversio (quay vào trong) của các ngôn-ngữ gốc La-mã.

    1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
    Những người hướng-ngoại có nhu-cầu tiếp-xúc ngoại-giao, có vẻ như được thêm nghị-lực, được sung-súc khi có người khác liên-hệ. Họ thêm nghị-lực khi nói chuyện, chơi dỡn, làm việc với người khác. Người hướng-ngoại chỉ cảm thấy cô-đơn khi không được tiếp-xúc với người khác. Người hướng-ngoại cực-đoan vừa dự tiệc tiếp-tân này xong là y như đã sẵn sàng chuẩn-bị đi dự tiệc tiếp-tân khác. Máy phát điện của họ hầu như lúc nào cũng đầy nhiên-liệu tới mức tối-đa.

    Trong khi người hướng-ngoại dễ cởi mở xã-giao bao nhiêu thì người hướng-nội lại đóng khung gò bó bấy nhiêu. Họ chỉ muốn có chỗ đứng riêng, trong tâm-trí cũng như trong không-gian. Người hướng-nội hình như chỉ tìm được nghị-lực từ một nguồn suối khác với người hướng-ngoại. Họ theo đuổi những hoạt-động đơn-độc, làm việc một mình âm-thầm, đọc sách, suy-niệm, tham-dự vào các sinh-hoạt chỉ đòi hỏi một nhóm ít người. Đó là những cách người hướng-nội thêm nghị-lực. Vì thế, nếu như một người hướng-nội đi dự tiệc liên-hoan, chỉ sau một thời-gian ngắn, họ đã nghĩ là đủ rồi và tìm đủ mọi cách để kiếu-từ ra về. Đối với họ, như vậy là tham-dự đủ rồi. Họ không phải là loại người làm cho bữa tiệc trở nên chán ngán, nhưng chính họ chán ngán bữa tiệc.

    Người hướng-nội dễ cảm thấy lẻ loi đơn-độc khi ở giữa đám đông. Đám đông càng lớn, họ càng cảm thấy lẻ loi đơn-độc, nhất là khi có những người xa lạ, như khi ở phi-trường, bến xe đông người, hoặc ở đám tiệc có lắm người đi qua đi lại nhộn nhịp. Như thế không có nghĩa là người hướng-nội không thích có bạn bè chung quanh. Người hướng-nội cũng muốn có những liên-hệ với người này người khác, nhưng những liên-hệ đó làm cho họ mất nghị-lực, không giống như người hướng-ngoại. Người hướng-nôïi cần phải tìm cho được một chỗ yên-lặng thanh vắng để tìm lại nghị-lực, trong khi những nơi chốn như vậy sẽ làm cho người hướng-ngoại mất sức. Nếu người hướng-ngoại phải vào thư-viện để nghiên-cứu một vấn-đề gì, họ có thể phải huy-động ý-chí để cố-gắng không tìm dịp nói chuyện với người quản-thủ thư-viện.

    Đối với người hướng-nội thì hoàn toàn ngược lại: họ chỉ có thể tiếp-xúc với người khác trong khi họ chưa hết nghị-lực mà thôi. Một vấn-đề phải được đặt ra là: phải chăng người hướng-ngoại không có khuynh-hướng hướng nội, và người hướng-nội không có khuynh-hướng hướng-ngoại? Dĩ nhiên là có, tuy nhiên thái-độ và khuynh-hướng mãnh-liệt hơn, dù là hướng-nội hay hướng-ngoại, cũng sẽ có ảnh-hưởng nhiều hơn và khuynh-hướng kia sẽ bị giảm bớt đi. Thái-độ mãnh-liệt hơn sẽ được biểu-lộ nơi hành-vi ý-thức của con người và sẽ ảnh-hưởng tới mục-đích, ý-chí, hoạt-động của con người ý-thức. Khuynh-hướng yếu kém hơn chỉ có một phần nào trong ý-thức và chỉ ảnh-hưởng tới những gì tình-cờ ngẫu-nhiên xẩy đến. Khuynh-hướng yếu kém này sẽ không phát-triển được và ít có ảnh-hưởng trên tính tình của con người, và thường chỉ ở trong tình-trạng sơ-khai chớm nở thôi. Jung còn chủ-trương rằng nếu người mẹ bắt ép đứa con sống theo khuynh-hướng yếu kém đó, sau này khi đứa con lớn lên sẽ bị nhiều khó khăn trở ngại.

    Theo như nhận-định của K. Bradway, 1964 thì có chừng 75% người thuộc loại hướng-ngoại và 25% người thuộc loại hướng-nội. (Theo như chúng tôi nhận-định, có lẽ Việt-nam là 30%-40% hướng ngoại và 70%-60% hướng nội).Thực vậy nền văn-hóa Âu-Mỹ đề-cao con người cởi mở, xã-giao, biết cách ăn nói, có tinh-thần tập-thể, còn những ai thích yên lặng trầm-tĩnh thì bị coi như là khó tính, không thân-thiện. Người ta coi những hoạt-động đơn-độc chỉ là cách câu giờ, chờ-đợi những gì tốt đẹp hơn sẽ đến, và tốt đẹp đây có nghĩa là giao-tiếp liên-hệ giữa người với người. Chính vì thế người hướng-nội bị coi như chim lạc đàn trong một đám đông chỉ thích xã-giao và tiếp-xúc liên-hệ. Một bà mẹ đã phản-đối lời nhận xét coi cô con gái cưng của bà là người hướng-nội như sau: “Nó không phải là người hướng-nội, vì nó dễ thương lắm”. Con người hướng-nội cho biết rằng đa-số trong mẫu người này nhận thấy họ cần phải tiếp-xúc xã-giao nhiều hơn, nhưng vì họ không thể tự mình làm được như vậy , nên muôn đời họ vẫn chỉ là những con chim chưa ra ràng trong xã-hội muôn mầu, họ không bao giờ đủ lông đủ cánh để bay bổng tới trời cao của người khác. Hậu-quả tất-nhiên là ít khi họ dành để cho họ đủ chỗ để thở mà không cảm thấy mặc-cảm tội lỗi một chút.

    2.- những chữ mồi quan-trọng
    Chữ quan-trọng nhất để phân-biệt người hướng-ngoại là giao-thiệp tiếp-xúc, người hướng-nội là đóng kín một mình. Điều hấp-dẫn nhất cho người hướng-ngoại là chiều ngang, đi tới người khác, cho người hướng-nội là chiều dọc, đi lên cao hoặc đào sâu một vấn-đề. Người hướng-ngoại quan-niệm những gì bên ngoài, ngoại-tại, người hướng-nội quan-niệm những gì bên trong, nội-tại. Người hướng-ngoại để ý tới lượng, người hướng-nội để ý tới phẩm. Người hướng-ngoại để ý tới liên-hệ, phản-ứng, người hướng-nội để ý đến chủ-điểm, mục-đích. Người hướng-ngoại muốn có càng nhiều giao-tiếp liên-hệ càng tốt, người hướng-nội hạn-chế tối-thiểu những xã-giao tiếp-xúc. Người hướng-ngoại sử-dụng nghị-lực, người hướng-nội tìm cách tiết-kiệm. Người hướng-ngoại thích để ý đến những gì xẩy ra bên ngoài, người hướng-nội chú ý tới những gì diễn-tiến bên trong.

    B.) TRỰC-GIÁC và CẢM-GIÁC
    Người có khuynh-hướng thiên về cảm-giác tự nhận mình có óc thực-tế, trong khi đó người có khuynh-hướng thiên về trực-giác coi mình có nhiều sáng-tạo. Theo như Bradway nhận-định năm 1964, có 75% thiên về cảm-giác (viết tắt S: sensatio), và 25% thiên về trực-giác (viết tắt N: intuitio)

    1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
    Hướng-ngoại và hướng-nội là hai khuynh-hướng quan-trọng giúp chúng ta hiểu những khác-biệt giữa ta với người, nhất là những người sống chung quanh, nhưng trực-giác và cảm-giác còn quan-trọng hơn nhiều, vì đây là những đường lối khác-biệt về cách nhận-định và suy-tư. Đường lối trực-giác và cảm-giác là nguồn của đa-số những hiểu lầm, ngộ-nhận, hiểu xấu, ý xấu, nghĩ xấu. Sự khác-biệt giữa cảm-giác và trực-giác tạo nên khoảng cách lớn lao giữa người với người. Thực vậy, Kretschmer nhận thấy sự khác-biệt này quá lớn lao, nên đã phân-chia tính-tình thành hai loại bộc-trực (schizothyme) và mẫn-cảm (cyclothyme). Người bộc-trực có thể là nhạy cảm hoặc lạnh cảm, ý-thức hoặc vô-ý-thức, còn người mẫn-cãm có thể là dễ vui dễ buồn, lạc-quan hoặc bi-quan. Ông cho đó là nền-tảng của những khác-biệt về tính-tình, còn Jung lại chỉ coi đó là 1 trong 4 khuynh-hướng khác biệt nền-tảng.

    Người có khuynh-hướng cảm-giác muốn có sự-kiện đàng-hoàng, tin-tưởng và ghi nhớ các sự việc đã xẩy ra. Họ tin vào kinh-nghiệm, và hiểu biết nhờ kinh-nghiệm lịch-sử, kinh-nghiệm cá-nhân cũng như kinh-nghiệm quần-chúng. Con người của họ vừa được mô-tả như dính liền với trái đất, đi sát với thực-tế, gần đất và xa trời. Khi con người cảm-giác nói chuyện, họ thích nói về kinh-nghiệm, về quá-khứ, t.d. khi phỏng-vấn người xin việc, họ sẽ hỏi đầy đủ chi-tiết về kinh-nghiệm việc làm trong quá-khứ. Đối với họ, đây thật là một điều quan-trọng, vì quá-khứ làm việc tốt sẽ bảo-đảm cho tương-lai biết làm việc kết-quả. Ngược lại, người trực-giác không quan-tâm đến dĩ-vãng của người xin việc, nhưng lại muốn cái nhìn về tương-lai, hướng đi mới của người muốn làm việc, xem người này có thể làm gì để giúp cho hãng mở mang, cho công việc phát-triển, cho giải-quyết một vấn-đề.

    Người cảm-giác để ý đến công việc hiện-tại và tìm cách đối-phó. Họ đặt trọng-tâm vào việc đang hoặc sẽ xẩy ra, hơn là lo lắng về những gì biết đâu có thể xẩy ra trong tương-lai. Họ sống trong thực-tế, và họ không muốn làm một công việc gì coi như vô-nghĩa. Họ nhận xét chi-tiết rất tinh-vi chính-xác sâu-sắc, có lẽ bởi vì khi họ để ý tới một cái gì, con mắt của họ thường để ý đến một vài chi-tiết đặc-biệt. Người trực-giác thì lại khác: khi họ tìm hiểu một hoàn-cảnh nào, họ nhìn ngắm, đắn-đo, suy-nghĩ, tìm tòi để xem có những gì liên-hệ tới điều mà họ đang để ý, chứ không màng tới những chi-tiết như người cảm-giác thường nhận ra.

    Người trực-giác dùng loại ngôn-từ không có ảnh-hưởng gì tới người cảm-giác. Người trực-giác thích nói những lời bóng bẩy, dùng những hình ảnh sống động. Họ hay thích mơ mộng, ngâm thơ, yêu giả-tưởng và ảo-giác, coi việc nghiên-cứu chiêm-bao là thú-vị. Người trực-giác hành-động y như là một người từ tinh-tú xa xôi, như một phi-hành-gia trong không-gian đi thám-hiểm những gì vượt quá hiện-tại và quá-khứ. Trí tưởng-tượng của họ bị thu hút bởi những gì có thể xẩy ra trong tương-lai. Mà bởi lẽ đầu óc của họ chỉ thích đi trên mây, dạo trên cung trăng, nên người trực-giác dễ bị sai lầm lớn về các sự-kiện hơn là người cảm-giác, vì người cảm-giác để ý nhiều hơn về những gì xẩy ra cho mình. Người trực-giác nhìn thấy cuộc sống chạy vòng quanh, vượt qua núi đồi, xa hơn nhãn-giới chân trời chúng ta đang sống. Họ có thể ngồi hằng giờ hằng ngày để suy-nghĩ về những gì có thể xẩy ra. Họ hành-động theo chiều hướng tương-lai, biết nhìn đường cong hơn là đường thẳng, và biết được cả cõi vô-thức nữa. Người trực-giác có khi nhận thấy tư-tưởng đến với họ như một hệ-thống toàn bộ, mà họ không thể giải-thích nổi tại sao họ biết được như vậy. Đây là những viễn-tượng, những trực-giác, những sáng-kiến ta gặp thấy trong bất cứ một lãnh-vực nào như kỹ-thuật, khoa-học, toán, triết-lý, nghệ-thuật, và sinh-hoạt xã-hội.

    Dĩ nhiên người cảm-giác cũng có trực-giác và sáng-kiến, nhưng họ không để ý tới bao nhiêu, và qua nhiều năm không sử-dụng hoặc coi thường, trực-giác của họ chỉ còn là một tiếng kêu trống rỗng. Hậu-quả là tiếng nói âm-thầm của trực-giác bị giảm-thiểu, không còn nghe thấy được nữa. Rút cục người trực-giác giầu tưởng-tượng dễ quên đi thực-tại của cuộc sống và khó thích-ứng với những thực-tế chung quanh họ.

    Người trực-giác sống trong chờ đợi, phỏng-đoán. Đối với họ, cái gì hiện-tại cũng có thể khác hoặc khá hơn, và hiện-tại chỉ là một chỗ dừng. Do đó người trực-giác thường cảm thấy bực tức một cách vô-lý, áy náy bồn chồn một cách vu vơ. Hình như họ khó chịu vì thực-tại, nên họ chỉ tìm cách thay đổi hoặc cải-tiến thực-tại.

    Người trực-giác có thể chạy từ hoạt-động này tới hoạt-động khác mà có khi rút cục chẳng hoàn-tất được hoạt-động nào cả. Năm 1923, Jung mô-tả người trực-giác như một nhà nông trồng lúa nơi cánh đồng này rồi chạy tới cánh đồng khác, chẳng chịu đợi cho lúa trổ bông nẩy hạt. Thay vì chờ đợi công khó của họ thành-tựu, họ vội vã lên đường đi tìm một cánh đồng mới để khởi-sự nữa, trong khi đó người khác đến đúng lúc có thể được hưởng hoa mầu của sáng-kiến người trực-giác đã dầy công gieo rắc vun trồng. Vì thế đối với người cảm-giác, người trực-giác bị coi như là hay thay đổi, không thực-tế, không thiết-thực. Đảo lại có lúc người trực-giác coi người cảm-giác như trì-trệ chậm chạp, không biết hướng về tương-lai, không biết tạo nên cơ-hội thuận-tiện.

    Sự khác biệt giữa người trực-giác và người cảm-giác trở nên rõ ràng nhất trong cách thức nuôi con. Nếu cả hai cha mẹ đều là người trực-giác, họ sẽ khó chịu khi thấy đứa con không chịu mơ mộng, tưởng-tượng, thả hồn theo mây gió, hoặc không thích nghe chuyện thần-thoại. Cha mẹ trực-giác chỉ muốn cho con cái tìm cách phát-triển óc tưởng-tượng hằng ngày. Đối với người trực-giác cực-đoan, không có gì quý giá hơn là óc tưởng-tượng phong-phú.

    Ngược lại, hai cha mẹ cảm-giác sẽ lo lắng khi thấy đứa con chỉ mơ mộng viển vông mất thời giờ. Họ tin rằng mỗi người phải trở nên hữu-dụng, khi còn trẻ phải dùng thời-giờ chơi thể-thao, hoạt-động ngoài trời, khi lớn lên phải làm việc.

    2.- những chữ mồi quan-trọng
    Nếu lắng nghe lời mỗi người nói, chữ mỗi người lựa chọn, ta có thể nhận thấy tính-tình khác biệt. Mỗi người đều để biểu-lộ phát-hiện ra một hệ-thống giá-trị qua chữ viết và lời nói, giọng nói điệu-bộ nhấn mạnh.

    Người cảm-giác thích dùng những chữ kinh-nghiệm, hay nói đến túi khôn của người xưa, và muốn tỏ ra óc thực-tế, trong khi người trực-giác nhấn-mạnh đến sáng-kiến, cái nhìn về tương-lai, và có tính cách suy-tư. Người cảm-giác lệ-thuộc vào việc làm, kinh-nghiệm, còn người trực-giác tùy-thuộc vào sáng-tạo, ý-kiến mới. Người cảm-giác thích dùng những chữ như hiện-tại, thực-tế, có lý, sự thực, hữu-dụng, còn người trực-giác thích dùng những chữ như có thể, hấp-dẫn, sáng-tạo, giầu tưởng-tượng, nhiều khả-năng.

    C.) SUY-TƯ và TÂM-TÌNH
    Jung gọi là loại suy-tư (T viết tắt của chữ Thinking), những người dùng tiêu-chuẩn khách-quan vô-tư khi phải lựa chọn quyết-định, còn những người theo chủ-quan và ý riêng mình là loại tâm-tình (F viết tắt của chữ Feeling). Cả hai khuynh-hướng lựa chọn quyết-định đều cần-thiết và hữu-ích. Vấn-đề chỉ là người này thích thế này, người kia ưng kiểu kia. Có người thích nhận-định một cách khách-quan, vô-tư, và khó chịu với những ý-kiến riêng tư. Người khác lại thích những phán-đoán theo cảm-tình, thiên-kiến, và không quan-tâm bao nhiêu tới giá-trị của lý-luận. Người tâm-tình quá-khích sẽ không hài-lòng với những lựa chọn tựa theo lề-luật, vì coi như thế là khắt khe, dã-man, vô-nhân-đạo. Người suy-tư cực-đoan sẽ coi những quyết-định tựa theo tình cảm là hời hợt, giả-trá, mau qua. Thực ra ai cũng có thể quyết-định theo suy-tư hoặc tâm-tình, nhưng vấn-đề chỉ là thích hoặc không thích cách này hoặc cách khác, lúc này lúc kia thôi.

    1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
    Đa-số phái nữ (chừng 60 trong 100 người) cho biết họ thích quyết-định theo ý-muốn cá-nhân, theo tâm-tình: họ nghiêng về phía ‘tình’ hơn ‘lý’. Ảnh-hưởng văn-hóa mỗi dân-tộc lại có thể khác hơn nữa. (Người Việt-nam có lẽ sẽ nhiều ‘tình’ hơn ‘lý’: có thể tới 70%-80%). Đa-số phái nam (chừng 60 trong 100 người) cho biết họ thích quyết-định theo nguyên-tắc, luật-lệ, một cách khách-quan và hữu-lý. Như thế phái nam nghiêng về phía ‘lý’ hơn, và phái nữ nghiêng về phía ‘tình’ hơn, cho dù sự khác biệt phái-tính này không rõ ràng bao nhiêu, và khó có thể nhờ đó mà đoán trước hành-động của mỗi người. Hai khuynh-hướng suy-tư và tâm-tình có mang mầu sắc phái-tính nam nữ (Myers, 1963), và chia nhau đồng đều mỗi bên một nửa (Bradway, 1964).

    Người tâm-tình có lúc cho rằng loại người suy-tư là cứng dắn, chai đá, lạnh nhạt, lì lợm, xa cách, chỉ biết suy-tư trong đầu óc, trên sách vở mà không biết hiền-hòa từ-tốn. Trong khi đó người suy-tư lại cho rằng người tâm-tình dễ yếu đuối, mềm lòng, thiếu ý-chí nghị-lực, không biết suy-nghĩ chín chắn, không hiểu căn-bản luận-lý, mau nước mắt. Hiểu lầm sẽ xẩy đến khi một người tâm-tình và một người suy-tư cùng phải quyết-định ngược lại với thói quen của họ, làm cho họ khó chịu., t.d. người vợ tâm-tình muốn người chồng suy-tư phải bộc-lộ tâm-sự tình-cảm của chàng, trong khi chàng lại ước sao cho nàng biết suy-luận có lý một chút. Dĩ nhiên chẳng có cách lựa chọn nào đáng chê cả.

    Người tâm-tình có lợi-điểm hơn người suy-tư trong việc chấp-nhận và phát-triển những gì họ không thích. Học-đường là môi-trường thích-hợp phát-triển khả-năng suy-tư hơn là biểu-lộ tâm-tình, nên chi người tâm-tình đi học có cơ-hội làm triển nở khả-năng suy-tư của họ, còn người suy-tư đi học ít có cơ-hội làm triển nở lãnh-vực tâm-tình, do đó nên lãnh-vực tâm-tình của họ vẫn chỉ ở giai-đoạn phôi-thai.

    Đôi khi người tâm-tình coi bộ ra vẻ nhiều tình-cảm dễ xúc-động hơn người suy-tư, nhưng thực-tế không hoàn toàn đúng như vậy. Cả hai loại người đều có thể dạt dào tình-cảm và tâm-tình chứa chan.

    Người tâm-tình có khuynh-hướng biểu-lộ tình-cảm của mình ra bên ngoài và người ta có thể coi họ như con người thân-mật, đầy tình-cảm đậm đà hơn người suy-tư. Khi một người tâm-tình xúc-động, như khi tay họ toát ra mồ hôi, khi họ đổi sắc mặt, khi thân mình rung động, khi tim đập mạnh hơn và nhanh hơn, hoặc khi họ không còn làm chủ được con người của chính mình nữa, người khác dễ bị ảnh-hưởng lây. Những rung động tình-cảm của người tâm-tình có phản-ứng dây chuyền và tạo nên ảnh-hưởng nơi người khác. Còn khi người suy-tư xúc-động, ít thấy gì thay đổi nơi con người của họ, và người khác cũng khó nhận xét được. Chính vì thế mà người suy-tư được mô-tả là ‘lạnh như tiền’, ‘khô như ngói’, ‘cứng như đá’, cho dù trên thực-tế họ cũng có thể có những tâm-tình sâu-đậm y như người tâm-tình. Có khi người suy-tư cảm thấy xấu-hổ vì có cảm-xúc mãnh-liệt, trong khi đó người tâm-tình có khi lại lấy làm vui vì cảm-xúc tràn trề.

    Trong liên-hệ giao-tiếp giữa người với người, khi phải lựa chọn quyết-định, sự khác biệt giữa đường lối suy-tư và đường lối tâm-tình không tạo nên nhiều khó khăn lắm, một khi đã hiểu biết và nhận chân giá-trị của mỗi đường lối. Thực ra hai người với hai đường lối khác biệt về suy-tư và tâm-tình này có thể bổ-túc cho nhau hơn là những cặp khuynh-hướng khác, t.d. hướng-nội và hướng-ngoại, trực-giác và cảm-giác dễ tạo nên nhiều hiểu lầm hơn là bổ-túc cho nhau. Người tâm-tình cần người suy-tư để nhìn thấy một đường lối mới, và đảo lại người suy-tư cần người tâm-tình để hiểu thêm một cách-thức khác. Một khi người tâm-tình hiểu được rằng người suy-tư cũng có những tâm-tình sâu xa, cho dù họ không biểu lộ ra, và một khi người suy-tư biết cho rằng người tâm-tình cũng có khả-năng lý-luận rành mạch, cho dù họ không diễn-tả ra được bằng ngôn-từ chính-xác, lý-do để hiểu lầm sẽ không còn nữa.

    2. những chữ mồi quan-trọng
    Người suy-tư T thích quyết định theo đường lối vô-tư, thích dùng những chữ như khách-quan, nguyên-tắc, chính-sách, chủ-trương, luật-lệ, tiêu-chuẩn, cương-quyết; trong khi người tâm-tình F muốn lựa chọn theo sở-thích riêng tư cá-nhân, lại thích dùng những chữ như chủ-quan, giá-trị, trường-hợp gia-giảm, môi-trường, hoàn-cảnh, xã-hội, cộng-đồng, tình-thân, thuyết-phục. Khi đối-phó với người khác, với dự-án kế-hoạch, người suy-tư T có khuynh-hướng dùng phương-pháp tổng-luận, còn người tâm-tình F lại dùng phương-pháp cá-biệt. Người suy-tư thích những chữ công-lý, phê-bình, tiêu-chuẩn, chỉ-tiêu, phân-tích; còn người tâm-tình ưa dùng những chữ nhân-đạo, hoà-hợp, tốt xấu, thiện-cảm, quý-trọng, dấn-thân. Người suy-tư đặt ưu-tiên vào các tiêu-chuẩn khách-quan, và có tài lý-luận, thuyết-phục người khác theo quan-điểm của họ, bằng lý-luận hơn là tình-cảm. Người tâm-tình có tài thuyết-phục người khác và lựa chọn quyết-định vì ảnh-hưởng của người chung quanh.

    D.) PHÁN-ĐOÁN và TRI-THỨC
    Vấn-đề: muốn mọi sự kết-thúc dàn xếp đàng hoàng hay muốn để linh-động tuỳ nghi?

    Người nào muốn mọi sự kết-thúc dàn xếp đâu vào đó hơn là để tuỳ nghi linh-động, chính là mẫu người thuộc loại phán-đoán J, còn người nào có khuynh-hướng để mọi sự tuỳ nghi linh-động, chính là mẫu người thuộc loại tri-thức P. Người phán-đoán J chỉ muốn làm sao để đưa vấn-đề tới kết-thúc, và chỉ khi nào quyết-định xong đâu vào đó rồi họ mới cảm thấy yên lòng. Ngược lại, người tri-giác cảm thấy ái-ngại mỗi khi phải quyết-định một điều gì, vì họ chỉ muốn sao cho thu thập được thật nhiều sự-kiện, càng nhiều càng tốt. Do đó khi người tri-giác quyết-định một điều gì, họ tỏ ra bối rối, do dự, khó chịu, còn người phán-đoán cảm thấy thoải mái an-tâm.

    Người phán-đoán có khuynh-hướng thiết-lập thời-biểu, ấn-định giờ giấc, và họ muốn mọi người phải làm y như vậy. Người tri-giác có khuynh-hướng coi thời-biểu y như một chiếc đồng-hồ báo thức, reo hay không reo là tuỳ người ta có ấn nút hay không, và họ coi thời-biểu chỉ là để nhắc nhở ta phải làm việc hơn là bắt buộc phải hoàn-tất việc đó.

    Ta có thể quan-sát một hiện-tượng kỳ-lạ này là khi nào người tri-giác P có nhiệm-vụ giữ đúng hẹn với người trên, họ không tin được người khác giữ đúng giờ, nên họ thường hẹn sớm hơn giờ họ tính toán. Trong khi đó, người phán-đoán J chỉ bảo cho người khác biết giờ khắc đàng hoàng và muốn mọi người phải theo đúng giờ khắc đó một cách nghiêm-chỉnh.

    Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác-biệt giữa người phán-đoán và người tri-thức trong trường-hợp cực-đoan. Rất tiếc là Jung không ấn-dịnh rõ ý-nghĩa của mấy chữ phán-đoán và tri-thức. Phán-đoán có nghĩa là có một quyết-định, một kết-luận, còn tri-thức có nghĩa là biết, là ý-thức. Định-nghĩa như trên chỉ là để tránh né một số quan-niệm mơ hồ về phán-đoán và tri-thức. Rất may là Jung có những nhận xét tinh-vi về cách hành-động của hai loại tính tình này mà không bị lệ-thuộc về đường lối suy-tư của ông, nên chúng ta có thể phát-hiện và mô-tả hai loại tính tình này mà không bị chi-phối vì quan-niệm của ông.

    1.- nguồn gốc gây hiểu lầm
    Bradway, 1964, cho biết hai loại tính tình này phân-chia đồng đều mỗi bên một nửa. Chính vì vậy mà dễ gây nên bực tức khó chịu: người phán-đoán J muốn đi tới quyết-định, còn người tri-thức P cứ dùng dằng trì-hoãn, chẳng chịu dứt-khoát. Ngoài ra, những chữ phán-đoán và tri-thức dễ gây ngộ nhận. Phán-đoán dễ đi đôi với thiên-kiến, tri-thức dễ được coi là tri-giác. Thực ra, người phán-đoán cũng có thể chẳng có nhiều thiên-kiến hơn gì người tri-thức, và người tri-thức cũng chưa chắc đã có nhiều tri-giác hơn người phán-đoán. Để tránh ngộ-nhận, nên hiểu phán-đoán là khuynh-hướng kết-thúc một câu chuyện, kết-luận một vấn-đề, còn tri-thức là khuynh-hướng muốn biết rõ hơn, muốn cảm được nhiều hơn.

    Nhìn bề ngoài, tất cả các mẫu người phán-đoán, dù hướng-nội hay hướng-ngoại, dù suy-tư hay tâm-tình, dù trực-giác hay cảm-giác, cũng có một thái-độ làm việc và nghỉ ngơi như nhau, khác hẳn với loại người tri-thức. Người phán-đoán hình như coi hành-động là luật tối-thượng, và muốn ai cũng phải hành-động, làm việc rồi mới được nghỉ ngơi giải-trí. Diện bên ngoài này có ảnh-hưởng rõ rệt trên người phán-đoán: làm tất cả những gì có thể để cho xong một công việc. Người phán-đoán chuẩn-bị sửa soạn mọi sự đầy đủ, bảo-toàn duy-trì cẩn-thận, và thu quén quét dọn đàng-hoàng vì họ coi như thế là cần-thiết.

    Người tri-thức không hành-động như vậy. Dù là trực-giác hay cảm-giác, suy-tư hay tâm-tình, hướng-nội hay hướng-ngoại, người tri-thức hình như theo triết-lý chữ nhàn: họ chịu chơi hơn là nghiêm-trang đứng đắn. Người tri-giác không chịu cố-gắng làm những gì ít liên-quan trực-tiếp tới hành-động hiện-thời: họ ngại chuẩn-bị sửa soạn, bảo-toàn duy-trì, hoặc thu quén dọn dẹp. Cùng lắm họ sẽ kiếm người khác làm thay cho họ. Người tri-thức muốn tìm thấy cái thú của làm việc. Có thể nói rằng người tri-thức làm việc để tìm cái thú, lợi trong công việc, còn người phán-đoán làm việc để nhằm tới kết-quả của công việc.

    Hai người tri-thức và phán-đoán nếu làm việc chung sẽ phê-bình chỉ-trích nhau rất nhiều. Người phán-đoán có thể mô-tả người tri-giác là không cương-quyết, chậm chạp, lần lữa nay mai, không có chương-trình mục-đích, hay chống-đối, phê-bình, lý-thuyết suông, không theo quyết-định chung. Người tri-thức có khi không tỏ ra kiên-nhẫn được với người phán-đoán, vì họ nhận thấy người phán-đoán có khuynh-hướng đi tới kết-luận vội vàng, cẩu-thả, làm cho chính họ, ngươì tri-thức bị hối-thúc và áp-lực.

    Người tri-thức có khi lại cho rằng người phán-đoán hay quyết-định cấp-tốc, bị áp-lực nào đó rồi hối-thúc người khác, chỉ biết đạt cho được chỉ-tiêu mà không để ý tới yếu-tố nào khác, có thái-độ cứng nhắc khó thay đổi, độc-tài thiên-kiến, đặt kế-hoạch và quyết-định vội vàng. Thông thường nếu nghiên-cứu cẩn-thận sự khác biệt về đường lối tri-thức và phán-đoán, người ta có thể phá tan cả những khác biệt khác nữa. Phần nhiều những khác biệt này dễ làm cho người ta phấn-khởi thích-thú, và chịu khó tìm hiểu một chút, ai cũng có thể thích-ứng với người khác được.

    2.- những chữ mồi quan-trọng
    Người phán-đoán thích những chữ : quyết-định, ổn-thoả, cố-định, dự-tính, chuẩn-bị, kết-thúc, đặt kế-hoạch, hoàn-tất, khẩn-trương, cấp-tốc, hạn chót, ra tay.

    Người tri-thức thích những chữ: chờ xem, tìm hiểu thêm, linh-động, tuỳ nghi thích-ứng, để chân trời rộng mở, cứ tiếp-tục tìm hiểu, kế-hoạch tạm thời, còn nước còn tát, ngày dài tháng rộng, biết đâu bất ngờ, đâu cần phải hẹn, chờ xem.

    Nói tóm lại, 4 cặp khác-biệt về tính tình có thể được thu gọn lại như sau: (xin đọc thêm trang 275-276)

    E (Mỹ 75%; Việt 40%) I (Mỹ 25%; Việt 60%)
    ngoại-giao đặt giới-hạn
    hòa-đồng tập-trung một nơi
    hướng ngoại hướng nội
    trải rộng, chiều rộng đi sâu, chiều sâu
    hướng ngoại-diện hướng nội-tâm
    nhiều bạn bè liên-hệ bạn bè liên-hệ giới-hạn
    tận-dụng nghị-lực tiết-kiệm nghị-lực
    thích tổ-chức bề ngoài chú ý đến phản-ứng bên trong

    S (75% chung) N (25% chung)
    kinh-nghiệm suy-đoán
    quá-khứ tương-lai
    thực-tế đoán chừng
    làm việc chịu khó cảm-hứng sáng-kiến
    hiện-tại, thực-tế khả-hữu, có thể
    thực-dụng, thông-thường mơ mộng viển vông
    có ích, công-hiệu thần-tiên, tưởng-tượng
    sự-kiện thực chuyện giả-tưởng
    hữu-ích, thực-nghiệm độc-đáo, sáng-tạo
    có nghĩa lý giầu tưởng-tượng

    T (Mỹ: 50%; Việt: 25%) F (Mỹ: 50%; Việt: 75%)
    khách-quan chủ-quan
    nguyên-tắc giá-trị
    chính-sách giá-trị xã-hội
    luật-lệ trường-hợp gia-giảm
    theo tiêu-chuẩn theo tình-thân
    cương-quyết chinh-phục
    vô-tư tâm-tình
    công-lý nhân-đạo
    chia loại hòa-hợp
    chỉ-tiêu tốt hoặc xấu
    phê-bình mộ mến
    phân-tích thiện-cảm
    chia phần nhiệt-tâm

    J (50% chung) P (50% chung)
    ổn-thỏa chần-chờ
    dứt-khoát tìm hiểu thêm
    cố-định linh-động
    kế-hoạch dự-liệu trước tùy-nghi thích-ứng
    điều-hành nếp sống để cuộc sống diễn-tiến
    kết-thúc để bỏ ngỏ
    đặt kế-hoạch tìm kiếm cơ-hội
    dự-trù, hoạch-định để lòng thòng
    quyết-định đợi tình-cờ ngẫu-nhiên
    hoàn-tất tạm thời
    đi đến kết-luận chờ coi xem sao
    khẩn-cấp thong thả
    hạn cuối cùng không cần đúng hẹn
    bắt tay vào việc thái-độ chờ xem

    E Extraversion hướng-ngoại
    I Introversion hướng-nội
    N iNtuition trực-giác
    S Sensation cảm-giác
    T Thinking suy-tư lý-luận
    F Feeling tâm-tư tình-tư
    J Judging phán-đoán kết-luận
    P Perceiving tri-thức nhận-định

    Như vậy là chúng ta đã có dịp tìm hiểu 4 tầm-kích (khuynh-hướng) khác nhau của tính tình theo lý-thuyết của Jung: từ 4 tầm-kích khác nhau đó, người ta chia tính tình thành 16 loại. Muốn dùng bản chia loại này để hiểu tính tình người khác, chúng ta phải làm quen với cả 16 loại. Đây là một công-trình khá lớn lao.

    Điều hữu-ích không phải là học thuộc lòng tất cả chân-dung (hình ảnh) của 16 loại tính tình này, nhưng là hiểu biết nền tảng căn-bản của mỗi loại. Nói chung, hình như chỉ có 4 loại tình tình như Hippocrates đã cho biết từ bao nhiêu thế-kỷ trước, và Spranger mới lặp lại gần đây.

    Trong chương sau chúng ta sẽ nghiên-cứu về quan-niệm này.

  2. CHƯƠNG 2

    Bốn nhóm chung về tính tình

    Hippocrates phân-chia tính tình thành 4 loại: đa huyết, đa nộ, lãnh đạm và đa sầu. Để hiểu được cách chia loại đó, ta có thể chắp nối các quan-niệm hữu-ích trong các thuyết của Jung, Kretschmer, Freud, Adler, Sullivan và Maslow: nhìn nhận sáng-kiến của mỗi trường-phái và tránh những ý-kiến xung-khắc.

    Muốn theo thuyết của Kretschmer về tính-tình, chúng ta phải gạt bỏ quan-niệm của Jung về nhiệm-vụ hành-sử, nhưng đừng bỏ cách Jung mô-tả các hành-động, vì lối mô-tả của Jung giúp ích rất nhiều để đoán trước một hành-động. Khi biết một người thuộc mẫu tính-tình nào, ta có thể phỏng-đoán khác chính-xác hành-động của họ. Ta không nên bỏ qua điều khám-phá quý-giá đó. Thực ra, không phải chúng ta bỏ đi quan-niệm về loại hành-tác, nhưng là đặt quan-niệm đó vào quan-niệm về tình tình, vì quan-niệm tính-tình có lãnh-vực rộng lớn hơn và giúp giải-thích các hành-vi của con người.

    Trước hết tính-tình là gì? Câu hỏi này không dễ như ta tưởng, vì ngành tâm-lý-học ít nghiên-cứu về vấn-đề này, và các nhà tâm-lý chưa hoàn-toàn đồng-ý với nhau về định-nghiã cũng như về công-dụng của tính-tình. Tính-tình cho thấy một cố-gắng dung-hoà các nghị-lực đây đó của con người, kết-nạp và hoà-đồng các ảnh-hưởng đối-nghịch nhau, tạo nên một mầu sắc và âm-điệu duy-nhất, y như thể cấu-kết thành một chủ-đề, gầy dựng sự thuần-nhất trong hành-động. Tính-tình cũng giống như chữ ký trên một văn-kiện, minh-chứng rằng đây là hành-động của người này chứ không phải của người kia.

    Ta có thể quan-sát tính cách thuần-nhất trong hành-động của một người từ thuở nhỏ: có những yếu-tố xảy đến sớm hơn có những yếu-tố chậm hơn, đôi khi còn trước cả khi gây nên ảnh-hưởng nơi con người. Như thế có nghĩa là đây là những yếu-tố bẩm-sinh, chứ không phải những hình-thức thu lượm được. Maslow, 1954, nói rằng động-lực này thay thế động-lực kia tùy theo tuổi lớn lên của con người. Ông nói: chúng ta bắt đầu với nhu-cầu thể xác. Chúng ta coi đó là nhu-cầu tự-nhiên và khi thoả-mãn được những nhu-cầu tự-nhiên này, chúng ta không còn cảm thấy động-lực nào thôi-thúc nữa. Sau đó chúng ta tiến đến nhu-cầu an-ninh, rồi chúng ta lại thoả-mãn được những nhu-cầu an-ninh này, và coi là phần tự-nhiên không còn thấy động-lực thôi-thúc nữa. Rồi chúng ta tiến thêm đến nhu-cầu xã-hội: yêu thương, chăm sóc. Đa-số có thể sắp xếp cuộc sống để thoả-mãn những nhu-cầu yêu thương và chăm sóc để đi tới nhu-cầu tự-trọng: tôn-trọng chính mình và được người khác tôn-trọng. Maslow cho biết rằng chỉ một số ít người có đủ tư-cách để biết tự-trọng và coi đây là thoả-mãn nhu-cầu tự-nhiên để tiến-tới nhu-cầu cuối cùng là thành-nhân. Một người tới giai-đoạn thành-nhân, không còn bị thôi-thúc bởi những nhu-cầu hạ-đẳng như thể xác, an-ninh, hoặc nhu-cầu xã-hội như yêu thương, chăm sóc, tự-trọng nữa. Maslow muốn hiểu rằng những người chưa đạt được giai-đoạn thành-nhân, cũng có nhu-cầu để thành-nhân, và vẫn có khả-năng để tiến-tới, một khi họ vượt qua những nhu-cầu hạ-đẳng.

    Hệ-thống nhu-cầu của Maslow làm ta nhớ tới những giai-đoạn phát-triển tâm-lý của Freud, cho dù không có mầu sắc phái-tính chút nào. Trước Maslow 14 năm, William Sheldon cũng đã đề-nghị một thuyết về động-lực gần giống như vậy. Theo ánh-sáng của việc Harlow thí-nghiệm với loài khỉ, có lẽ nên sắp xếp thứ-tự các nhu-cầu lại một chút: 1.- nhu-cầu xã-hội, 2.- nhu-cầu an-ninh, 3.- nhu-cầu thể xác. Dù sao cũng phải công-nhận rằng người ta không hẳn vẫn tiếp-tục đòi hỏi nhu-cầu xã-hội, an-ninh, thể xác, vì phần lớn người ta đã có những nhu-cầu đó. Maslow đáp lại rằng đó là vì người ta đi tìm thoả-mãn nhu-cầu tự-trọng. Có lẽ chúng ta không nên theo Maslow về quan-niệm này, bởi lẽ không phải ai cũng ý-thức và ước muốn được nhu-cầu thành-nhân, sau khi đã thoả-mãn nhu-cầu tự-trọng. Đa-số chúng ta muốn những điều gì khác nữa. Chỉ có mẫu người đa-nộ mới để ý tới con người thực của mình.

    Nói như thế không có nghĩa là thành-nhân vượt quá tự-trọng, đúng ra thành-nhân là phương-thế để tỏ ra tinh-thần tự-trọng. Loại người đa-nộ chỉ muốn thành-nhân, yêu thích con người của họ hơn nữa khi họ thấy họ đạt được mục-đích. Dĩ nhiên ai cũng phải biết tự-trọng như Maslow nói thật đúng, nhưng thay vì vượt quá giai-đoạn tự-trọng, thực ra thành-nhân chỉ là một trong nhiều đường lối đưa tới tự-trọng.

    Tất nhiên có những đường lối khác nhau nữa. t.d. Freud , 1920, nói thật đúng khi ông quả-quyết thú vui là một đường lối, nhưng không phải là đường lối cho hết mọi người như ông chủ-trương, và thú vui càng không phải là cứu-cánh, mà chỉ là một phương-tiện, một đường lối đưa tới tự-trọng.

    Chỉ có người đa-huyết mới yêu thích họ nhiều hơn khi họ sống tự-do không bị ràng buộc. Sullivan nói đúng: đối với một số người thì địa-vị xã-hội là quan-trọng để có tinh-thần tự-trọng. Người đa-sầu đa-cảm thấy đời họ lên hương khi họ thực-hiện được giấc mơ ăn trên ngồi trốc, khi họ có điạ-vị cao. Cũng thế Adler có lý khi nói rằng một số người lại đi tìm uy-quyền. Người lãnh-đạm coi họ là quan-trọng khi thấy có thêm quyền-hành này nọ.

    Từ-ngữ Hippocrates dùng để chỉ 4 mẫu tính-tình dễ gây hiểu lầm. Ông dùng 4 chất lỏng trong thể xác con người là máu, nước đạm, mật vàng và mật đen để chỉ người đa-huyết, lãnh-đạm, đa-nộ và đa-sầu. Theo thần-thoại Hy-lạp, có 4 vị thần được thần chúa Zeus (Trời) sai đi với sứ-mệnh làm cho loài người trở nên giống thần-minh hơn: tên 4 vị thần này nói lên khá đúng 4 mẫu tính-tình. Đó là Apollo, Dionysius, Promotheus, và Epimetheus. Thần-thoại Hy-lạp cho biết: Apollo có sứ-mệnh làm cho con người có tinh-thần, Dionysius có sứ-mệnh dạy cho con người biết vui chơi, Promotheus có sứ-mệnh trau dồi kiến-thức con người, Epimetheus có sứ-mệnh dạy con người có tinh-thần trách-nhiệm. Đặt tên cho 4 loại tính-tình theo 4 vị thần có cái hay là mỗi vị thần cũng như mỗi tính-tình đều có người theo. Người tôn-thờ Apollo (tinh-thần) thì không thờ Promotheus (khoa-học), và người ước muốn Dionysius (thú vui) sẽ không hài-lòng với Epimetheus (trách-nhiệm). Như vậy ta thấy 4 mẫu tính-tình có nền-tảng căn-bản rất khác nhau.

    Có một điểm nữa trong thuyết của Jung về phân-loại tính-tình cần được điểu-chỉnh lại. Các mẫu tính-tình của Jung phát-xuất do sự khác-biệt chứ không phải do tổng-hợp của các hành-động. Theo Jung, tính-tình phát-triển là do sự phân-hoá, tách-biệt, cá-nhân-hoá hơn là tổng-hợp, liên-kết, thu góp. Như vậy một người trở nên ENFJ hoặc INFP hoặc mẫu tính tình gì chăng nữa là vì tính-tình của họ sẵn có như vậy hơn là một yếu-tố nào đó t.d. hướng-ngoại liên-kết với trực-giác. Như thế, thuyết về tính-tình thay thế các nguyên-tắc về tổng-hợp bằng nguyên-lý phân-hoá.

    Ngoài ra, các phân-loại của Jung cần phải được sắp xếp lại để thích-hợp với các mẫu-tính-tình này. Hình như mẫu trực-giác (N = iNtuition) của Jung thì tương-đương với loại khuynh-hướng bộc-trực (schixothyme) của Kretschmer. Trực-giác hoặc bộc-trực thích-hợp với nếp sống tinh-thần của Apollo (thành-nhân) hoặc cuộc đời khoa-học Promotheus. Mẫu cảm-giác (S = sensation) của Jung tương-đương với khuynh-hướng mẫn-cảm (cyclothyme) của Kretschmer. Mẫu cảm-giác hoặc mẫn-cảm sẽ lưạ chọn niềm vui Dionysius (tự-do hành-động) hoặc trách-nhiệm Epimetheus (địa-vị xã-hội). Nên nhớ rằng theo Jung, mẫu tâm-tình (F = feeling) cho thấy sự khác-biệt giữa động-lực thành-nhân Apollo và mẫu suy-tư (T = thinking) với động-lực uy-quyền; và mẫu phán-đoán (J = judgment) với động-lực trách-nhiệm Epimetheus cũng khác mẫu tri-thức (P = perceiving) với động-lực tự-do Dionysius.

    Spranger sống đồng-thời với Jung nên quan-điểm của ông về nhân-cách tính-tình rất hữu-ích. Ôâng nói về giá-trị hơn là về nhiệm-vụ. Trong cuốn ‘Types of men’ (1928, các mẫu người), ông đặt tên 4 giá-trị để đánh giá các mẫu người khác nhau: thẩm-mỹ, kinh-tế, thuyết-lý, và sùng-đạo. Còn 2 giá-trị nữa mà ông gọi là xã-giao và chính-trị, thì có liên-hệ tới tất cả, nên không thể dùng mà đánh giá các mẫu tính-tình khác nhau được. Đọc kỹ tác-phẩm trên, ta có thể thấy cách đánh giá trên cũng tương-đương với các phân-loại của Jung:

    NF quý-trọng tôn-giáo (luân-lý), NT quý-trọng lý-thuyết (khoa-học), SP quý-trọng thẩm-mỹ (nghệ-thuật), và SJ quý-trọng kinh-tế (thương-mại).

    Đầu thế-kỷ này ở Âu-châu, không có lý-thuyết nào chắc chắn về nhân-cách và tính-tình: nhiều nhà nghiên-cứu đã tạo được ảnh-huưởng trên thuyết của Jung, Kretschmer và Spranger. Có nhiều quan-niệm giống nhau như Adickes (1907), Apfelbach (1924), Levy (1896), Stenberg (1907). 8 mẫu tính-tình của Bulliot (1901) rất giống cách phân-loại của Jung. Nói một cách thật đơn-giản, tính-tình ấn-định hành-động, bởi vì hành-động chỉ là một dụng-cu để đạït được những gì ta cần có, để thoả-mãn nhu-cầu ta mong muốn. Y như thể khi mỗi người được sinh ra dưới quyền một vị thần, và vị thần này để mặc cho ta phải đói luôn, nên phải ăn mỗi ngày mới sống nổi. Cũng giống như thần Zeus phạt Sisiphus bắt phải lăn tảng đá đi dưới chân núi lên đỉnh núi, nhưng cứ mỗi lúc chàng nghỉ ngơi để lấy sức thì tảng đá lại rơi xuống chân núi. Có lẽ chúng ta cũng chỉ giống như Sisiphus,

    Dã Tràng xe cát biển đông,
    Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.

    Hôm nay ta thoả mãn nhu-cầu đói khát uy-quyền, địa-vị, tự-do, ý-nghĩa, hoặc bất cứ nhu-cầu nào mà tính-tình ta đòi hỏi, để rồi lại thấy ngày mai ta lại phải bắt đầu làm lại từ số không. Thành-quả của ngày hôm qua chẳng có ích gì cả.

    1.- TÍNH TÌNH CHỊU CHƠI (SỐNG PHÊ): SP
    Vừa thoạt leo lên xe là khí-huyết của bạn đã nổi sôi lên sùng sục. Chẳng còn gì khích-động hơn nữa. Đi phản-lực cũng không bằng leo lên chiếc xe này và bạn phóng như bay trên xa-lộ. Bạn thề sống thề chết là chẳng biết có đi tới nơi mà không bị tai-nạn đâu. Có hàng ngàn hàng vạn xe cộ khác xô lấn nhau, và bạn lách như một chàng khùng: chạy mau thắng gấp, cố làm sao để đi kịp xe trước mà không đụng tới những chàng điên khùng khác như muốn đụng độ với bạn. (Studs Terkel, Working, p. 209)

    Những người thuộc loại SP là như vậy (ISTP, ESTP, ISFP, ESFP): họ có những đường lối quan-trọng khác nhau, nhưng lại giống nhau một cách kinh-khủng. Điều căn-bản nhất là loại SP này phải được hoàn-toàn tự-do, không gò bó, không cưỡng ép, không ràng buộc, không khuôn khổ gì. Muốn là làm, và làm tuỳ hứng: đó là lý-tưởng của họ. Họ không muốn chờ-đợi, chuẩn-bị, dành dụm, lo lắng cho ngày mai. Đối với người SP, họ phải

    chơi xuân kẻo hết xuân đi
    cái già sồng sộc nó thì theo sau
    tận-hưởng ngày hôm nay, giây phút này, vì biết đâu ngày mai sẽ chẳng bao giờ tới.

    Đối với mẫu người SP, trách-nhiệm, uy-quyền và tinh-thần là thứ yếu và chẳng quan-trọng gì. Chỉ có hành-động mới đáng kể thôi, và phải hiểu người SP muốn nói tới hành-động theo kiểu nào. Hành-động chỉ vì hành-động chứ không phải vì một mục-đích gì khác. Người SP không chối cãi rằng hành-động của họ giúp cho người khác đạt được mục-đích, nhưng không phảøi vì mục-đích đó mà họ hành-động. Lý-do chính để họ hành-động chỉ vì họ cảm thấy động-lực thúc-đẩy.

    Người SP theo nguyên-tắc tính đam-mê: họ muốn là một con người đam mê. Đam mê chính là lẽ sống của họ. Người SP ước ao có những động-lực thúc-đẩy bên trong, thấy thích-thú khi cảm-nghiệm được và tìm cách phát-huy các động-lực bùng nổ ra bên ngoài. Người SP cảm thấy tội lỗi nếu họ không cảm thấy động-lực nào cả. Tất cả chúng ta ai cũng cảm nghiệm thấy có những động-lực này nọ thúc đẩy chúng ta làm việc, nhưng đa-số chúng ta bỏ qua đi, ngõ hầu hướng tới những mục-đích cao xa hơn, bền bỉ hơn. Chúng ta rèn luyện động-lực tự-do này bằng trách-nhiệm, uy-quyền và tinh-thần, trong khi người SP cảm thấy bị gò bó và đóng kín. Nói như thế không có nghĩa là người SP không biết nhằm tới mục-đích và liên-hệ như mọi người. Dĩ nhiên họ cũng có, nhưng tất cả chỉ là tạm thời và thiểu-số. Nếu có liên-hệ nhiều quá hoặc liên-hệ bền bỉ quá, người SP sẽ cảm thấy sốt ruột, nôn nao và có lẽ sẽ cảm thấy nhu-cầu phải lãng ra chỗ khác.

    Cách tốt nhất để có thể hiểu hành-động là gì , đó là so sánh thực-tập với đam-mê. Trước hết ai cũng phải thực-tập mới có kinh-nghiệm và tài giỏi trong công việc muốn làm. Đây chỉ là thực-tập, tập-sự, chứ không phải thực-tế, vĩnh-viễn. Người SP không muốn thực-tập. Họ làm là làm liền. Một khi họ cảm thấy động-lực thúc đẩy là họ làm. Nhiều khi họ cứ mải miết làm quá sức, quên cả giờ giấc nghỉ ngơi. Những người thuộc mẫu tính tình khác sẽ coi sự say mê làm việc đó như là kỷ-luật. Nhưng thực ra đây không phải là kỷ-luật mà là hành-động vì đam-mê. Một khi họ đã bắt tay vào là phải làm cho kỳ được mới thôi. Giống như người lên núi, chỉ vì thấy có núi ở trước mặt, người SP không giải-thích nổi động-lực thúc-đẩy họ hành-động. Họ phải hành-động vì có động-lực thúc-đẩy, và bao lâu động-lực còn thúc-đẩy, họ vẫn còn tiếp-tục hành-động. Khi hết động-lực, họ sẽ chẳng cảm thấy muốn làm gì nữa.

    Người SP bị lệ-thuộc vào cái mà Karl Buhler gọi là ‘function lust’ si-mê hoạt-động: thèm hành-động mà không có gì ràng buộc giới-hạn, muốn hành-động thám-hiểm mà không cần quy-tắc, thực-tập. Người SP thích dấn thân vào những trường-hợp chưa rõ được tự-do tới mức nào, chưa rõ hoàn-cảnh sẽ ngã ngũ ra sao. Trong các mẫu tính-tình, người SP đáp-ứng tình-trạng khẩn-trương hữu-hiệu hơn cả, và tình-trạng càng khẩn-trương bao nhiêu, họ càng có cơ-hội đáp-ứng mau chóng , thích-hợp. Khi hoàn-cảnh không có gì thay đổi, người SP dễ bị mất hứng thú. Khi có nhiều tình-trạng khẩn-trương và thay đổi, người SP càng có nhiều nghị-lực để chu-toàn nhiệm-vụ. Thực-tế là khi hoàn-cảnh trở nên nhàm chán, môi-trường có vẻ quen thuộc, người SP có khuynh-hướng tạo nên một tình-trạng khẩn-trương để làm cho mọi sự được sống động.

    Loài người có được hơn loài vật về 3 lãnh-vực: biểu-tượng, thần-thánh và dụng-cụ. Người SP thường không thấy quan-niệm thần-thánh hấp-dẫn gì cả, và càng xa tránh vấn-đề biểu-tượng, nhưng dụng-cụ là sở-trường của họ. Dụng-cụ là để mà sử-dụng, và người SP không thể nào không sử-dụng dụng-cụ được. Họ phải lái xe cầy, đi máy bay, bắn súng, múa kiếm, bóp còi, khua chân múa tay. Dụng-cụ có một ma-lực huyền-bí làm cho người SP thích-thú phấn-khởi. Dụng-cụ trở nên phương-tiện để người SP phóng-diễn hình ảnh con người của họ: làm hình ảnh đó lớn ra, to hơn, sắc nét hơn; như vậy để họ xả hơi các nghị-lực và động-lực bên trong.

    Người SP muốn người khác nhìn họ là con người được tự-do hành-động, hơn là con người hoạt-động, hoàn-toàn tự-do trong tinh-thần. Không phải là người SP hãnh-diện vì có khả-năng hoặc quyền-lực để làm một cái gì, vì mẫu tính-tình khác cũng có như vậy, nhưng họ hãnh-diện vì có tự-do để hành-động như họ đang tự-do hành-động. Họ không tiết-kiệm kiến-thức hoặc tập-trung quyền-bính, nhưng họ sử-dụng nếp sống một cách tự-do như họ có thể. Không cần phải chờ-đợi tới ngày mai mới hành-động, vì mỗi ngày mới đều đem lại nhu-cầu thích-thú mới, mạo-hiểm mới, thời-vận mới, cơ-hội mới. Họ cần phải phát-triển tài-nguyên, phải cho guồng máy hoạt-động, phải vui hưởng với người. Trong mọi tác-động, người SP cho thấy một thèm khát hành-động, và qua các hành-động đó, họ để lộ nhu-cầu muốn được người khác thấy họ có tự-do hành-động.

    Khung-cảnh xã-hội tạo nên môi-trường thuận-tiện cho người SP phái nam hoạt-động nhiều hơn phái nữ SP. Phong-trào giải-phóng phụ-nữ có giúp phái nữ hướng về hành-động một phần nào, tuy nhiên thực-tế hiện thời, người nữ SP không làm những công việc đặc-biệt của người SP cho dù một nửa số người SP thuộc phái nữ. Dĩ nhiên có một số phụ-nữ làm thương mại, gia-nhập quân-đội, làm cố-vấn giải-quyết các khó khăn, nhưng những nghề đòi hỏi chính-xác, kiên-trì, nghị-lực, can-đảm, giờ giấc, vẫn còn ở trong tay phái nam nhiều hơn. Đa-số phụ-nữ vẫn đi làm những công việc cổ-truyền của phái nữ như y-tế, giáo-dục, văn-phòng. Nên nhớ cả 3 việc này không làm thoả-mãn đam-mê của người SP được.

    Bạn bè thường mô-tả người SP là lạc-quan, vui vẻ, yêu đời, dễ mến, dễ có cảm-tình. Xét về mặt xã-giao, người SP có tính tình dễ thương, nói chuyện khôn-ngoan, dịu ngọt, và hay có những mẩu chuyện cười, những câu chuyện dí dỏm vô-tận. Dù đi đâu, người SP, nhất là người SP hướng-ngoại, đều đem lại sức sống niềm vui cho một nhóm, một nơi. Người SP dù chơi hay làm việc cũng gây nên hứng-khởi thích-thú. Bầu-khí trở nên sáng tươi, nhiều mầu sắc và có tính cách mạo-hiểm.

    Thực vậy người SP dễ bị chán ngán vì tình-trạng cô-đọng kéo dài. Họ thích thay đổi cách làm việc mỗi ngày. Họ thường tìm giờ để giải-trí, thử ăn món mới lạ, kiếm nhà hàng mới hoặc du-ngoạn chỗ xa. Người SP thích tự-do phóng-khoáng, tình cờ ngẫu nhiên, ăn uống tùy lúc tùy nơi tùy hứng: khuynh-hướng này dễ làm cho mẫu người thích trật-tự như mẫu người SJ khó chịu, và có thể tạo nên rắc rối nếu hai người SP và SJ cưới nhau. Người SP sống một cuộc đời thanh-thản làm cho nhiều người khác phải cảm-phục và đôi khi phen bì. Auntie Mame bất-chấp những người phản-đối, đã thúc-dục người bạn (cuối màn 2) phải thử liều một chút: “Vâng! Cuộc đời là một bữa tiệc, và đa-số những hạng ăn mày khốn-nạn phải chịu chết đói! Phải sống chứ!” Và người bạn hiểu ý đã đáp lại: “Vâng! Phải sống chứ! Phải sống chứ!” (Lawrence and Lee, 1957).

    Người SP chỉ có thể thất-bại tạm thời thôi. Họ có dư khả-năng để chịu trận nhịn đòn, trong khi đó những người khác có thể bị đo ván một lần là đi đời luôn. Họ tự nhủ: ‘hết cơ bĩ-cực, tới hồi thái-lai’, khi mưa khi nắng, ngày mai trời lại sáng. Jennie Churchill, người mẹ phi-thường của thủ-tướng Anh, là một người SP. Bà sống trong một tình-trạng căng-thẳng mà chính người SP cũng cho là hoạ-hiếm. Ralph Martin bắt mạch được nếp sống đó khi ông viết về một lúc cuộc đời bà bị xuống dốc, như sau:

    Đối với Jennie, năm 1895 là khởi-đầu cay đắng và tối tăm. Chồng bà chết vì bệnh giang-mai sau một cơn bệnh dai-dẳng. Chỉ trước đó mấy tuần người yêu của bà không còn đủ sức chờ-đợi nữa, đã thành-hôn với một người khác. Hai đứa con trai là Winston và Jack đều có vấn-đề trở-ngại, nên bà phải chăm nom từng li từng tí. Đúng là bà kiệt-quệ về thể-xác và tâm-thần…Đây nhé: người yêu của bà bỏ đi lấy người khác, bà chỉ còn một chút tiền còm, và chẳng có một căn nhà riêng để ở…Thế nhưng trong nội-tâm bà có một nghị-lực tiềm-tàng và một sức chịu-đựng bền-bỉ, nên chẳng bao lâu mà cuộc đời bà tạo nên nhiều phấn-khởi và sinh-lực mà chưa bao giờ bà dám mơ-tưởng tới. Người bạn của bà là Lady Curzon đã viết thư cho bà: “Bà là người độc-nhất trên trần-gian đã cỡi sóng thần mà còn sống sót được” (Ralph Martin, Jennie, Signet, vol. II, p.15-17).

    Cuộc sống đối với người SP đồng-nghĩa với khích-động và hành-động khi được kích-thích. Khích-động nào cũng chỉ là giai-đoạn ngắn ngủi nên người SP phải sống cho giây phút hiện-tại. Đối với người SP, chờ-đợi là chết trong tâm-thần; trì-hoãn là làm mất hết khích-động. Những mẫu người khác không thấy điều đó có ý-nghĩa gì cả, và họ có thể hiểu tại sao người SP lại chỉ thích sống vội vã chớp nhoáng như vậy; nhưng đối với người SP , cuộc sống không có chương-trình dài hạn, không có kế-hoạch mục-đích là cuộc sống thú-vị phấn-khởi hơn cả.

    “Tôi không muốn có con thì cưới hỏi làm gì? Đa-số phụ-nữ muốn cưới hỏi là để có con. Đa-số được nhồi sọ như thế. Còn tôi thì không chịu như vậy đâu. Trong thâm-tâm tôi cảm thấy có gì kỳ-lạ một chút. Tôi bắt đầu cảm thấy bị gò bó nếu như tôi bó buộc phải có mặt một nơi nào đó đúng giờ đúng khắc, rồi nếu tôi không có mặt ở đó thì nàng sẽ lo lắng. Ôi thôi! Tình yêu chính là gánh nặng nhất cuộc đời của tôi rồi vậy” (Cheryl Bentsen, This man is madly in love, Los Angeles Times, Part III, Sunday, Feb. 15, 1976, p.1: story of Joe Namath, football professional).

    Người SP không cân-nhắc kinh-nghiệm theo nguyên-tắc chủ-đích. Họ chỉ nói về hành-động và hữu-dụng. Họ không phải cố-gắng chịu-đựng, đối-phó với ai cả. Dù mệt nhọc, đói khát, đau khổ thế nào chăng nữa, họ cũng chỉ coi đó như một cuộc phiêu-lưu mạo-hiểm, chứ không phải một sứ-mệnh phải chu-toàn. Người SP không nghĩ đến chủ-đích phải nhắm tới, mục-tiêu phải đạt được, nên không có vấn-đề phải chịu-đựng làm gì. Chỉ khi nào nhắm một chủ-đích, người ta mới phải cố-gắng chịu-đựng để đạt mục-đích đó. Có lỗ là phải đào, có cửa là phải mở, có sân là phải chạy, có chuông là phải reo, có núi là phải trèo. Đôi khi sự khích-động bắt phải hành-động này khiến người SP phải trả một giá quá đắt như câu chuyện về Elvis Presley. Presley đậu xe Cadillac đặc-biệt của chàng bên cạnh một hãng bán xe. Khi chàng trở về thì thấy một người con gái lạ mặt nhìn chăm chú vào chiếc xe của chàng, tỏ vẻ thích-thú chiếc xe đó. Chàng hỏi xem cô nàng có thích chiếc xe đó không, rồi đưa ra đề-nghị: “Đây là chiếc xe của tôi, nhưng nếu cô thích, tôi sẽ mua cho cô một chiếc xe khác”. Thế là chàng dắt tay cô gái lạ mặt vào trong hãng bán xe và bảo cô chọn một chiếc xe tùy ý cô thích. Cô chọn một chiếc xe mầu trắng mạ vàng giá $11,500.00 (giá năm 1975). Chàng hỏi chuyện và được biết hôm đó là ngày sinh-nhật của cô, chàng trao chìa khoá xe cho cô, chúc cô mừng sinh-nhật vui vẻ, và còn bảo người tùy-phái viết cho cô một chi-phiếu để cô có chút tiền mua y-phục xứng-đáng với chiếc xe mới” (Los Angeles Times)

    Điều kỳ-lạ nhất là người SP có sức chịu-đựng hơn những mẫu người khác. Họ chịu-đựng thiếu tiện-nghi, đói khát, mệt nhọc, đau khổ, và họ tỏ ra can-đảm phi-thường. Đó là vì những mẫu người khác luôn hướng về một chủ-đích, không muốn làm gì cả nếu không có một lý-do. Vì thế những mẫu người khác mới bắt đầu hành-động một chút mà thấy có trở ngại khó khăn, mệt nhọc, bực bội, thì họ tìm hiểu xem họ có sức chịu đựng tới mức nào nữa. Đặt câu hỏi như vậy là chết rồi: tự mình làm hại mình, vì khi đặt câu hỏi như vậy, là đã ngầm trả lời không rồi vậy. Còn người SP không hướng tới chủ-đích, họ không cảm thấy hành-động của họ là kéo dài triền-miên, họ không lo phải chịu đựng lâu dài, và chẳng bao giờ thắc mắc họ có sức chịu được nữa hay thôi. Họ chỉ biết tiếp-tục hành-động như họ đã và đang hành-động, hơn mọi giới-hạn của các mẫu người khác.

    Chính nhờ khuynh-hướng hành-động theo kích-thích và khích-động,- nghe như có vẻ mâu-thuẫn, vì chỉ sống cho hành-động hiện-tại – mà người SP đã trở nên những nghệ-sĩ trứ-danh, các thiên-tài về nghệ-thuật, về giải-trí, về phiêu-lưu mạo-hiểm. Những hoạ-sĩ tài-ba, nhạc-sĩ nổi tiếng, ca-sĩ thượng-thặng, vũ-sư, điêu-khắc-gia, nhà chụp ảnh, lực-sĩ, thợ săn, võ-sĩ, người đánh bạc: tất cả đều cần phải có tài chịu-đựng thật lâu, để tập-trung thích-thú vào những gì đang xẩy ra. Không mẫu người nào có thể có sức như những thiên-tài đó: hành-động liên-tiếp và triền-miên.

    Làm sao lại như vậy khi mà người SP ghét tập-luyện và dấn-thân, và họ chỉ để cho kính-thích khích-động điều-khiển họ? Như đã nói trước, một khi người SP bắt-đầu hành-động, họ say mê hành-động giờ này qua giờ khác, luôn luôn bền đỗ, chứ không dễ bỏ cuộc như mấy mẫu tình-tình khác. Chính máu đam-mê hành-động đó đã rèn luyện họ trở nên nhân-tài. Hình như chỉ có người SP mới có được hoàn-hảo trong hành-động, cho dù không bao giờ họ có ý tập-luyện để được hoàn-hảo như những mẫu tính tình khác. Người NT tìm kiếm hoàn-hảo, nhưng chẳng bao giờ đạt được, còn người SP quên đi mục-đích theo đuổi hoàn-hảo, không cố-ý tập-luyện để được hoàn-hảo, nhưng lại có được hoàn-hảo. Người NT cố-ý thực-tập theo sách vở, quyết-định rèn luyện theo thời-khắc-biểu, còn người SP chỉ hành-động theo tự-nhiên, triền-miên không ngừng, không biết mệt, chỉ làm là làm, hành-động với không mục-đích nào khác ngoài hành-động. Có khi ý-hướng đi tìm hoàn-hảo hoặc cố-gắng làm việc để được như vậy còn cản-trở họ là đàng khác. Đối với họ, chỉ một mình hành-động tự nó đã là sự hoàn-hảo rồi.

    Những nghệ-sĩ tài-danh như Nijinsy, Rubinstein, Heifetz, Casals, Callas đều thuộc về mẫu người SP. Cả những người đua xe ngựa, lính chuyên-nghiệp, nhà ảo-thuật, đấu-võ, chơi bài, bắn súng thiện-xạ. Một tay súng cừ-khôi có thể rút súng lục, quay mấy vòng, giương lên rồi bắn trúng ngay một vật nhỏ đang di-động. Hành-động của họ cũng mau lẹ như nốt nhạc nhanh trong một bản hoà-tấu.

    Nói theo một nghĩa nào đó, người SP không có làm việc, vì làm việc ngụ ý phải sản-xuất, hình-thành, chu-toàn. Người SP không muốn làm như vậy. Họ thích hướng về đường lối phương-pháp hơn là kết-quả mục-đích. Dĩ nhiên thành-quả của đường lối phương-pháp họ hành-động đưa đến một kết-quả mục-đích, nhưng đó là tuỳ tòng phụ-thuộc. Họ không phải như Sisiphus thất-vọng vì suốt ngày vất vả đẩy tảng đá lên núi để rồi tối đến tảng đá lại lăn xuống chân núi. Họ lấy làm vui thích khi được đẩy tảng đá lên núi, chứ không để ý xem những cố-gắng của họ có tạo-dựng được đền đài nào không. Người SP thích làm những việc đòi hỏi nhiều tác-động như các bộ môn nghệ-thuật, công-trình xây cất đòi hỏi máy móc đủ cỡ, mở đường xá, khai-quang, đi đánh thuê, chuyên-chở hàng-hoá, quảng-cáo, lái xe cứu-thương, lái xe đua, đua xe gắn máy, lái máy bay. Những chính-trị-gia hoặc nhà thương-thuyết, nhà kinh-doanh thích thành-công trong việc cứu-nguy một kỹ-nghệ sắp phá-sản, người chuốc rượu, người giữ cửa, nhà ảo-thuật, lực-sĩ, trọng-tài. Tất cả những nghề đòi hỏi phải hành-động và biết đáp-ứng với những đòi-hỏi khẩn-cấp tại chỗ. Tất cả đều phải hành-động do áp-lực đòi hỏi và tình-trạng càng khẩn-trương, họ càng tỏ ra hữu-hiệu. t.d. Arthur Hailey diễn-tả năng-khiếu lạ lùng và hành-động thiếu suy-tư gần đưa đến nguy-hiểm của một người SP trong phim Airport:

    “Thưa ông, có xăng rơi rãi nơi đây. Xin vui lòng tắt thuốc. Patroni không chú-ý tới lời căn-dặn, cũng chẳng bao giờ chú-ý tới những luật cấm hút thuốc. Ông cầm điếu xì-gà vẫy về phía chiếc xe vận-tải bị lật rồi nói: ‘Này, còn gì nữa không? Làm gì mất giờ của mọi người, giờ của ông bạn cũng như giờ của tôi? Làm sao mà bạn tìm cách lật chiếc xe vận-tải đó lại được? Ông bạn phải kéo xe ra một bên để cho xe cộ lưu-thông đã chứ. Ông bạn cần hai xe cần cẩu nữa: một chiếc bên này để đẩy, hai chiếc bên kia để kéo!’

    “Rồi ông bắt đầu đi vòng quanh, dùng chiếc đèn điện để xem xét chiếc xe vận-tải từ nhiều góc cạnh. Bao giờ cũng vậy thôi, khi nào cứu xét một vấn-đề, ông đặt mình trọn vẹn vào vấn-đề đó. Ông cầm điếu xì-gà vẫy một lần nữa rồi nói: “hai xe cần cẩu sẽ kích vào 3 điểm, rồi sẽ kéo xe taxi ra trước và nhanh hơn. Như thế là hai xe không còn dính vào nhau nữa. Còn xe cần cẩu bên kia…’’ Cảnh-sát công-lộ nói: “chờ đã!” rồi gọi mấy viên cảnh-sát bên kia đường: “Này, ở đây có ông này coi bộ biết việc phải làm”. (Arthur Hailey, Airport, Bantam books, 1968, p.43)

    Người SP là mẫu người hay có tính đi lang thang đây đó. Họ dễ cắt đứt giây liên-lạc hơn các mẫu tính-tình khác, cho dẫu họ biết làm như thế là tạo nên đau khổ cho những người thân của họ. Họ có thể bất-thần bỏ cuộc, thay đổi nếp sống, dứt khoát ra đi mà không thèm ngó lại. Mực vương vãi tới đâu là nằm y chỗ đó. Họ từ-bỏ trách-nhiệm y như thể họ không bao giờ lãnh-nhận trách-nhiệm đó cả. Mặc dầu chính người SP tạo nên những liên-hệ đó, bây giờ họ nhận ra những ràng buộc và gánh nặng. Đặc-biệt là vào tuổi trung-niên, người SP rất cần tự-do, có khi tới độ đứng ngồi không yên. Hoạ-sĩ Gaugin vào khoảng hơn 40 tuổi, đã bỏ nhà để vượt trùng-dương tới Tahiti. Chính ở đó, ông đã sáng-tác những tác-phẩm tuyệt vời, và dĩ nhiên là ông đã đành để mất tín-nhiệm đằng sau ông.

    Tuy thế qua lối sống đầy mâu-thuẫn, người SP lại là người sống có tình chung-thuỷ hơn ai hết. Họ thích sống tinh-thần đồng-đội, giữ liên-lạc bền-vững với bạn bè, bênh-vực nhóm khi bị công-kích. Trường-hợp điển-hình nhất là quân-đội, hướng-đạo, hội-đoàn từ-thiện. Người SP có thể bỏ qua những tình-cảm ướt át, tình-tứ lãng-mạn, đặc-điểm của các mẫu tính-tình khác. Dù người SP là xếp xòng về những cử-chỉ hào-hoa t.d. tặng món đồ lớn như hột xoàn, nhẫn vàng, nhưng họ có thể quên dễ dàng một lời nói yêu thương, một cử-chỉ thân-ái nhỏ mọn.

    Người SP sử-dụng những gì họ có và sẵn sàng chia sẻ với người khác. Họ thích sống một đời vương-giả khi họ không thiếu phương-tiện, và nếu có thiếu thì cũng chỉ là tạm thời. Cho dù có lúc họ thiếu thốn, họ cũng muốn tỏ ra đại-lượng. Họ là mẫu người muốn chia sẻ và có óc thực-tế biết dùng những gì họ sở-hữu. Của tôi là của bạn, và dĩ nhiên của bạn cũng là của tôi. Đối với người SP, khi cần thì cái gì cũng có thể thương-lượng dàn xếp được. Người SP chấp-hành nghiêm-chỉnh các luật-lệ một cách bình-thường, nhưng nếu có trường-hợp khẩn-cấp xẩy đến, hoặc do nhu-cầu đòi hởi, họ có thể có một thái-độ và tính-tình khác hẳn. Hoàn-cảnh mới đòi hỏi hành-động mới, nên những hứa hẹn trước có thể bị dẹp bỏ qua một bên, cho dù có thể có tiếc nuối nhưng cũng là dẹp bỏ. Ngày hôm nay là hiện-tại phải đối-phó, và ngày hôm qua phải nhường chỗ cho đòi hỏi mới khẩn-thiết của ngày hôm nay.

    Người SP cần-thiết phải sống trọn vẹn cho hiện-tại hơn là mấy mẫu người khác, và như vậy đôi khi có thể làm cho những ngươì khác khó chịu vì nghĩ rằng họ cứ phải sống trọn vẹn như vậy luôn mãi. Bạn của người SP thích lòng quảng-đại và tính vui vẻ của người SP, nhưng thỉnh thoảng họ lại có nhận xét rằng chỉ gặp một lần là đủ để đi guốc trong bụng người SP rồi, và có gặp gỡ thêm cũng không biết gì hơn nữa. Thực ra lối sống của người SP dễ bị người khác coi thường. Ai cũng thấy nếp sống của người SP hấp-dẫn lôi cuốn, rồi sau đó lại cảm thấy bực mình vì không thấy người SP sống đúng với kỳ-vọng người khác muốn nhìn nơi người SP. Người SP không cảm thấy phấn-khởi gì về những vấn-đề kích-động rườm rà rắc rối. Đối với họ, kích-động nào cũng được cả, và như vậy là đủ để họ suy-tư, hành-động và tin-tưởng. Họ sống với óc rất thực-tế, nên họ không cần hành-động của họ phải tuân theo cách chính-sách, luật-lệ, đường lối như các mẫu người khác. Tính người SP là nhào vô trước khi mở mắt quan-sát, họ dễ bị tai-nạn hơn các mẫu người khác. Họ dễ tự gây thương-tích vì không chú-ý quan-sát để rồi bị thất-bại hoặc tai-nạn. Họ lạc-quan chỉ vì mong chờ cơ-hội may mắn.

  3. CHƯƠNG 2

    Bốn nhóm chung về tính tình

    2.- TÍNH TÌNH CHỊU (SIÊNG) LÀM: SJ
    Cũng như SP, mẫu người SJ gồm chừng 38% quần-chúng. Jung sắp xếp 4 loại SJ: ISFJ, ESFJ, ISTJ, ESTJ. Có nhiều điểm giống nhau và cũng có nhiều điểûm khác nhau, nhất là quan-niệm của họ đối với nghĩa-vụ và trách-nhiệm. Điểm chung giống nhau là họ hiện-diện, có mặt chính là để làm ích cho xã-hội, cho tập-thể.

    Epimetheus, em của Promotheus và Atlas, tượng-trưng cho tinh-thần SJ cũng như Dionysius tượng-trưng cho tinh-thần SP. Theo như thần-thoại Hy-lạp, Promotheus dặn bảo em Epimetheus đừng có nhận hồng-ân nào của thần-phụ là Zeus. Promotheus sống đúng với lời mình khuyên em, nên đã từ-chối không chịu cưới những phụ-nữ xinh đẹp do thần-phụ Zeus gầy-dựng cho. Epimetheus cũng noi theo gương của anh, không chịu cưới Pandora do thần-phụ hiến-tặng, làm cho Zeus bực mình nổi cơn lôi-đình.

    Epimetheus thấy anh Promotheus bị trừng phạt nên đã đổi ý và chấp-nhận Pandora, cho dù Epimetheus biết được những nguy-hiểm đang đón chờ từ nơi người thiếu-nữ đẹp tuyệt trần này. Chẳng bao lâu Pandora không chịu nổi tính tò mò nên muốn xem cái hộp bằng vàng mà nàng phải đeo từ Olympus và theo lệnh của Zeus nàng không được mở ra. Epimetheus đứng sát cánh bên vợ khi nàng mở hộp ra thì thấy đủ mọi sự dữ như lão, bệnh, lao-công, điên khùng, tật xấu và đam-mê. Epimetheus cũng bị nạn hành-hạ như Pandora vậy, nhưng không bao giờ lìa bỏ nàng. Trái lại chàng thẳng thắn chấp-nhận định-mệnh của mình, và cố-gắng tìm hiểu cho biết phải và nên làm gì để chống lại những sự dữ đã lan tràn khắp thế-giới. Khi Epimetheus đáp lời yêu-cầu của Zeus mà cưới Pandora, chàng được quán-triệt khôn-ngoan mọi sự. Chàng biết dùng dư-luận để chế-ngự và dung-hoà thế-giới đại-đồng. Như vậy là nhờ vâng lời, Epimetheus được tự-tin và lương-tri toàn hảo. Chàng phải chịu nhiều sự dữ của loài người, nhưng chàng lại tìm được kho tàng hy-vọng và tiên-đoán sự thiện độc-nhất có ở trong hộp Pandora. (Grand, 1962; Graves, 1955; Hamilton, 1940; Jung, 1923).

    Người SJ cần phải liên-hệ giao-kết và mối liên-kết này phải là do công-trình của họ tạo-dựng. Không có chuyện ‘của chùa’, ‘lộc thánh’, chờ-đợi của từ trên trời rớt xuống. Người SJ coi việc lệ-thuộc người khác là một việc không chính-đáng và không nên làm. Người SJ nhận thấy lệ-thuộc người khác là chứng-tỏ thiếu tinh-thần trách-nhiệm, hoặc không chu-toàn nghĩa-vụ. Hơn nữa, họ phải là người cho đi cứ không phải là người nhận lại, là người chăm sóc chứ không phải là người được chiều chuộng.

    Thái-độ làm cha mẹ, đóng vai anh chị nơi người SJ xuất-hiện rất sớm khi còn nhỏ. Quan-sát một lớp mẫu-giáo, chúng ta dễ nhận thấy chừng 1/3 lớp gồm trẻ em nóng lòng sốt ruột chờ-đợi cô giáo ra lệnh cho biết phải làm gì, còn những trẻ em khác, – phần lớn là SP với một số NF và NT lưa thưa – cứ y như những con chó con tranh dành, thám-thính và gậm nhấm những giờ phút thần-tiên đó cho xong. Trường học là chỗ dành cho người SJ, và phần lớn do người SJ điều-khiển, và được duy-trì để biến những con chó con ham vui này thành những cha mẹ nho nhỏ, nghiêm-trang, đầy trách-nhiệm, chỉ muốn biết nhiệm-vụ của họ phải làm gì.

    Khi người SJ cắp sách đi học, họ đã thay đổi từ dáng dấp một người đàn anh đàn chị qua dáng dấp làm cha làm mẹ. Dĩ nhiên họ còn cảm thấy lệ-thuộc nhiều năm nữa trong thời niên-thiếu (cho đến khi có tiền còm nhờ đi bỏ báo, hoặc tiền lì-xì bỏ ống), nhưng họ không thích phải lệ-thuộc như vậy. Đây không phải là ước muốn được độc-lập như người SP, nhưng là họ ước muốn phục-vụ mà chưa có dịp: họ nôn nao muốn giúp ích cho đời, cho người.

    Nên nhớ rằng người SP có khuynh-hướng cần tự-do và tự-lập, còn người SJ thực ra có khuynh-hướng muốn có kỷ-luật gò bó và bắt buộc. Đó là những nhu-cầu hỗ-tương. Thực vậy cách tìm hiểu tính tình của người SJ rõ nhất là so sánh họ đối chọi với tính-tình của người SP.

    Trước hết người SJ sống đạo-lý khổ-hạnh, còn người SP sống theo triết-lý hưởng-thụ: một bên là làm việc, một bên là vui chơi. Đó là hai đường lối sống, không có cái này tốt cái kia xấu, nhưng là hai quan-niệm sống khác biệt nhau. Dĩ nhiên để nhìn xa hơn, chúng ta có thể tìm hiểu thêm quan-niệm thế nào là tốt xấu trong đường lối NF và NT.

    Sau đến, người SP có cử-chỉ bình-dân và lối sống phóng-khoáng, vì họ tin-tưởng và ước muốn mọi người bình-đẳng bình-quyền, còn người SJ có dáng dấp người lớn và nét mặt quan-trọng, vì họ tin-tưởng và ước muốn tôn-ti trật-tự, thứ-tự lớp có đầu có đuôi có trên có dưới, phải có luật-lệ quy-tắc chi-phối các liên-hệ giữa các phần-tử như học-đường, giáo-hội, xí-nghiệp, chính-quyền, gia-đình. Mỗi người phải hoạt-động tích-cực để đạt được chỗ đứng , địa-vị trong xã-hội. Người SP không có cái nhìn bên ngoài như vậy: họ cho rằng mọi người đều bình-đẳng dù ở phe nhóm, tổ-chức nào cũng vậy, và cấp bậc trong xã-hội chẳng qua chỉ là vấn-đề hên xui may rủi, chứ chẳng ai làm gì nổi. Còn luật-lệ ư? Luật-lệ là một hình-thức ngụy-trang của những người muốn củng-cố địa-vị của mình do tình-cờ mà chiếm được. Ít ra đó cũng là điều người SP nhận xét như vậy.

    Tiếp đến, chỉ nhìn thoáng qua các hành-động của người SJ, cũng đã nhận thấy một tư-tưởng bi-quan yếm-thế, ngược lại với người SP là lạc-quan yêu đời. Khẩu-hiệu của hướng-đạo là ‘Sắp Sẵn’ chắc phải là do một người SJ nghĩ ra. Người SJ có sáng-kiến và tổ-chức như điều-hành hướng-đạo. Thực vậy người SJ lúc nào cũng chuẩn-bị sẵn sàng. Đa-số hành-động của họ chỉ là để chuẩn-bị cho những biến-cố bất ngờ có thể xẩy ra. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vội vàng kết-luận rằng người SJ luôn luôn nghĩ tới tai-nạn và kinh-hoàng, nhưng hãy coi họ như có óc thực-tế về sai lầm và khiếm-khuyết có thể xẩy ra. Họ đề-phòng nguy-cơ một cách rất hữu-hiệu.

    Ngụ-ngôn ’con kiến và con ve sầu/châu chấu’ của ông Ê-xốp cho thấy một hình ảnh dễ hiểu về người SJ và người SP. Theo ngụ-ngôn, con kiến kiên-trì cần-mẫn khuân vác các mẩu bánh lớn về tổ, trong khi ve sầu/châu chấu nằm lười biếng trên thảm cỏ bên cạnh đường đi của kiến, ca hát múa may cho rằng ‘trời sinh voi, trời sinh cỏ’. Con kiến không nhụt chí với công việc nặng nhọc, quở trách ve sầu/châu chấu không chuẩn-bị cho những ngày tháng mùa đông. Kiến nói: “Anh chung sức với tôi, tích đầy nhà kho để muà đông khỏi bị đói lạnh”. Châu chấu trả lời: “Nhưng nếu chị cứ làm việc cần cù như bây giờ, đã chắc gì sống nổi tới mùa đông mà lo. Biết đâu chị chẳng bị bệnh cao máu, đau bao-tử, táo bón mà chết. Chị nên bắt chước tôi đây, thảnh thơi nhàn-hạ trên thảm cỏ, hưởng dùng thức ăn dư thừa, và đòi hỏi thế-giới phải cung-phụng ta, tội gì mà làm việc cho mệt?”

    Dĩ nhiên mỗi con vật theo ý riêng mình, chẳng ai nghe ai. Đến khi mùa đông dài tới, ve sầu/châu chấu phải gõ cửa nhà kiến, sau khi phải đứng chờ vừa đói vừa lạnh. Kiến ở trong nhà đầy đủ lương-thực cuối cùng cũng thương-hại cho ve sầu/châu chấu vào. Người SJ và SP cũng vậy: nhiều đôi vợ chồng là SJ với SP, và màn kịch đó cứ diễn đi diễn lại mãi không ngừng.

    Một nhận xét nữa về tư-tưởng bi-quan của mẫu người Epimetheus. Định-luật Murphy cho rằng ‘cái gì có thể hư hỏng thì trước sau gì cũng sẽ hư hỏng’, hoăïc ‘làm việc gì cũng tốn tiền tốn giờ hơn là ta nghĩ’. Chỉ có người SJ mới có thể nghĩ ra định-luật đó thôi.

    Người SJ ao ước trở nên hữu-dụng và thường phát-hiện qua lòng thèm khát gia-nhập hội-đoàn tổ-chức. Về điểm này, người SJ thực sự thèm khát hơn những mẫu người khác. Trung-tâm đời sống của người SJ là gia-nhập cơ-cấu tổ-chức. Qua hành-động, người SJ nhận ra bản-tính xã-hội của con người. Hơn các mẫu người khác, người SJ sáng-lập và duy-trì các cơ-cấu tổ-chức như gia-đình, giáo-hội, hiệp-hội, đoàn-thể, phong-trào, nghiệp-đoàn. Có khi cơ-cấu tổ-chức là tất cả mục-đích cuộc sống của người SJ, cũng như hành-động là cùng-đích của người SP vậy. Người SP cũng gia-nhập cơ-cấu tổ-chức, nhưng đòi hỏi và mong đợi cơ-cấu tổ-chức đó phải đáp-ứng nhu-cầu của họ, họ mới gia-nhập và tích-cực hoạt-động.

    Người SJ càng lớn tuổi càng nhận thấy truyền-thống là quan-trọng. Các người SJ trong gia-đình, hội-đoàn, giáo-hội hoặc nghiệp-đoàn là những người cần-thiết để bảo-vệ truyền-thống. Nếu chưa có nghi-lễ, tập-tục và truyền-thống, người SJ sẽ cố-gắng thiết-lập và bảo-vệ. Nên nhớ rằng những mẫu người khác rất vui mừng được tham-dự những lễ lạc, nghi-thức, hội hè đình đám. Cũng nên nhớ rằng người SJ mời mọi người tới tham-dự cho dù một số tỏ ra vô-ân bạc-nghĩa.

    Tuy nhiên, người SJ dễ nhận ra thái-độ vô ơn hờ hững của người khác đối với những dịch-vụ, ân-cần, hy-sinh của mình. Điều kỳ-lạ là họ không thấy đòi hỏi người khác phải biết ơn, cảm-tạ, bởi lẽ nhiệm-vụ của họ là phục-vụ, hy-sinh, săn sóc, lo lắng. Họ cảm thấy phải làm như thế vì trách-nhiệm có lúc nặng nề, và họ muốn cảm thấy như vậy. Đối với họ, nếu cảm thấy khác có nghĩa là vô-dụng, không tham-gia, và thái-độ nhận lãnh, được cung-phụng, được săn sóc là những thái-độ không chính-đáng, phải khử-trừ mỗi khi thấy xuất-hiện. Thử quan-sát một người SJ dự tiệc mà coi: họ chỉ vui khi được giúp chủ nhà làm bếp, dọn bàn, đưa món ăn, thu dọn sạch sẽ. Ngược lại, khi người SP tổ-chức tiệc tùng mà mời người SJ dự, người SJ cuối cùng chính là người phục-vụ mọi người. Dĩ nhiên người SP khởi-xướng, nhưng người SJ thanh-toán dùm.

    Không có gì là bí-mật khi người SJ chọn nghề. Các cơ-cấu tổ-chức hệ-thống này nọ đón mời họ, và họ đến để thiết-lập, nuôi dưỡng, và bảo-trì các cơ-cấu đó cho liên-tục và trường-kỳ. Dạy học, kế-toán, ngân-hàng, thư-ký, y-khoa, phục-hồi, bảo-hiểm, chứng-khoán, điều-hợp, cung-cấp buôn bán: tất cả đều có một điểm chung là bảo-trì. Người SJ là con người bảo-trì dù ở đâu, dù làm việc gì và với ai chăng nữa. Họ tiết-kiệm cách này cách khác, trước hay sau cũng vậy, còn người SP chỉ biết tiêu-xài, sử-dụng. Người SJ là nền tảng, then chốt, cột trụ, yếu-tố căn-bản của xã-hội, và nên mừng khi có họ chung quanh ta.

    Ước muốn bảo-trì của người SJ thật mãnh-liệt nên mọi hành-động, tư-tưởng và thái-độ của họ đều bị ảnh-hưởng lây. Người SJ khó mà từ-chối khi được trao-phó thêm trách-nhiệm. Họ lý-luận: ‘Nếu tôi không làm thì chẳng ai chịu làm cho’, và ‘Như thế thì đâu có xong việc được!’ Dĩ nhiên, có khi người SJ cảm thấy cay đắng vì người ta không biết ơn, và đôi khi cảm thấy bị thua thiệt, và buồn cười nhất là khi chính khi họ muốn hành-động để tránh thua thiệt đó. Nhưng người SJ khó tự-do diễn-tả được tâm-tình cay cú khi không được ghi ơn, bởi lẽ bản-tính của họ bắt buộc thôi-thúc họ phải bảo-trì. Nói theo một cách nào đó, người SJ không dự-trữ đủ nghị-lực để đề-phòng những lúc rủi ro, nên họ không thể đủ trách-nhiệm và nghĩa-vụ để chu-toàn điều mà họ cảm thấy.

    Người SJ ước muốn bảo-trì truyền-thống, nên họ chỉ mong sao cho có ngày họ được đóng vai-trò lãnh-đạo chỉ-huy. Khi được như vậy, chắc chắn họ sẽ dùng uy-quyền của họ để bảo-trì cơ-cấu tổ-chức, để củng-cố di-sản. Di-sản và điều-kiện để được di-sản có một chỗ lớn trong cái nhìn của người SJ đích-thực. Những gì tạm bợ, mau qua và tiện-lợi hầu như bị người SJ coi như là phương-hại đến tập-thể, gia-đình, tổ-chức, di-sản. Những điều này có thể là không có gì vô-luân, bất-hợp-pháp, nhưng ít nhất cũng đáng nghi ngờ đối với người SJ, vì tạm bợ, mau qua, tiện-lợi có nghĩa là có thay đổi, và thay đổi là làm mất giá-trị của di-sản. Người SJ cũng hiểu như những người khác rằng cuộc sống cần phải có thay đổi, đôi khi có những thay đổi không thể tránh được, có lúc thay đổi là điều hay nên thực-hiện, nhưng họ muốn rằng phải tìm mọi cách tránh thay đổi một điều đã được thử và xác-định là đúng, được công-nhận, chuẩn-y. Thay đổi do diễn-tiến từ từ hơn là đột ngột bất ngờ. Người SJ với tính cách bảo-trì di-sản, không bao giờ muốn cách-mạng.

    Người SJ quan-trọng-hoá chức-tước địa-vị, bởi vì địa-vị chứng-tỏ quyền chính-thức, và chức-tước nói lên nhiệm-vụ. Người SJ không nhìn nhận rằng chủ-quyền là chủ-điểm của lề-luật, nhưng lề-luật là chủ-điểm của chủ-quyền. Người SJ coi chủ-quyền bất-hợp-pháp là một trọng-tội. Có hay không có đối với người SJ cũng chỉ là một cách biểu-lộ lòng thèm khát nhiệm-vụ y như cho đi và lãnh-nhận vậy. Thực vậy, ta có thể dễ hiểu người SJ hơn nếu ta biết rằng căn-bản của con người họ là bảo-trợ, nâng đỡ trong vấn-đề có hoặc cho, từ chối hoặc nhận lãnh.

    Người SJ đương nhiên là người ghi nhận lịch-sử của xã-hội, tông-tích của đoàn nhóm, và đây là người sẵn sàng học bài học lịch-sử vì xã-hội, vì đoàn nhóm. Will Durant nói rằng bài học quan-trọng nhất của lịch-sử đó là liên-hệ hỗ-tương giữa tự-do và bình-đẳng. Tự-do tăng-tiến thì bình-đẳng giảm-thiểu, và hễ bình-đẳng tăng-tiến thì tự-do cũng sẽ giảm-thiểu. Rất tiếc là nhiều người không chịu học bài học lịch-sử quý giá đó. Chứng-cớ hiển-nhiên là ai cũng đòi hỏi tự-do và bình-dẳng tới mức tối-đa. Nhưng người SJ trực-giác được điều này. Họ thấy hệ-thống giai-cấp bất-bình-đẳng là đường lối độc-nhất đưa tới tự-do. Đó là lý-do người SJ kính-trọng những người lớn tuổi, vì họ tin rằng những người lớn tuổi đáng được kính-trọng và được vâng-phục.

    Như lịch-sử có sứ-mệnh chỉ-huy hành-động tương-lai của ta, thì cũng có một số điều căn-bản làm nền-tảng để ta xây dựng và duy-trì những tổ-chức, hệ-thống, cơ-cấu tổ-chức của ta. Người SJ chủ-trương phải có hệ-thống cơ-cấu tổ-chức căn-bản cũng như họ tha-thiết với tiền-lệ. Dĩ nhiên giữa những người SJ với nhau, có thể họ không hoàn-toàn đồng-ý về những điều căn-bản chung, nhưng tất cả đều công-nhận phải có một hệ-thống cơ-cấu căn-bản và họ quyết-tâm theo đó. Trách-nhiệm người SJ lãnh-nhận không bao giờ cùng. Bao lâu còn có việc phải làm, có nghĩa-vụ phải thi-hành, có trách-nhiệm phải chu-toàn, bấy lâu người SJ cảm thấy phải góp một phần nào cho mọi sự được chu-toàn, cho dù có khi họ quá bề-bộn bận rộn, cho dù người khác không chịu góp phần bao nhiêu.

    Trên thực-tế, có nhiều người lợi-dụng tính ham làm của người SJ: ‘Thôi thì cứ để cho mấy người đó quán-xuyến!’ rồi bỏ bê không biết cám ơn, hoặc không chịu cộng-tác, để rồi một mình người SJ lăn lưng ra mà làm, rồi kiệt sức, buồn chán, và có thể đau yếu nữa. Người SJ thường hay bị chán-nản ê-chề. Abraham Lincoln, một người SJ thật xuất sắc cũng đã cảm thấy tâm-trạng não nề này mà thở than:

    “Giờ đây tôi là một con người sống khốn-nạn nhất. Nếu gia-đình nhân-loại được phân-chia đồng đều những gì tôi đang cảm thấy, có lẽ chẳng còn một bộ mặt trên trần-gian này có thể vui vẻ được nữa. Tôi không thể nói được rằng tôi có khá hơn được. Tôi sợ rằng không…” (Gillette, Mary, Paul & Hornbeck)

    Một điều buồn cười là tinh-thần trách-nhiệm của người SJ không luôn luôn tạo nên cảm-tình mộ-mến biết ơn. Những người lợi-dụng lòng tốt của người SJ thường hay bỏ đi sau khi thấy người SJ đã kiệt-sức. Thường thường những người thụ-ân người SJ không đủ tinh-ý nhận ra rằng không mấy ai tỏ lòng biết ơn người SJ. Lý-do có thể là vì người SJ có khuynh-hướng giữ bộ mặt nghiêm-khắc trái ngược với tấm lòng nồng-hậu của họ. Nhân-vật Hepsibah và Hawthorne trong ‘The House of seven Gables’ nhân-cách-hoá bộ-tịch đó như sau:

    “Bộ-tịch nhăn nhó đó đã làm cho cô Hepzibah thành một con người khó tính, một gái già bẳn gắt. Chắc cô đã phải nhiều lần tự-nhủ ‘tôi trông thảm-thê quá!’ để rồi lại sống đúng như điều cô suy-nghĩ . Tuy nhiên, lòng cô không bao giờ phải khó chịu: lúc nào cũng dịu dàng, tế-nhị và đầây giao-động hồi-hộp. Đó là nhược-điểm của tâm-hồn, trong khi đó nét mặt cô càng ngày càng tỏ ra nghiêm-khắc, dữ dằn” (Nathaniel Hawthorne, The House of the Seven Gables, Scholastic Magazine, N.Y. 1965, pp.33-34)

    Người SJ quan-tâm đặc-biệt đến việc phải chăm sóc cho người khác, cách riêng người trẻ và người già và những người có quyền. Người SJ quyết-tâm sống theo tiêu-chuẩn của xã-hội và cố-gắng truyền lại những giá-trị tinh-thần đó cho thế-hệ trẻ. Người SJ nhận thấy quan-trọng phải làm việc trong môi-trường phản-ảnh trung-thực những giá-trị đó, họ không thích liên-lạc với những người hoặc những tổ-chức ngoài môi-trường của họ.

    “Những hình ảnh như vậy đâu có xứng-đáng! Mary nghi-ngờ dán mắt công-giáo vào những đường nét thân hình một người nằm xõng xoài, trần truồng. Giả như con gái của Mary mà như vậy thì…gia-đình O’Neills luôn luôn làm Mary sửng sốt. Cô dễ bị ngạc-nhiên cũng như dễ bị thương: một cái va chạm nhẹ đủ để vết tím bầm trên da thịt cô ngày này qua ngày khác. Tội-nghiệp cho Mary. Nếu không có Bobby, con trai của nàng thì nàng đã bỏ đi từ lâu rồi. Tội-nghiệp cho cách họ nuôi mấy đứa con! Không bao giờ có một miếng thịt mà ăn! Thỉnh thoảng mới được một miếng thịt cừu. Không có gì ngon hết trừ một vài calôri và một ít chất giải-khát. Và nếu như nàng không chỉ bảo dạy dỗ thì nó chỉ biết quá ít về Đấng Cứu-thế.” Tiffany Thayer, ThirteenWomen, N.Y., Claude Kendall, 1932, p.1)

    Vì người SJ tha-thiết với các tổ-chức, định-lệ của xã-hội, nên đa-số họ có óc kinh-doanh, thương-mại, làm việc trong công-sở, tư-sở, văn-phòng, ngân-hàng, y-tế, kế-toán, nha-khoa, phòng nhân-viên, mỹ-viện, nhà thuốc: tất cả những nghề-nghiệp trên đều nhằm mục-đích cung-ứng dịch-vụ và phục-vụ theo các cơ-cấu tổ-chức sẵn có. Có khá nhiều nhà giáo-dục, giáo-sư, giám-đốc, quản-thủ thư-viện thuộc loại người SJ. Tính trung-bình, có chừng một nửa giáo-chức trung-tiểu-học thuộc mẫu người SJ. Lý-do dễ hiểu là vì giáo-chức SJ tượng-trưng thực sự cho giá-trị tinh-thần cố-hữu của học-đường muốn bảo-vệ và thông-truyền luân-lý và văn-hoá cho thế-hệ mai sau.

    “Bước chân vào lớp học là bạn có tất cả uy-quyền của một định-chế. Bạn bảo người ta làm là tức khắc người ta phải làm, bảo người ta đọc là người ta phải đọc, bảo người ta suy-nghĩ làm sao, giải-thích sự việc thế nào là người ta phải suy-nghĩ giải-thích như vậy. Bạn có thể làm cho người ta có mặc-cảm tội lỗi vì họ chưa kịp đọc cho thấu, hoặc chưa làm quen được với các tài-liệu. Giáo-chức nào cũng chơi một trò như vậy cả. Và tôi cũng đã sống trong cuộc, với đủ chân tay mặt mũi” (Studs Terkel, Working, p. 566).

    Người SJ cũng thích những nghề xoay quanh vấn-đề dinh-dưỡng như bệnh-viện. Đa-số các y-tá thuộc loại người SJ, nhất là SFJ. Đặc-biệt người SJ thích phục-vụ các nơi săn sóc người nghèo, người đau yếu.

    Người SJ chính là nòng cốt làm quân-bình lãnh-vực kinh-tế và xã-hội. Họ làm ra được tiền và đáng đồng tiền bát gạo, và không hiểu làm sao người khác không làm được như thế. Người SJ hiểu rõ giá-trị của truyền-thống, quan-niệm đứng đắn thế nào là đúng, thế nào là sai, và thường không chấp-nhận những người làm sai. Người SJ khó chịu với những ai vi-phạm luật-lệ tổ-chức hoặc công-ước xã-hội, cho đến khi người ta hối-cải. Người SJ coi thường những ai lạc-đường cho đến khi họ ăn năn trở về và cải-thiện đời sống.

    Người SJ muốn làm việc đúng thời đúng chỗ. Hằng ngày họ thèm khát được tháp-nhập vào tổ-chức của họ, và muốn góp phần phục-vụ tổ-chức đó. Không bao giờ họ nghĩ rằng việc họ làm hôm qua là đủ thay thế cho hôm nay. Mỗi ngày người SJ tìm cách để củng-cố việc họ làm để chứng-tỏ họ thực sự thuộc về tổ-chức của họ bằng cách ngày nào cũng vậy họ chu-toàn nghĩa-vụ được trao-phó. Đối với họ, không chu-toàn nghĩa-vụ là có lỗi, không phù-hợp với tiêu-chuẩn của xã-hội là quê cùng mình. Những chữ diễn-tả con người SJ là trung-thành, đáng tin, kiên-vững, đúng luật, rường cột của xã-hội, cột trụ của tổ-chức. Họ là người tạo-dựng xã-hội.

  4. CHƯƠNG 2

    Bốn nhóm chung về tính tình

    3.- TÍNH TÌNH NGHIÊM-TÚC (NĂNG TIẾN): NT
    Thần Prometheus đã cho con người ngọn lửa quý hoá, tượng-trưng cho ánh-sáng và năng-lượng, để biến con người nên giống thần-minh hơn. Nhờ chế-ngự được ánh-sáng và năng-lượng, con người kiểm-soát được thiên-nhiên, có nghĩa là nắm được quyền-lực ở trong tay. Chính đó là đặc-điểm của mẫu người Prometheus, khác với các mẫu người khác: ước muốn có quyền.

    Có những mẫu NT như sau: INTP, ENTP, INTJ, ENTJ. Chỉ có khoảng 12% quần-chúng thuộc mẫu tính tình này thôi, nên tương-đối ít gặp thấy. Ở nhà trường , một lớp học tiêu-biểu 32 học-sinh, chỉ có 4 người thuộc mẫu NT, và chỉ có 1/4 là hướng-nội, hoặc INTP hoặc INTJ. Như thế đủ để thấy người NT phải sống trong một môi-trường thật xa lạ, khác-biệt. Họ phải sống với người khác mẫu tính tình, trong khi người SP và SJ thường gặp người cùng mẫu tính tình sống chung quanh. Cha mẹ và giáo-chức của người NT thường thuộc lại SP và SJ. Cứ 16 gia-đình mới có một gia-đình cả cha lẫn mẹ đều là N, và cứ một ngàn gia-đình mới có một gia-đình cả cha mẹ đều là NT.

    Người NT thích có quyền-lực, không phải là quyền-hành trên người khác, nhưng là thứ quyền-lực đối với thiên-nhiên: làm sao để có thể hiểu biết, kiểm-soát, tiên-đoán và giải-thích các sự-kiện thực-tế đang xẩy ra. Nên nhớ trên đây là những đặc-điểm của khoa-học. Do đó, người NT có khuynh-hướng trở nên nhà khoa-học. Những hình-thức quyền-lực người NT muốn có chỉ là phương-tiện để họ đạt tới một mục-đích: mục-đích chính là thông-thạo hiểu biết. Thực ra, người NT không muốn quyền-lực vì quyền-lực, mà muốn chứng-tỏ họ có khả-năng, thẩm-quyền, tư-thế, năng-khiếu, sở-trường, tài-cán.

    Người NT say mê óc thông-minh sáng suốt, có nghĩa là họ có khả-năng làm việc tốt trong nhiều hoàn-cảnh khác nhau. Người NT cực-đoan có thể mê-mẩn thu-thập kiến-thức, lúc nào cũng tìm cách học khôn, y như con kiến trong truyện ngụ ngôn lo tích trữ của ăn. Nếu bạn cho người NT biết họ là con người giả-hình, lừa dối, lường gạt, thiếu trách-nhiệm và sáng-kiến, họ chỉ suy-nghĩ về nhận xét của bạn và có thể đáp lại rằng biết đâu bạn nhận xét có phần đúng. Như thế, không có nghĩa là họ không khó chịu, bực mình, bởi lẽ họ thường thắc-mắc nghi-ngờ chính nhận-định của họ về tự-do, trách-nhiệm và quyền-hành. Nhưng nếu bạn cho người NT là điên-dại, ngu-xuẩn, không có khả-năng, họ sẽ cho bạn thấy rõ giá-trị tại sao bạn có thể nhận xét như vậy. Chỉ mình họ mới có thể nhận-định khả-năng của họ, và họ nhận-định rất là khắt khe đúng mức.

    Người NT tìm cách để chứng-tỏ khả-năng, và nhiều khi như thế vẫn chưa đủ, họ muốn họ có dư khả-năng. Họ ước muốn thật nhiều khả-năng, họ bị mê mẩn và chỉ muốn sao cho phát-triển thêm, y như thể bị một ma-lực nào lôi cuốn vậy. Người NT muốn phát-triển cũng như người SP muốn biểu-lộ vậy, cho dù đối-tượng khác nhau: người SP chỉ muốn hành-động diễn-xuất, nhưng không muốn phát-triển, cho dù hành-động của họ đã là tuyệt-vời, còn người NT phải phát-triển, nhưng không muốn chỉ hành-động diễn-xuất chỉ vì phải hành-động, cho dù khi họ có hành-động, và càng ngày càng thêm chính-xác tinh-tế. Nói theo một cách nào đó, người SP là bức gương phản-chiếu người NT. Đối với người SP, khả-năng là phương-tiện cho họ tự-do diễn-xuất, còn đối với người NT, diễn-xuất là phương-tiện cho họ càng thêm khả-năng hữu-hiệu.

    PHƯƠNG-TIỆN MỤC-ĐÍCH

    người NT diễn-xuất khả-năng

    người SP khả-năng diễn-xuất

    Nhân-tiện cũng nên nói ngay rằng cả người SJ và người NF bí-ẩn đều không có quan-tâm chú-ý tới khả-năng và diễn-xuất bao nhiêu. Có lẽ chúng ta có thể hiểu người NF và SJ nhiều hơn, nếu luôn nhớ rằng họ không để ý tới khả-năng và diễn-xuất. Họ có vẻ như có mối quan-tâm khác, và họ không hiểu tại sao những người SP và NT cực-đoan lại chống-đối nhau dữ dội. Dĩ nhiên những người hiếu-chiến chỉ thích khả-năng với diễn-xuất cũng không hiểu tại sao người khác có thể dửng dưng với vấn-đề được.

    Người NT là mẫu người tự kiểm-thảo khắt khe hơn hết. Họ coi đi xét lại về lỗi lầm của họ. Họ tìm đủ mọi cách để cải-thiện. Họ dùng mọi biện-pháp để nhận-định xem họ đã tiến-tới được bao nhiêu. Họ không ngừng bắt mạch xem họ có được bao nhiêu năng-khiếu, và mỗi lúc mỗi canh-chừng nghị-lực của họ. Họ muốn phải làm sao hiểu được mọi sự vật trên trời dưới đất, được biết mọi dữ-kiện siêu-nhiên và tự-nhiên, miễn sao để chứng-tỏ họ thông-thạo chuyên-môn. Người NT càng cực-đoan bao nhiêu, họ càng đòi hỏi chính mình họ phải có nhiều năng-khiếu và hiểu biết bấy nhiêu. Người NT muốn rằng trong bất cứ lãnh-vực nào họ để tâm đến, họ đều phải là người thấu-triệt quán-xuyến hết cả. Không thể nào họ chịu lép vế được. Người SJ hành-động theo những điều ‘nên’, ‘phải’, còn người NT hành-động theo những điều ‘phải biết’, ‘có khả-năng’. Người NT có khuynh-hướng tích-luỹ các khả-năng và chẳng muốn loại trừ khả-năng nào cả. Họ sống theo hệ-thống giá-trị ưu-tiên, và dĩ nhiên họ là người đòi hỏi trọn hảo, dễ để tinh-thần bị căng-thẳng và để hành-động thành nghiện-ngập khi họ bị áp-lực. Họ luôn ý-thức khuyết-điểm của họ, và nhận-thức rằng họ chưa tới được trọn-hảo. Họ có thể đón nhận lời phê-bình của người khác về quyền-lực của họ có, với một thái-độ khinh-khi hoặc diễu-cợt. Họ có thể biểu-lộ thái-độ đó, hoặc không biểu-lộ gì cả, cho dù người NT hướng-ngoại dễ biểu-lộ hơn. Người NT ý-thức rõ ràng giá-trị những lời phê-bình, và họ bằng lòng để bị chỉ-trích tới mức-độ nào đó. Cùng với đòi hỏi trọn-hảo, người NT ngay từ nhỏ, không muốn chấp-nhận một quyền-bính nào mà không đặt vấn-đề trước. Người NT dửng dưn, cho dù ai tuyên-bố điều gì với uy-tín và thế-giá nào chăng nữa. Họ tin rằng mỗi lời tuyên-bố phải có lý-do căn-cớ riêng biệt, phải hợp-lý, có thể trắc-nghiệm xem đúng hay sai, và phải đi sát với thực-tế. Người NT có thể nói: ‘Tôi biết rằng Einstein đã nói như thế, nhưng ‘nhân vô thập toàn’ (không ai đúng hoàn-toàn mười phân vẹn mười) mà!’ Đặc-tính không chấp-nhận quyền-bính này có thể làm cho người NT trở nên ương-ngạnh cố-chấp, nhất là người NT cực-đoan.

    “Từ khi lên 12 tuồi, tôi đã bắt đầu suy-tư dày vò với vấn-đề ý-nghĩa cuộc sống nhân-sinh… và chắc chắn rằng những người chung quanh tôi sống vất vưởng như đoàn vật càng làm cho vấn-đề thêm trầm-trọng…Lúc nào trong đầu óc của tôi cũng lởn vởn tư-tưởng này là phải có một phương-pháp khoa-học nào đó để tìm hiểu vấn-đề nhân-sinh chứ. Khi lên 14 tuổi, tôi đọc được cuốn sách ‘Man and Superman’(con người và siêu-nhân) của Shaw và lấy làm bực mình vì tôi không phải là người đầu-tiên đặt vấn-đề đó” (Colin Wilson, The Outsider, N.Y., Dell Publ. co., 1956, pp. 289-290)

    Người NT thường hay thổ-lộ tâm-sự với những người họ tin-tưởng rằng họ có bị ý-nghĩ thất-bại ám-ảnh đầu óc họ không thôi: lần này thì sợ không thể thành-công và chắc sẽ bị thất-bại, lần khác thì sợ không đủ kiến-thức và kinh-nghiệm đối với vấn-đề. Số-phận người NT cứ hoài-nghi với ngờ-vực không thôi. Vì tính đa-nghi nên người NT, đặc-biệt là người NTP, khó mà ra tay hành-động cương-quyết. Có khi nghi-nan làm cho họ trở nên nhu-nhược bất-động, chỉ sợ điều mình quyết-định sẽ mau thay đổi.

    Hình như người NT không bao giờ tin rằng mình hiểu biết đủ, có khả-năng kinh-nghiệm đủ, để làm việc thành-công, và họ có khuynh-hướng mỗi ngày mỗi đòi hỏi toàn-hảo hơn. Hôm nay họ cho là được, ngày mai lại chê là không được. Người nào tỏ ra cực-đoan hơn, lại đòi hỏi mức toàn hảo hơn, cho dù nhiều lần họ đã thành-công. Người NT coi những việc thường ngày là thiếu chỉ-tiêu, chưa đủ kinh-nghiệm. Họ tỏ ra khắt khe đối với chính mình, kiểm-soát kỹ-lưỡng xem họ tiến-triển được bao nhiêu, siêng năng làm bản kiểm-kê những thành-công và thất-bại. Họ muốn hoàn-toàn thông-thạo trong công việc họ làm, lãnh-vực họ hoạt-động và không bao giờ ngừng tự cải-tiến phát-triển.

    Quan-sát một người NT chơi dỡn làm cho ta phải cảm-động và cảm thấy hơi buồn khi so sánh với thái-độ bỏ rơi của người SP. Người NT lý-luận minh-bạch rằng chơi dỡn là cần-thiết cho sức khoẻ, nên hoạch-định giờ chơi đàng-hoàng, và trong giờ giải-trí đó, họ muốn làm sao phải tiến thêm. Chẳng hạn như khi muốn chơi bài, họ không muốn vấp phạm phải lầm lỗi nào. Khi chơi banh, họ muốn lần nhận banh này phải khá hơn lần vừa qua. Người NT muốn sao cho mình phải được vui vẻ, vì họ nghĩ rằng đó là mục-đích của giải-trí.

    Khi đối-xử liên-hệ với người khác, người NT thường gây nên hai ấn-tượng mâu-thuẫn sau. Ấn-tượng thứ nhất là họ không kỳ-vọng nơi người khác bao nhiêu, vì họ cho rằng người khác không có nhiều kiến-thức hoặc khả-năng kinh-nghiệm. Người NT có thể tạo ra ấn-tượng đó khi họ tỏ ra ngạc-nhiên một chút, vì thấy người khác cũng hiểu biết và thành-thạo vấn-đề. Người NT thường cho rằng người khác không có thể thấu suốt những tinh-vi tế-nhị của vấn-đề, và họ dễ để cho người khác nhìn thấy thái-độ đó. Ấn-tượng này khác hẳn với ba mẫu tính tình kia, vì ba mẫu kia đều tin rằng không nhiều thì ít, người khác cũng có thể hiểu được vấn-đề. Ấn-tượng thứ hai là người NT muốn những người chung quanh họ cũng phải cố-gắng sống đúng chỉ-tiêu lý-tưởng như họ vậy. Mà vì chẳng ai có thể hoàn toàn sống đúng chỉ-tiêu, trọn vẹn lý-tưởng, người NT thấy ai cũng đầy dẫy những sai lỗi khiếm-khuyết. Thông-thường người ta nhận thấy người NT thuộc loại đòi hỏi yêu-sách khá nhiều.

    Một hậu-quả tai-hại của hai ấn-tượng mâu-thuẫn trên là những người sống quanh người NT trước sau cũng cảm thấy mình không có tài-trí hiểu biết bằng người NT, nên sẽ trở thành thủ-thế, rút lui vào bóng tối, và chẳng muốn trình-bày tư-tưởng chia sẻ ý-nghĩ của họ nữa. Như vậy, người NT sẽ bị cô-lập không được ai san-sẻ kinh-nghiệm hiểu biết cho, vì ai cũng sợ bị coi là ngu-si đần-độn. Dĩ nhiên cuối cùng người NT càng có lý để tin rằng người khác là ngu-si đần-độn thực sự, bởi lẽ không chịu đả-thông tư-tưởng, chia sẻ kinh-nghiệm với họ.

    Thái-độ tự-cao tự-đại này làm cho người NT không được những người khác quý-mến thực sự, nhưng lại giúp mẫu người NT tạo nên những tác-phẩm để đời có ảnh-hưởng trên suy-tư của nhân-loại. Chẳng hạn như Machiavelli biểu-lộ mẫu người như vậy khi ông dạy hoàng-thân Lorenzo về nghệ-thuật điều-khiển quốc-gia, cho dù chính Macchiavelli chỉ là một người tầm-thường vô-danh tiểu-tốt:

    “Thói thông-thường là những ai muốn xin được ân-huệ nơi một ông hoàng thì phải chứng-tỏ lòng muốn thực tình của mình bằng cách dâng-tiến những lễ-vật mà ông quý-trọng, hoặc thích-thú. Đó là lý-do người ta dâng-tiến các ông hoàng những lễ-vật như ngựa quý, khí-giới, vàng bạc, kim-cương, đồ trang-sức xứng-đáng với địa-vị hoàng-tộc. Tuy thế mặc dầu tôi có ý muốn dâng-tiến lễ-vật cho quý hoàng-thân để chứng-tỏ lòng ngưỡng-mộ của tôi, tôi cũng không thể tìm được một lễ vật nào trong tất cả những của cải tôi có, ngoại trừ kiến-thức mà tôi thu-thập được về những thành-tích của các bậc vĩ-nhân qua kinh-nghiệm lâu năm đối với những sự việc hiện-tại, và nghiên-cứu liên-tục những sự việc dĩ-vãng.

    Tôi đã hết sức cần-mẫn suy-nghĩ và tìm hiểu hành-động của các bậc vĩ-nhân qua nhiều năm, và giờ đây tôi xin dâng lên quý hoàng-thân thành-quả của những năm đó trong một cuốn sách nhỏ bé; và mặc dầu tôi trộm nghĩ công việc này không đáng được quý hoàng-thân chấp-nhận, tôi tin lòng nhân-đạo của quý hoàng-thân sẽ hoan-hỉ đón tiếp, vì quý hoàng-thân biết rằng tôi không có thẩm-quyền dâng-tiến một lễ-vật nào cao-trọng hơn giúp cho quý hoàng-thân chỉ trong một thời-gian ngắn hiểu được những gì mà tôi đã phải trả giá cô-đơn và nguy-hiểm để học hỏi qua nhiều năm.” (Niccolo Machiavelli, Mentor Classic, N.Y. 1952, p. 31)

    Trong các giao-tiếp liên-hệ, người NT thường không thích phải nói đi nhắc lại. Lời họ nói cô-đọng, chính-xác, lý-luận, đanh thép. Họ không muốn xác-nhận một điều hiển-nhiên, vì như vậy là làm lời nói bị giới-hạn, bởi lẽ họ tin rằng ‘Dĩ nhiên ai cũng biết rằng…’ Người NT nghĩ rằng nếu họ xác-nhận một điều hiển-nhiên thì sẽ làm cho người khác chán ngán. Người NT có khuynh-hướng không muốn dùng những hình-thức vô-văn-tự. Người NT muốn dùng những chữ thật chính-xác, và hy-vọng người khác cũng dùng như vậy, cho dù sớm gì họ cũng nhận thấy người khác không dùng như thế. Nữ-hoàng Elizabeth, con vua Henry VIII, đã trị vì nước Anh trên 40 năm, là tiêu-biểu cho đặc-tính trên khi bà tuyên-bố ý-định kết-hôn của bà cho các quần-thần làm áp-lực với bà:

    “Câu trả lời của nữ-hoàng Elizabeth thật mạnh-bạo dứt-khoát: ‘Ta không biết rồi sau này ta sẽ hành-động ra sao, nhưng có một điều chắc chắn là ta muốn các ngươi biết rằng hiện-thời ta không làm gì khác hơn là những gì ta đã tuyên-bố rới các ngươi’. Thực không còn lời nào rõ ràng hơn nữa!” (E. Jenkins, Elizabeth the Great, N.Y. Time Publication 1958, p. 57)

    Elizabeth sống hoàn-toàn trái ngược với con người của một đối-thủ trọn đời là nữ-hoàng Mary của Tô-cách-lan với mẫu người NF. Elizabeth luôn sống xa cách thuộc-hạ, còn Mary lôi-cuốn người khác tới gần. Ngay cả những cai tù cũng còn thích và cảm mến bà. Mọi hành-động của Mary đều đượm mầu tình-cảm. Mary muốn trở thành nữ-hoàng Anh-quốc và ngây-thơ tin-tưởng rằng đứa con riêng của bà sẽ không nỡ từ-chối đến cứu-nguy cho bà khi hữu-sự. Người ta có thể tiên-đoán được phản-ứng của Elizabeth: theo lý-trí cứng nhắc, cần làm thì cứ làm, cho dù có nuối tiếc và hối-hận, và tránh đích-thân can-thiệp vào việc lên án Mary.

    Bởi vì người NT quan-trọng-hoá vấn-đề hiểu biết và thông-thạo: họ muốn họ hiểu biết và thông-thạo, và cũng muốn người khác nhìn nhận về họ như vậy, nên thường thường họ xuất-sắc trong phần chuyên-môn và trên lãnh-vực của họ. Họ thèm khát quyền-lực hơn là hành-động, trách-nhiệm, và ngay từ thuở nhỏ, họ đã tỏ ra tính tò mò hiếu-kỳ, muốn coi xem máy móc làm việc ra sao, muốn biết các sự việc diễn-tiến như thế nào. Trẻ em NT sẽ bắt đầu tìm kiếm những lời giải-thích, những cách cắt nghĩa này nọ khi chúng biết nói. Chúng thắc mắc về thế-giới chung quanh chúng, và không bao giờ được thoả-mãn với những lời giải-đáp nghe như không hợp-lý của người lớn. Chúng muốn những lời giải-đáp có đầu có đuôi. hợp tình hợp lý. Chúng có thể mải mê tìm kiếm cho ra đủ mọi sự kiện có khi làm cho người khác khó chịu. Người NT học hỏi suốt ngày suốt đêm 24/24, nhất là người NT cực-đoan, kể cả từ thuở nhỏ.

    Người NT say mê học hỏi tìm hiểu, nên khi họ rời ghế nhà trường, họ đã có cả một kho tàng kiến-thức. Người NT học hỏi từ thuở nhỏ và chăm chỉ nên dễ xuất-sắc về chuyên-môn kỹ-thuật hơn các mẫu người khác. Càng có khả-năng tri-thức, người NT càng có khuynh-hướng thiên về khoa-học, toán, triết-lý, kiến-trúc, kỹ-nghệ: tất cả những ngành đòi hỏi chính-xác và tỉ-mỉ. Rất nhiều người NT ở trong các ngành đó.

    Người NT sống với việc họ làm. Đối với họ, lúc làm việc thì họ làm việc, và lúc chơi họ cũng làm việc. Phạt người NT phải ăn không ngồi rồi là một hình-phạt nặng nề nhất. Người NT làm việc không phải để hoàn-thành một công-tác, hoặc để tạo nên một thích-thú gì, nhưng là để cải-tiến, kiện-toàn, bổ-túc khả-năng hoặc kiến-thức cần cho công việc. Người NT không có lòng thèm khát hành-động như người SP. Đúng ra qua việc làm họ chứng-tỏ họ thích luật-lệ. Họ luôn luôn tìm hiểu những nguyên-do của vũ-trụ. Họ luôn luôn cố-gắng nhóm lên một tia lửa hiểu biết vào các lãnh-vực chuyên-môn của họ.

    Người NT thích tạo nên các kiểu-mẫu, thăm dò các sáng-kiến, thiết-lập các hệ-thống. Điều dễ hiểu là họ thích các nghề có liên-quan đến việc thiết-lập và ứng-dụng các nguyên-tắc khoa-học. Khoa-học, kỹ-thuật, triết-lý, toán, luận-lý, trang-trí, kỹ-nghệ, khảo-cứu, phát-triển, điều-hành, sản-xuất, hình-luật, tâm-lý, nghiên-cứu chứng-khoán: tất cả đều lôi-cuốn người NT. Những dịch-vụ thương-mại, những liên-hệ thân-chủ với khách hàng, không tỏ ra hấp-dẫn gì cho người NT. Người NT cũng không thích các công việc phục-vụ như thư-ký, văn-phòng, sửa chữa, bảo-trì, giải-trí, phân-phối. Có nhiều người NT trong số các kỹ-sư, kiến-trúc-sư, giáo-sư toán, khoa-học-gia, triết-gia. Dù ở đâu dù làm việc gì, người NT cũng cố-gắng làm cho trọn hảo, và thường thường họ làm được cho trọn hảo.

    Dù ở đâu dù làm việc gì, người NT, nhất là mẫu người NTJ, cũng phải sắp xếp lại môi-trường bằng cách xây cất phòng ốc, chỉnh-trang lại cách trang-trí hoặc bằng cách thiết-lập và kiện-toàn cơ-sở tổ-chức. Ayn Rand là xếp sòng về mẫu tính tình NT, đã mô-tả đặc-điểm đó trong nhân-vật Howard Roark, đối-thủ của bà trong tác-phẩm The Fountainhead như sau:

    “Hắn cố-gắng suy-nghĩ. Nhưng hắn quên mất rồi. Hắn nhìn vào những phiến đá. Hắn không cười khi mắt hắn dừng lại, nhận-thức được trái đất bao quanh hắn. Mặt hắn cũng giống như luật thiên-nhiên – không ai có thể tra hỏi , thay đổi hoặc kêu nài. Xương hàm nhô lên, gò má sâu hõm, mắt xám, lạnh và đứng yên, miệng thách-đố, khép kín y như miệng của một tên đao-thủ hoặc của một vị thánh. Nhìn vào phiến đá, hắn nghĩ phải cắt phiến đá này ra để làm thành tường. Nhìn vào một cây, hắn nghĩ phải chẻ ra để làm bè làm ván. Nhìn vào vết loang trên tảng đá, hắn nghĩ đến những quặng mỏ ở trong lòng đất cần phải được khai-quật, đúc luyện thành những thang, cọc chống đỡ bầu trời. Hắn nghĩ: những tảng đá này là để cho hắn phải khoan, phải chờ vỡ tung ra, để được đục khoét, mài dũa, được tái-sinh và có một hình-thái mới do bàn tay hắn tạo cho” (Ayn Rand, The Fountainhead, Signet books, Bobbs Merrill Co., N.Y. 1943, p.15-16).

    Người NT rất dễ lắng nghe những tư-tưởng mới, dễ chấp-nhận những thay đổi về phương-pháp và chính-sách mà không tỏ ra khó chịu, miễn là những thay đổi đó có lý. Họ muốn học hỏi thêm những tư-tưởng tranh đua, và thường mở rộng lòng trí để nghiên-cứu suy-nghĩ. Người NT có khuynh-hướng ăn ngay nói thẳng khi giao-tiếp liên-hệ với người khác, cho dù người khác thường nhận thấy rằng người NT lạnh nhạt, xa cách và bí-ẩn. Tuy vậy, nếu hỏi thẳng một người NT về lập-trường, ý-nghĩ của họ về một vấn-đề gì, họ sẽ không ngần-ngại nói rõ ý-kiến không mập mờ chút nào cả.

    Người NT chỉ thích làm mà không thích chơi, nên dễ làm họ bị đụng chạm với người khác, và hậu-quả là họ bị gò bó đóng kín trong tháp ngà trí-thức, không liên-hệ được với thế-giới thực-tế bên ngoài như các mẫu người khác. Đôi khi chúng ta gặp những thiên-tài bất-thường trong mẫu NT. Einstein đi lại trên đường phố New York với đôi dép ngủ, và chỉ có thể nói truyện có ý-nghĩa với một số nhỏ. Dĩ nhiên Einstein chẳng hối-hận gì về tình-trạng đó, và rất may là công-trình của ông không bị mất mát gì. Tuy nhiên nhiều công-trình của người NT bị mất đi, vì trình-độ tư-tưởng quá trừu-tượng nên ít ai hiểu cho được.

    Khi người NT họp nhau lại thành một nhóm, họ thường thích chơi chữ với nhau, cảm thấy thú-vị vì nhận ra những tinh-tế của ngôn-từ. Họ say mê những kiểu nói quanh co, những nhận-định mâu-thuẫn. Einstein nói: “Đứng vêà phương-diện thực-tế những định-lý toán học không chắc chắn được chút nào cả, và nếu có chắc chắn được chút nào thì cũng lại chẳng ăn nhằm gì với thực-tế cả!”: câu nói đó làm người NT sảng-khoái tâm-trí, cũng y như khi họ đọc thơ trào-phúng hoặc kịch châm-biếm.

    Người NT có khuynh-hướng nhắm về tương-lai, coi quá-khứ như đã chết và đáng bỏ. Đối với họ, điều quan-trọng là những gì có thể xẩy ra và những gì sắp xẩy đến. Quá-khứ dĩ-vãng chỉ có một công-dụng là làm phương-tiện hướng-dẫn cho tương-lai và góp phần rút tỉa những bài học của lịch-sử, nhớ lời cảnh-cáo này: “ Ai không am-tường lịch-sử, sẽ phải lập lại lỗi lầm của lịch-sử quá-khứ”. Không bao giờ người NT muốn lập lại cùng một lỗi lầm. Họ không đủ kiên-nhẫn đốùi với lầm lỗi ban đầu, nên phạm lầm lỗi một lần nữa có nghĩa là đáng lên án, là đồ bỏ. Dĩ nhiên nếu ta hiểu được đầy đủ các nguyên-tắc, đâu còn lý-do để phạm cùng một lầm lỗi. Người NT cảm thấy xấu-hổ vô chừng nếu có ai bắt lỗi được việc làm của họ, nhất là lỗi lầm về đường hướng lý-luận.

    Một khi người NT làm chủ được một kỹ-thuật gì hoặc một dự-án lý-thuyết nào rồi, họ sẽ tiến thêm bước nữa vào thách-đố khác. Sau khi đã tách-biệt được các luật-lệ tạo thành trật-tự và lý-do hành-động, và sau khi làm chủ được các khả-năng cần-thiết, dù là làm việc dù là chơi dỡn, người NT đưa mắt hướng về các thách-đố mới. Dĩ nhiên bao giờ họ cũng chỉ mong sao có dịp cải-tiến hoàn-thiện thêm trong bất cứ lãnh-vực khả-năng nào, dù mới dù cũ.

    Tính người NT là thích suy-nghĩ tìm hiểu xem những người chung quanh họ đang có ý-nghĩ gì, đang có động-lực nào, và họ tìm cách sáp-nhập những kinh-nghiệm hiện-tại vào hệ-thống họ có trong đầu óc, nên nhiều khi họ không được cảm-nghiệm trực-tiếp. Họ lo lắng tìm hiểu xem có gì đang xảy ra trong khi sự việc đang diễn-tiến, để rồi họ bỏ lỡ cơ-hội chứng-kiến sự việc diễn-tiến. Đôi khi người NT lộ vẻ đứng bên cạnh cuộc sống hơn là đi vào cuộc đời, y như thích-thú đứng trên bờ nhìn nước sông trôi, xa xa, tách-biệt, vô-tư một chút. Thái-độ xa cách này đôi khi làm cho người NT lỡ hứa dấn thân làm việc rồi sau này phải hối-hận. Đặc-biệt là mẫu người NT chưa để tình-cảm phát-triển đầy đủ, mà đã liên-hệ với người khác phái trong khi thực sự họ không hợp nhau để trở thành bạn đời. Forester bắt mạch được tấm thảm-kịch đó khi mô-tả nhân-vật thời-danh của ông khi đứng trước bàn thờ:

    Vị chủ-lễ nói: “Xin lặp lại theo tôi: Tôi, Horatio, nhận em Maria Ellen.”..Bỗng dưng trong đầu óc của Hornblower có thoáng một ý-nghĩ rằng đây là những giây phút cuối cùng chàng có thể rút lui không phải thực-hiện một công việc mà chàng biết là không hay. Maria không phải là mẫu người đàn bà đúng y như chàng muốn để làm vợ chàng, cho dù chàng nhìn nhận rằng dù sao chàng cũng xứng đáng để thành-hôn. Nếu như chàng còn có một chút suy-nghĩ, chàng sẽ hủy-bỏ nghi-lễ vào giờ phút chót này, chàng sẽ tuyên-bố rằng chàng đã đổi ý, chàng sẽ rời bỏ bàn thờ, để kệ vị chủ-lễ và Maria đứng đó, và chàng sẽ từ bỏ nhà thờ để chàng trở thành một con người tự-do… “để tôn-trọng và yêu thương”… chàng vẫn còn đó ý như một cái máy, lặp lại những lời của vị chủ-lễ. Maria vẫn còn ở bên chàng đó, với bộ áo cưới mầu trắng. Nàng chan-hoà hạnh-phúc. Nàng tràn ngập lòng yêu thương chàng, cho dù lòng yêu đó có bộ sai chỗ. Chàng không thể và chắc chắn không thể có một hành-động tàn-nhẫn với nàng được. Hornblower lặp lại: “và anh hứa giữ lòng chung-thuỷ với em trọn đời”…Chàng nghĩ như vậy là được rồi. Đó là những lời quyết-định cuối cùng để chứng-tỏ nghi-lễ có giá-trị luật-pháp. Chàng đã tuyên-hứa một lời thề và bây giờ không có cách gì trở ngược lại được nữa. Cũng có một điều an-ủi với tư-tưởng này là cách đây một tuần, chàng đã dấn-thân cam-kết khi Maria khóc nức nở trong tay chàng, tỏ tình yêu thương đối với chàng, và chàng đã quá mềm lòng không dám cười nàng, vì có lẽ chàng quá yếu đuối? quá chân-thật? không dám lợi-dụng nàng để rồi phản-bội nàng? Từ giây phút chàng lắng nghe nàng, từ khoảnh-khắc chàng hôn lại nàng những nụ hôn thật êm dịu, thì dĩ nhiên những điều phải đến đã đến: áo cưới cho cô dâu, nghi-lễ ở nhà thờ St. Thomas, và một tương-lai mơ hồ về tình yêu đằm thắm” (G.S. Forester, Hornblower and the Hotspur, Boston, Little Brown and co. 1962, p.3-4).

    Đôi khi người NT có thể quên tình-cảm của người khác đối với họ và không tế-nhị trong lãnh-vực liên-hệ giữa người với người, một lãnh-vực thật phức-tạp. Người ta thường kể lại rằng khi có người NT hiện-diện, thì không có ai thực sự hiện-hữu nữa, nên họ thường phản-ứng lại bằng cách chỉ-trích, công-kích tâm-tính người NT. Người NT thường phản-ứng lại bằng cách tỏ ra sửng-sốt ngạc-nhiên và ít khi chống-đối phản-pháo lại. Tuy nhiên nếu muốn người NT cũng có khả-năng châm-biếm chua cay và hậu-quả có thể là tai-hại cho người bị châm-biếm.

    Tinh-thần của người NT được gói ghém trong huyền-thoại về Prometheus, một vị thần Hy-lạp, đã tạo-dựng con người từ đất sét. Prometheus bực mình vì con người khô cứng như tượng đá, nên đã cầu cứu nữ-thần Minerva trợ giúp. Nàng chở Prometheus lên trời để ăn trộm lửa từ bánh xe mặt trời. Prometheus đặt ngọn lửa vừa ăn trộm được vào ngực chàng, và chàng trở nên sống động. Prometheus trả giá vụ ăn cắp đó bằng cách bị đóng đinh vào xiềng xích giữa khoảng trời xanh (Grant, p.200). Một con quạ tham lam mổ rách lá gan thâm tím của Prometheus mỗi ngày, năm này qua năm khác. Và vết thương đau không bao giờ tận cùng: mỗi khi đêm về, Prometheus lại phải hứng thân chịu gió rét sương rơi, và lá gan trở lại lành lặn như cũ. Prometheus giải-thoát con người khỏi ngu dốt, cho dù chàng phải lên trời để ăn trộm. Prometheus muốn con người phải tiến-bộ và tặng con người ân-huệ khoa-học và kỹ-thuật.

  5. CHƯƠNG 2

    Bốn nhóm chung về tính tình

    4.- TÍNH TÌNH NHÂN PHẨM: NF
    Thật khó mà diễn-tả thành lời văn bản-tính của người NF: INFJ, ENFJ, INFP và ENFP. Trong khi những người khác SP, SJ , NT theo đuổi những mục-đích bình-thường, thì mục-đích chính của người NF lại là lạ thường. Mục-đích lạ thường của người NF đặc-biệt đến nỗi chính họ cũng không diễn-tả nổi thành ngôn-từ dễ hiểu được. Khó mà quảng-diễn được đầy đủ. Carl Rogers là một trong những người có khả-năng diễn-tả hơn hết trong mẫu người NF, đã trình bầy cho thấy tính cách lý-luận quanh co, lối hùng-biện ngoằn ngoèo của người NF như sau:

    “Trở nên một con người, một nhân-vị, có nghĩa là mỗi người phải tiến-tới hiện-hữu, phải thực-tâm hiểu biết và ước muốn cơ-cấu hiện-hữu mình đang có trong nội-tâm hiện-tại. Họ tránh xa bộ mặt bên ngoài, bỏ đi những gì không phải là chính mình họ. Họ không muốn trở thành gì hơn khác hơn là chính con người thực của họ, với những tâm-tình mung lung hoặc thủ-thế tự-vệ. Họ lắng nghe những vang động thầm-kín nhất trong bản-ngã tâm-linh và tình-cảm của họ, và càng ngày càng chính-xác càng sâu xa hơn. Chính đó là bản-ngã đích-thực của họ”. (Carl Rogers, On Becoming a Person, Boston, Houghton Miffin, 1961, p. 176).

    Mặc dầu những mẫu người khác có thể coi đoạn văn trên như đầy tư-tưởng vòng vo tam quốc hoặc như là vô-nghĩa, người NF quý chuộng cung-kính, coi đây như bản tự-thuật của đường lối người NF: tìm kiếm bản-ngã và nhân-vị. Những người SP, SJ và NT có thể hiểu được mục-đích của những người SP, SJ và NT, cho dù họ không theo đuổi cùng những mục-đích đó. Người NT có thể hiểu tại sao người SP muốn được tự-do không bị trách-nhiệm ràng buộc, cũng như hiểu được rằng người SJ muốn thoải-mái với những sở-hữu. Người SP có thể hiểu được người NT muốn thu-thập kiến-thức khả-năng, và người SJ muốn có đầy đủ tiện-nghi. Người SJ cảm-phục tài-nghệ kỹ-thuật của người NT và thèm muốn bản-tính độ-lượng của người SP. Và đến đây là hết. Không một mẫu người SP, SJ và NT nào có thể hiểu được mục-đích của người NF, và chính người NF cũng không thực sự hiểu được tại sao những mẫu người khác lại dấn-thân theo đuổi những mục-đích mà người NF cho là phù-phiếm giả-trá, bởi lẽ người NF chỉ theo đuổi một cứu-cánh kỳ-lạ, một mục-đích đầy suy-tư khó mà diễn-tả, đó là hình-thành bản-ngã.

    Người SP, SJ và NT có thể tìm ra được mục-đích họ theo đuổi một cách minh-bạch, chính-xác và đầy đủ, còn người NF đi tìm kiếm một bản-ngã hiện-hữu của mình thật là lòng vòng vô-tận. Làm sao ta có thể đạt được mục-đích khi mà mục-đích của ta lại là đi tìm một mục-đích? Bản-ngã trung-thực nhất của người NF là bản-ngã đi tìm bản-ngã, nhân-vị đi kiếm nhân-vị. Nói cách khác, mục-đích của họ sống là để sống có mục-đích. Người NF lúc nào cũng chỉ muốn trở thành hiện-hữu, nên chẳng bao giờ họ thực sự là chính mình, bởi lẽ chính khi họ muốn hành-động để đi tới được bản-ngã của mình thì họ lại đi ra ngoài bản-ngã của họ mất rồi. Hamlet dằn vặt với điều nan-giải đó như sau:

    “Vấn-đề là ‘có’ hoặc ‘không có’. Phải chăng tốt hơn là nên cam-tâm chịu các mũi tên hòn đạn do định-mệnh khắt khe gửi tới? hoặc có nên cầm khí-giới chống lại cả biển đời rắc rối và chiến-đấu tới cùng?”

    Thực ra không có cách nào chính-xác hơn để diễn-tả mục-đích hỗn-hợp của người NF. Hành-động là hủy-diệt hữu-thể, trong khi hiện-hữu mà không có hành-động chỉ là giả-tạo và là vô-thể. Ta chỉ có thể trở thành hữu-thể với điều-kiện là ta chưa phải là hữu-thể như ta sẽ trở thành. Chính đó là điều mâu-thuẫn của người NF trong suốt cuộc đời, và ít khi họ muốn có mục-đích giải-quyết điều mâu-thuẫn đó. Đa-số những người NF nào muốn giải-quyết điều mâu-thuẫn thì được hạnh-phúc và thành-công, còn những ai không muốn, sẽ phải thất-bại và bất-hạnh.

    Người NF tự hỏi: làm sao tôi có thể trở nên con người chân-thật của tôi? Họ muốn phát-triển toàn diện con người, muốn trở thành và muốn sống trung-thực với lòng mình. Họ muốn được sống trọn vẹn ý-nghĩa cuộc đời của họ. Họ muốn trở nên con người độc-nhất vô-nhị đặc-biệt của họ. Họ cứ mải mê tìm kiếm mãi mãi để rồi thường bị mặc-cảm tội lỗi, bởi lẽ họ tưởng rằng họ chưa nhận-diện được con người chân-thực của họ. Dĩ nhiên họ tiếp-tục đi tìm kiếm nữa hoặc trong tinh-thần, hoặc trong tâm-trí, hoặc trong vật-chất, để được thỏa-mãn lòng thèm khát trở thành độc-nhất và độc-đáo, để phát-triển toàn diện con người của mình, để trở nên một hữu-thể toàn-hảo độc-nhất vô-nhị, cho dù phải trải qua những bước đi không rõ ràng.

    “Thế nhưng đâu mới là bản-ngã? là nội-tâm? Xương thịt không phải là bản-ngã. Tư-tưởng, ý-thức chưa phải là nội-tâm. Đó là lời khôn-ngoan thánh-hiền dạy bảo. Thế thì đâu là bản-ngã? Phải tiến-tới cho được bản-ngã. Phải chăng có thể có một con đường nào khác đáng để tìm kiếm? Không ai có thể chỉ tỏ đường đi, chưa ai biết con đường đó: dù là cha mẹ, giáo-sư, thánh-hiền, dù là các bài thánh-ca…Họ biết được nhiều sự kinh-khủng lắm nhưng thử hỏi biết được như vậy có giá-trị gì không, khi mà họ không biết được một sự quan-trọng nhất, quan-trọng nhất đời?” (Herman Hesse, Siđharta, N.Y. New directions Publi. corp. 1951).

    Trở thành một hạt cát nhỏ bé nhất mất hút giữa triệu triệu hạt cát khác trên bãi biển là hư-vô. Để mình bị mất hút trong đám đông quần-chúng, đi tìm cùng một ý-nghĩa cuộc đời như ai khác, chịu chung cùng một định-mệnh vô-danh cũng chỉ kể là hư-vô. Để tạo nên một khác-biệt và để bảo-toàn tính-cách cá-biệt, người khác phải nhìn nhận ra những đóng góp đặc-thù của người NF trong nhiệm-vụ và vai-trò là bạn hữu, người yêu, cha mẹ, lãnh-tụ, con cái, nội-trợ, vợ chồng, đồng-nghiệp, người sáng-tạo. Dù người NF tổ-chức giờ giấc và liên-hệ tình-nghĩa của họ thế nào chăng nữa, họ cũng cần phải tạo nên một ý-nghĩa cho mọi sự. Họ muốn người khác cảm-phục hoặc ít ra nhìn nhận phần đóng góp đáng kể của họ. Chỉ nhờ việc người khác cảm-phục nhìn nhận, người NF mới nhận-diện được tính cách đặc-thù độc-nhất của họ.

    Phát-triển toàn-diện con người đối với người NF là phải trung-thực, thuần-nhất. Không được giả vờ, đóng kịch, làm trò, giấu giếm, chụp mũ, tô vẽ. Sống trung-thực có nghĩa là mình chân-thành với chính mình, truyền-thông cách chính-đáng, dung-hoà với kinh-nghiệm nội-tâm. Sống bất-chính, giả-dối, hai lòng, vờ vịt, có nghĩa là mất đi bản-ngã mà sống cuộc đời bất-tín bất-trung. Sống một cuộc đời có ý-nghĩa, tạo nên một khác-biệt trong cuộc sống: đó là điều làm thoả-mãn lòng người NF đói khát tính cách độc-nhất độc-đáo của họ. Không có gì lạ khi người NF cảm-nghiệm cuộc đời như một tấn-tuồng, mỗi lần gặp gỡ là một lần mang đầy ý-nghĩa. Người NF có thể tạo cho mỗi liên-hệ một ý-nghĩa đặc-biệt cao đẹp, gây nên sóng gió mỗi biến-cố liên-hệ. Người NF rất dễ nhạy cảm với những cử-chỉ tế-nhị và những hành-động tượng-trưng mà các mẫu tính tình khác không nhìn thấy. Người NF cũng dễ bị tổn-thương khi họ gia-giảm mầu sắc cho việc truyền-đạt tư-tưởng trong khi các mẫu người khác không luôn chia sẻ cùng một tư-tưởng, không nhận-định cùng một cách-thức.

    Cách-thức người NF liên-hệ với người khác như sau: trước hết là hăng hái hồ hởi, rồi dốc toàn lực, trao trọn tình-cảm, để rồi cuối cùng là bực tức khó chịu vì đã không được như ý muốn. Người NF ít khi bực mình vì nghị-lực và thời-giờ họ dành riêng cho một mối liên-hệ, nhất là khi liên-hệ đó triển-nở. Người NF không cần phải lãnh-nhận được một cái gì đáp trả lại trước đã, để họ tiếp-tục sống quảng-đại, miễn là họ mong sẽ có một cách nào đó đáp trả lại.

    Chỉ có chừng 12% quần-chúng thuộc mẫu NF , nhưng ảnh-hưởng của họ trên tâm-trí quần-chúng rất là mãnh-liệt, vì đa-số các văn-nhân thi-sĩ đều thộc loại tính tình này. Tiểu-thuyết-gia, kịch-gia, nhà báo, thi-sĩ, tiểu-sử-gia, văn-sĩ nhiều loại đều thuộc nhóm NF này. Những người viết về kỹ-thuật và khoa-học thuộc nhóm NT, nhưng những văn-sĩ nào muốn viết để hướng-dẫn và khắc-phục quần-chúng, những ai muốn sản-xuất văn-chương, đều thuộc nhóm NF. Những đề-tài của nhóm NF như ý-nghĩa cuộc sống, ý-nghĩa cuộc đời của họ, nhân-sinh-quan v.v… đều thấy nhan nhản trong văn-chương tiểu-thuyết giả-tưởng. Đề-tài về những nhân-vật đi tìm kiếm bản-ngã nhân-vị hầu như có trong mọi tiểu-thuyết, được các anh-hùng tiểu-thuyết tuyên-bố rộn ràng, và thường là nguồn gốc khắc-khoải lo-âu trong các bi-kịch.

    Người NF dùng văn-tự để đẩy mạnh vấn-đề đi tìm ý-nghĩa cuộc đời, coi đây như là một cuộc hành-trình mọi người đều phải theo đuổi. Nhiều khi những mẫu người khác như SJ, NT và SP cảm thấy khó chịu, vì nghĩ rằng họ bắt buộc phải theo đuổi những giá-trị mà họ không nhận thấy cần-thiết cho họ. 88% dân-số trên thế-giới cần phải tiếp-sức vào công việc phát-triển toàn diện, đó là một nguồn lực lớn lao làm cho người NF phải say mê.

    Người NF biết rõ rằng ngòi bút có sức mạnh hơn lưỡi gươm. Ảnh-hưởng của người NF không phải chỉ giới-hạn nơi chữ viết. Có khá đông người NF trong các nghề về tâm-bệnh, hướng-dẫn tâm-lý, mục-vụ và giảng dạy. Người NF viết và nói hay hơn các mẫu người khác, và lời văn thường bay bướm chải chuốt. Người NF thích các phương-tiện truyền-thông đại-chúng, nên tỏ ra hiểu biết họ có một sứ-mệnh, và họ dùng đủ mọi cố-gắng sáng-kiến để chinh-phục người khác đồng-ý với quan-điểm của họ, dù là quan-điểm nào.

    Cho dù người NF có thể bị mắc-kẹt vào một vấn-đề, có thể họ sẽ tỏ ra không tha-thiết dấn-thân nếu vấn-đề đó không có ý-nghĩa sâu xa và trường-tồn, nếu vấn-đề đó không giúp nhân-loại sống tốt đẹp hơn, t.d. phong trào thiếu-nhi hoa-đăng (Flower Children) được tập-trung ở khu-vực Haight-Ashbury thành phố San Francisco, có nhiều người NF, nhất là NFP gia-nhập. Nhóm NF nhìn thấy nhóm SP chỉ sống cho khoảnh-khắc hiện-tại nhất-thời, không liên-hệ gì tới quá-khứ hoặc tương-lai, vì họ thấy không cần phải theo đuổi một mục-đích nào cao-xa hơn, một ý-nghĩa nào bao la hơn. Nhóm NF chỉ ở trong phong-trào một thời-gian ngắn rồi rút lui vì ngã lòng. Người NF vào một tổ-chức, một cộng-đoàn cũng nhanh chóng y như họ ra đi để tìm một nơi khác có nhiều cơ-hội phát-triển toàn-diện hơn, để họ biểu-lộ được đặc-tính riêng biệt của họ.

    Thông thường người NF tiếp-tục tìm kiếm những đường lối, những phong-trào đã được quần-chúng tín-nhiệm ủng-hộ. Robert Kirsch nhận-diện được đặc-tính đó nơi ông tổ, thầy dạy và tôn-sư của nhóm hình-thái toàn bộ (Gestalt), Fritz Perls:

    “Ông bước chân vào đời lập-thân rất trễ. Năm 32 tuổi ông vẫn còn sống với mẹ. Năm 53 tuổi ông mới bắt đầu tách rời khỏi trường tự huấn-luyện… Khoảng trung-tuần 60 ông bắt đầu đi đây đó ở Mỹ, thử hút sách, bị từ-chối uy-tín nơi học-đường – điều mà ông luôn tìm kiếm,- khi đó ông mới thấy cuộc đời của ông và thế-giới gặp nhau. Đã đến thời tư-tưởng của ông ảnh-hưởng ở California, những nhà tâm-lý trẻ tuổi rất cảm-phục tài-năng của ông với tư-cách một người trị tâm-bệnh, khả-năng đọc được tư-tưởng của người khác.

    Ông vẫn tiếp-tục đi đây đó: đi Tokyo ở Nhật để học về thiền, đi Elath ở Do-Thái, mãi cho đến khi ông tới Esalen. Lúc đầu ông chẳng hoàn toàn vui sướng gì, vì có nhiều ngôi sao sáng tranh dành ảnh-hưởng.Ông khinh-bỉ các đùối-thủ, gọi Abraham Maslow là con người ‘phát-xít có bọc đường mật’, gọi Rollo May là nhà ‘hiện-sinh vô-hiện-hữu’. Ông có khuynh-hướng bóp méo sự thật, gây khích-động hơn là nhận-định đúng một giá-trị thực.

    Perls đã được phân-tích theo phân-tâm, sinh-năng, siêu-tâm, theo trường-phái Alexander, Rolf, đã đi theo kinh-nghiệm của người khác coi như là con đường giải-thoát của thời-đại chính-đáng. Biết đâu thực-tế là chẳng có giải-pháp nào chính-đáng cả. Ông không bao giờ tìm được một hạnh-phúc suốt đời. Cuộc đời là một vườn hồng với những cánh hoa tàn héo và những mũi gai nhọn sắc” (Robert Kirsch, Fritz Perls, Mining the Gestalt of the Earth, March 23, 1975, p.74)

    Người NF cảm thấy bị lôi-cuốn bởi sứ-mệnh truyền-thông tư-tưởng và truyền-đạt thái-độ, dù là dạy học ở các trường, dù là tôn-sư ở viện Esalen. Hai nhóm SJ và NF là phần chính-yếu của giáo-chức công-lập. Ít có người SP và NT đi dạy học. Nếu người NT có dậy học, họ chỉ thích dạy Đại-học thôi. Người SP không thích việc dạy học bao nhiêu, cho dù có một số ít thích dạy tiểu-học. Cứ 3 người SJ thì có 2 người NF chọn nghề dậy học, và bộ-môn người NF thích chọn dạy là khoa nhân-văn và xã-hội.

    Người NF thích-thú dạy học vì ở đó họ tìm kiếm được chính mình. Họ cũng thích những ngành có mục-đích như vậy, như những ngành trung-gian giúp người ta trở nên hoà-nhã, thân-tình, dễ thương. Người NF nhìn thấy khả-năng hướng-thiện và hoàn-bị của mỗi người, và họ thường tận-tụy hy-sinh để đạt được mục-đích đó. Người NF thích những công cuộc truyền-giáo, các dịch-vụ phục-vụ, những hội-đoàn thiện-nguyện. Có người NF sẵn sàng hy-sinh cá-nhân thật nhiều để giúp người khác đạt được mục-đích trên. Đôi khi người NF tỏ ra nghiêm-khắc đối với chính mình cũng như người khác ngõ hầu đạt mục-đích.

    Nhóm người NF không thích việc buôn bán thương-mại bao nhiêu. Vật-lý-học tỏ ra không hấp-dẫn gì đối với họ . Họ thích làm việc với ngôn-từ, và cần cũng như muốn truyền-thông với người khác hoặc trực-tiếp hoặc gián-tiếp. Một trong các phương-tiện truyền-thông này họ làm việc với người khác qua các nghệ-thuật truyền-thông chuyển-tiếp. Người SP thích nghệ-thuật trình-diễn, còn người NF thích nghệ-thuật dùng chữ viết ngôn-từ để truyền-thông. Nếu là kịch-sĩ, người NF sẽ mang tính tình của vai-trò họ đóng. Người NF đóng vai-trò của chính mình với y-phục cho đúng t.d. John Wayne đóng vai-trò của chính ông với y-phục cao-bồi, binh-sĩ, luật-sư, thương-gia, còn đối với người NF, tất cả con người của họ là vai-trò họ đóng. Người kịch-sĩ SP trước sau vẫn là con người của họ dù đóng vai-trò nào, họ không sợ bị lẫn lộn giữa kịch-tuồng và thực-tế, nhưng người NF tùy như vai-trò họ đóng, họ có thể thay đổi tâm-tính con người của họ.

    Người NF có tài đặc-biệt đóng vai-trò mà người khác muốn quan-sát, và người NF ít khi cảm thấy cần-thiết phải mở mắt cho người khác khỏi bị ảo-tưởng, cho dù họ có đủ tâm-tình để cảm-thông. Trái lại người NF thường che giấu những điều họ tự biết về mình, ngoại trừ những người nào rất là thân-thiết. Quần-chúng nhìn người NF không đúng với những điều họ tự biết về chính mình, làm cho người NF cười thầm khoái-chí. Người NF cứ để mặc kệ mọi việc xẩy ra như bên ngoài người khác nhận xét, mong ước và cần-thiết.

    “Gillian quay mặt khỏi tấm gương. Dẫu sao tấm gương làm sao phản-ảnh đức-tính quan-trọng nhất được. Gillian đi tới quầy rượu, lấy một chai rượu Martini, ngồi đó mà uống, thân-thể loã lồ trong ghế Eames – ghế da lạnh lẽo chạm vào da thịt của nàng: thật đẹp! Đức-tính chủ-yếu có tính cách phản-ứng, một đức-tính như có thể biến-hoá con người của nàng trước con mắt của bất cứ gã đàn ông nào. Nàng có thể để lộ làn da nhợt nhạt, bộ ngực căng phồng, bộ mặt trí-thức, hấp-dẫn lôi cuốn, lạnh nhạt xa vời, và nàng đã cảm thấy việc biến-hoá thay đổi này nhiều lần để biết việc biến-hoá có giá-trị hay không. Nàng có thể biến-hoá để trở thành bất cứ những gì mà người đàn ông muốn lúc đó. Nàng có thể trở thành người đàn bà lý-tưởng mà người đàn ông mơ ước, và nàng thành-công dễ dàng mà không cần phải bỏ đi cá-tính riêng tư con người của nàng…Đây chỉ là một phương-pháp biến-hóa thôi. Không phải máy móc tiểu-xảo gì, nhưng là tính nhậy cảm sắc bén tối-đa. Tất cả chỉ diễn ra nơi con mắt của người ngắm nghía, chứ không có gì thay đổi nơi thân xác của nàng” (Penelope Ashe, Naked came the stranger, N.Y. Dell Publishing co. 1969, p. 13).

    Một tôn-giáo mới của thập-niên ‘60 là phong-trào hội-ngộ (encounter group)): đa-số nhóm NF tìm cách gia-nhập và ảnh-hưởng phong-trào để gầy-dựng những liên-hệ ý-nghĩa hơn, để đi tìm những thân-tình mờ ảo. Họ đi tìm trong những nhóm huấn-luyện tâm-tình, nhóm hình-thái toàn bộ (Gestalt), những tổ-chức thân-hữu, kể cả hội khoả-thân, nhóm chiêm-niệm siêu-thoát (transcendental meditation), nhóm la hét nguyên-thủy (primary therapy): tất cả đều cố-gắng tìm một ý-nghĩa sâu xa cho cuộc đời, muốn sao sống thành-thật hơn, cởi mở hơn. Họ khai-phá những khía cạnh truyền-thông mới bằng ngôn-từ cũng như vô-ngôn-từ, để nhận-thức được các tâm-tình của họ, với hy-vọng chỉ trong giây lát là họ biết được khi nào cảm-xúc hoặc tâm-tình xẩy ra. Họ tìm được ý-nghĩa thân-tình với nhau trong rất nhiều nhóm, và mô-tả kinh-nghiệm đó như là tột-đỉnh của cảm-nghiệm tinh-thần.

    “Vào đúng một lúc nào đó khi tôi gặp được một người đúng tâm-tình, tôi cảm thấy như tôi đang ở nơi nào khác mà chưa bao giờ tôi đến được cả. Thật khó mà diễn-tả. Y như thể mình với người đó ở ngoài không-gian nhìn xuống trái đất này vậy”. (Terry O’Bannion & April O’connell, The Shared Journey, Englewơd Cliffs, NJ, Prentice Hall Inc. 1970, p. 23).

    Thường thường là sau khi kinh-nghiệm tập-thể qua đi rồi, thân-tình cũng tàn phai, và nếp sống chán chường mỗi ngày lại tiếp-diễn. Kinh-nghiệm tập-thể hay tạo nên chán chường, bởi vì người ta mong đợi không thực-tế chút nào vào thành-quả của kinh-nghiệm đó, nhất là người NF khi họ không chịu nhìn nhận rằng họ là một con người bị chia đôi. Thực vậy người NF cứ nói đi nói lại rằng họ nghe thấy một tiếng gọi nội-tâm thúc dục họ phải sống chân-thực, chính-cống và ý-nghĩa. Trong con người NF lúc nào cũng có một tiếng nói đối-thoại đòi hỏi họ phải trở nên chính mình, phải trọn vẹn, phải có ý-nghĩa.

    Cùng một lúc người NF vừa là diễn-viên vừa là khán-giả: họ bị chia đôi hai ngả, không biết nhận-thức làm sao. Họ luôn luôn là diễn-viên trên sân khấu, đồng-thời cũng là khán-giả nhìn mình diễn-xuất trên sân-khấu. Điều tức cười nhất là người NF thèm khát trở nên chính mình thực sự, nhưng lại bị chia đôi mãi mãi, vì một đàng phải đóng kịch, một đàng phải đứng nhìn mình đóng vai-trò của chính mình.

    “Connie nói với Hilda rằng: “Em nghĩ chị lúc nào cũng quá bận-tâm về chính mình chị, đối với hết mọi người” Hilda nói lại: “Chị nghĩ rằng ít ra chị cũng không có bản-tính lệ-thuộc”.

    Connie nói: “Nhưng biết đâu chị có như vậy? Biết đâu chị chỉ là nô-lệ của tư-tưởng của chính mình chị?”

    Hilda chìm đắm trong yên lặng một lúc, sau những lời ngỗ-nghịch bất-ngờ của Connie. Rồi Hilda trả lời lại với giọng điệu thật giận dữ: “Ít ra chị cũng không làm nô-lệ cho tư-tưởng của ai khác về chị, và không ai khác làm nô-lệ cho tư-tưởng của chồng chị”. (D.H. Lawrence, Lady Chatterley’s Lover, N.Y., Bantam Books, 1928; 1968 p.274).

    Có lẽ vì người NF muốn làm việc cho có một ý-nghĩa cũng như để tỏ ra phục-vụ như người SJ và bởi vì người NF muốn làm những việc gì có liên-hệ tới họ và người khác, nên họ thường khó mà đặt giới-hạn cho thời-gian và nghị-lực họ sử-dụng cho công-việc. Người SP làm việc vì kích-thích, bản-năng, người NF làm việc với viễn-tượng trọn-hảo; cái gì cũng phải hoàn-toàn: vở kịch phải tuyệt-tác, tiểu-thuyết thật mê-ly, phim ảnh tuyệt đẹp, tình nghĩa thật tuyệt vời. Dĩ nhiên một khi công việc xong rồi, khi đã xong công-trình sáng-tạo, không có gì hình-thành đúng y như ý-niệm lúc khởi-sự. Tuy thế người NF có khuynh-hướng không muốn và không thể đặt một giới-hạn nào cho công việc của họ, một khi họ đã khởi-sự. Khi đó, công việc có thể đòi hỏi họ cũng như người khác phải gắng công quá sức.

    “Kubrick vẫn còn làm việc 18 tiếng một ngày, kiểm-soát phẩm-chất cuối cùng của âm-thanh…Nếu nói rằng không có gì quan-trọng thì đúng là hoàn-toàn vô-trách-nhiệm. Từ lúc đầu khởi-sự cho đến khi hoàn-thành một cuốn phim, tôi thấy chỉ có một điều làm tôi bị giới-hạn, đó là số tiền tôi muốn chi-tiêu và giờ giấc tôi muốn ngủ nghỉ. Một là bạn cứ để kệ đó muốn ra sao thì ra. Phần tôi không biết đâu là ranh giới phân-chia hai điều đó.” (Kubrick’s Grandest Gamble, Time, N.Y. Dec. 15, 1975, p. 78).

    Mặc dầu người NF có thể say mê đi tìm kiếm những sáng-tạo mới, có khi họ chỉ là trí-thức giả-hiệu, chạy rảo từ tư-tưởng này qua tư-tưởng kia, họ chỉ là một tài-tử đi tìm kiến-thức nếu so-sánh với người NT. Người NF muốn thưởng-thức mọi tiện-nghi dồi dào của cuộc sống, như người SP, nhưng lại muốn rằng kinh-nghiệm đó phải có ý-nghĩa gì khác sâu xa hơn là sự hưởng-thụ. Người NF có khuynh-hướng lãng-mạn thi-vị-hoá kinh-nghiệm, và cuộc sống của họ cũng như của người khác, và họ thích ngắm nhìn người khác hơn là những tư-tưởng trừu-tượng. Cũng như người NT, người NF hướng về tương-lai và chú-tâm đến những gì có thể xẩy ra. Nhưng người NT suy-nghĩ về những gì có thể xẩy ra cho nguyên-tắc, còn người NF suy-nghĩ về những gì có thể xẩy ra cho con người. Họ thích-thú giúp người khác phát-hiện được khả-năng tối-đa, và thường nói về phát-triển khả-năng toàn-diện của mình cũng như của người khác. Người NF nhận-định về chính mình cũng giống như nhận-định về người khác: bất cứ những gì đang hiện-hữu, đều không hoàn toàn trọn hảo như ý muốn. Người NF không chịu nhìn nhận rằng những gì hiện-hữu là tất cả đó rồi.

    Tất nhiên người Hy-lạp tìm được tâm-tính NF trong truyện thần-thoại của họ nơi một thần-minh hấp-dẫn và phức-tạp nhất. Thần Dionysius ham muốn hưởng-thụ rượu nồng và thể-xác, hoàn toàn sống cho hiện-tại và thực-tế. Thần cho con người được hiểu biết thú vui thể xác. Thần Epimetheus đau khổ vì những tai ương do hộp Pandora, nhưng vì muốn trung-thành với đường lối SJ, thần sát cánh bên nàng Pandora tùy theo những điều thần nhận thấy nên hoặc phải làm, ít ra cũng có một điều an-ủi là vì trong hộp đó có một điều tốt, chính là hy-vọng. Con người phát-triển lương-tâm xã-hội, luôn luôn hy-vọng rằng ngày mai trời lại sáng. Thần Prometheus NP lấy làm buồn vì con người chỉ là đất sét, nên đã ăn trộm lửa từ trời đem cho con người, để rồi phải trả giá quá đắt, nhưng ít ra cũng đã tặng cho con người được kỹ-thuật. Trong thần-thoại Hy-lạp, Apollo làm trung-gian, là mối giây liên-kết thần-minh và nhân-loại, trao cho con người một sứ-mệnh, chỉ cho con người biết tiếp-tục tìm kiếm thần-thánh linh-thiêng, cho dù đã biết thế nào là phàm-tục độc-dữ.

    Apollo tự nhận công-tác đem chân-lý và đã lãnh nhiệm-vụ giải-thích cho con người ý muốn của Zeus, thần-minh thân-phụ. Apollo tượng-trưng cho tính cách hai chiều của tinh-thần Hy-lạp: một chiều là lòng khao khát đi tìm lý-tưởng, chân-lý, mỹ-thuật, đạo-đức, linh-thiêng, và một chiều là lòng thèm muốn những gì là phàm-tục, xấu xa, bỉ ổi, xác thịt.

    Apollo đại-diện cho lý-tưởng người Hy-lạp muốn theo đuổi là tinh-thần thuần-khiết, lòng vị-tha muốn giúp người, là phương-pháp trị-liệu bằng ca-nhạc hát xướng. Apollo đại-diện cho những ai chữa trị tâm-hồn và thể xác con người. Apollo có tài nói tiên-tri, là phát-ngôn-viên của thần-minh, là thần cảm-hứng và là nguồn hứng-khởi, là thần-minh không hư-hao. Bộ mặt tàn bạo thô-sơ của Apollo chỉ bùng nổ ra khi quyền tối-thượng bị thách-đố, hoặc khi bị bực mình vì những cố-gắng đem lại bình-an và hạnh-phúc cho con người không được đáp-ứng.

    Trong nội-tâm Apollo có hai chiều hướng xung-khắc nhau: một chiều là ý-thức sứ-mệnh, suy-tôn bản-ngã, tìm kiếm hình ảnh trung-thực, và một chiều là dám sát-hại vì một duyên-cớ, dám dùng phụ-nữ trong việc phụng-tự dù phải liều mất quân-bình đầu óc, và cuối cùng liều lĩnh phản-bội cả Zeus, thần-minh thân-phụ. Nơi Apollo vừa có thần-thánh linh-thiêng vừa có phàm-tục hạ-đẳng.

    Nhóm NF nhìn nhận Apollo như là gương mẫu của họ. Họ không thèm khát vật-chất nhưng là mong muốn giá-trị và nhân-phẩm của con người. Họ không hài-lòng với những gì trừu-tượng, nhưng họ đi tìm liên-hệ tình-nghĩa. Họ không cần đặt nền tảng nơi động-tác nhưng họ rung-động với các hành-động liên-đới. Người NF đi tìm phát-triển toàn-diện con người, đi tìm kiếm hình ảnh trung-thực và tính cách duy-nhất của mình, nên họ ý-thức được rằng đây là một việc phải làm suốt đời, là một lý-tưởng họ phải theo đuổi cho kỳ được để trở thành con người hiện-thực hoàn toàn của mình.

  6. CHƯƠNG 3

    tính tình
    trong việc chọn
    bạn trăm năm

    I.- CÁC MẪU TÍNH TÌNH
    Có rất nhiều thành-tố chi-phối việc tìm hiểu người phối-ngẫu và lựa chọn bạn trăm năm, như lời chỉ-bảo của cha mẹ, điều-kiện kinh-tế, tình-trạng tài-chánh, địa-vị xã-hội, trình-độ văn-hoá, nguồn gốc chủng-tộc, màu da, tầm vóc, khuôn mặt, dáng dấp, cử-chỉ, giọng nói v.v…Nhưng có một sức-lực mạnh hơn tất cả những thành-tố trên, đó là sức mạnh của tính-tình. Nếu như các thành-tố trên được đồng đều nhau, không hơn không kém, người ta sẽ tìm bạn phối-ngẫu với nhau theo như căn-bản mẫu tính tình. Do đó chúng ta nên tìm hiểu xem các mẫu tình tình hợp nhau thế nào và coi xem bốn mẫu tính tình phản-ứng hành-động ra sao trên phương-diện phối-ngẫu.

    Điểm thứ nhất: chúng ta phải đưa ra nhận xét này một cách rất thận-trọng. Hơn hai mươi năm kinh-nghiệm quan-sát các mẫu tính tình (Keirsey bắt đầu quan-sát từ năm 1956) cho biết một sự kiện lạ lùng này: khá nhiều người bị lôi cuốn, hấp-dẫn như kim nam châm: ‘càng khác nhau càng thu hút nhau’. Nếu cuộc tình có đổ vỡ chăng nữa, thì 10 hay 20 năm sau họ cũng lại đi tìm người có tính tình khác-biệt để làm bạn phối-ngẫu.

    Dĩ nhiên quan-niệm ‘càng khác nhau, càng thu-hút nhau’ là một quan-niệm có từ lâu rồi, nhưng ít người tin đó có thể là một sự-thực. Nhìn vào thống-kê của các văn-phòng giới-thiệu hôn-nhân và nhất là bảng vi-tính so sánh dò xét những nét thích-hợp của hai người, chúng ta có cảm-tưởng rằng hai người hợp nhau, giống nhau thì thích nhau, lấy nhau. Nhưng đó là cố-gắng của mấy văn-phòng, nỗ-lực của mấy người viết thảo-chương cho máy vi-tính, chứ thực ra ít khi người ta tự mình hành-động như vậy. Nói như thế không có nghĩa là hai người giống nhau thì không thể sống hoà-hợp với nhau hạnh-phúc đâu, nhưng chỉ có nghĩa là càng khác nhau thì càng hấp-dẫn thích-thú. Tại sao vậy?

    Carl Jung nói rằng không những sự thực là càng khác nhau càng cảm thấy hấp-dẫn, mà phải nói thêm rằng càng khác nhau càng làm cho nhau mê say. Ông quan-niệm về đối-tượng khác-biệt như là một cái ‘bóng của bản-ngã’. ‘Bóng’ không phải là ‘hình’. Bóng là tất cả những gì không thấy được ở trong hình, là tất cả những gì mà con người chưa phát-triển, biểu-lộ, diễn-tả, sống thực được. Y như thể là vì được đối-tượng khác-biệt lôi-cuốn, hấp-dẫn, chúng ta mới có thể tìm đến những gì đã bị bỏ rơi, chối-từ, lãng quên trong nửa kia của bản-ngã, cũng giống như con giun (trùng) bị cắt làm hai, mỗi nửa vằn vò uốn éo để tìm cách kết-hợp với nửa kia cho thành một vậy. Như vậy công cuộc tìm kiếm phần ‘bóng’ , nửa kia của bản-ngã đã được gắn liền, in sâu, tiên-thiên và cố-định của con người, cũng giống như vấn-đề tính-dục hoặc lãnh-vực ranh giới. ( Ở đây chúng ta không theo lý-thuyết của Jung chủ-trương rằng mỗi điều-kiện tiên-thiên, cố-định đều có thể thu gọn lại nơi một điểm nhỏ. Có thể chấp-nhận lý-thuyết chủ-trương mỗi hành-dộng đều do một điều-kiện tiên-thiên, cố-định trước, miễn là đừng bị rơi vào quan-niệm tìm cách ấn-định địa-điểm cho mỗi hành-động).

    Như vậy chúng ta phải công-nhận rằng mỗi người có trực-giác và khuynh-hướng đi tìm những người đối-ngược, và nếu Carl Jung nhận xét đúng, chúng ta muốn tìm gặp những yếu-tố bổ-túc cho con người của chúng ta. Vấn-đề là có nên hành-động như vậy không? Liệu cách tìm bạn phối-ngẫu như vậy có đáng giá và bõ công không? Câu trả lời là nên, nhưng… Nên hành-động như vậy nếu không ai có ý thay đổi con người bạn phối-ngẫu. Và không nên nếu bạn có ý muốn thay đổi người ta. Câu trả lời hai chiều ‘nên, nhưng’ làm phát-sinh ra một giả-thuyết vĩ-đại liên-hệ tới nguồn gốc các hôn-phối đổ vỡ kế-hoạch phép tiên nhiệm-mầu( Pygmalion project: Pygmalion là tên một vị vua ở Cyprus. Ông làm một tượng mỹ-nhân bằng ngà, rồi được nữ-thần Aphrodite cho biến sống thành người thật).

    Trong kế-hoạch phép tiên nhiệm-mầu này, chúng ta tìm đủ mọi cách, cố-gắng đủ mọi lối để chăm sóc lo lắng cho một con người không giống chúng ta chút nào hết, mà nhiều khi còn trái ngược trong nhiều phương-diện nữa, để rồi phải cấm-đoán ngăn cản đủ mọi thứ với hy-vọng biến-hoá người bạn phối-ngẫu trở nên giống như hình ảnh của riêng ta. Làm như thế có nghĩa là coi giấy hôn-thú như giấy phép hành-nghề của một điêu-khắc-gia, cho phép mỗi người đục đẽo, chạm trổ để người kia trở nên giống như mình vậy. Nếu quả thực cả hai người đều thành-công thì thực là nực cười. Nếu được như vậy chắc hẳn nhiều người đã chết phải tỉnh giấc trở về mà coi phép lạ.

    Dĩ nhiên không có cách gì để biến-đổi người bạn phối-ngẫu trở nên giống ta được. Và khi ta cố-gắng để biến-đổi người khác , chính ta đã vô-tình làm phương-hại người ta. Khi muốn thay đổi người bạn phối-ngẫu, hình như ta muốn nói rằng: ta muốn ngươi phải trở nên con người khác, vì ngươi không đáp-ứng mẫu người ta mong muốn. Dĩ nhiên như vậy ta đâu có quý mến con người thực của bạn phối-ngẫu nữa, cho dù đúng ra chính vì điểm khác-biệt đó là lý-do đầu-tiên hai người cảm thấy hấp-dẫn lôi cuốn đối với nhau. Ở đây chúng ta có thể nhận thấy khuynh-hướng của tất cả chúng ta: ai cũng muốn tái-tạo con người, muốn được tái-sinh, hoá-kiếp, nhưng thực sự chúng ta chỉ tìm thấy nguyên-liệu thô-sơ, gỗ đá chưa thành hình-thù gì: tất cả đều thật xa lạ đối với con người của chúng ta. Và càng muốn thành-công, chúng ta càng muốn người bạn phối-ngẫu thay đổi thật nhiều. Phải chăng tất cả chúng ta đều giống Pygmalion, muốn có phép tiên biến-hoá nhiệm-mầu?

    Giả-sử như ý muốn thay đổi người phối-ngẫu bị phản-đối thì phải làm sao đây? Khi đó liệu hai người có tính-tình đối-ngược nhau có thể sống an-vui hạnh-phúc với nhau được không? Nếu chúng ta có thể nhận ra được khuynh-hướng tự-nhiên của mình muốn bắt người phối-ngẫu phải thay đổi điều này cách nọ, xin hãy dừng lại suy-nghĩ mỗi khi cảm thấy khuynh-hướng đó và nín lặng giữ miệng, ta sẽ thấy có một hiện-tượng kỳ-thú xuất-hiện. Chẳng hạn như nếu ta ngưng không tìm cách bắt buộc người phối-ngẫu phải thay đổi quay trở về hướng của ta – để có lý-luận hơn, để có trách-nhiệm hơn, để được tự-nhiên hơn, hoặc để có ý-nghĩa hơn – ta có thể, biết đâu ta có thể quý mến những đặc-tính đã lôi cuốn cho hai người yêu nhau từ thuở ban đầu.

    Nên để ý điều này là không phải ta muốn người phối-ngẫu phải từ-bỏ tính cách tự-nhiên hoặc bất cứ một đặc-tính nào người đó có nhiều, nhưng là ta muốn người đó phải có cùng một nhiệm-vụ như ta. chẳng hạn như phải thành-thạo, hiểu biết, thành-công. Trong khi đó ta quên rằng khi người phối-ngẫu có cùng một chủ-đích như ta, họ đã bỏ bẵng đi chủ-đích của họ rồi. Ta không thể vừa muốn ăn bánh cho no, vừa muốn để bánh ngắm cho đẹp được.

    Nơi đây ta cần phải giải-thích rõ hơn về tính cách đối-ngược khi nói về hai loại tính tình. Hiểu theo nghĩa rộng, những người T (Thinking = suy-tư) đối-ngược với những người S (Sensible = cảm-giác). Theo lý-thuyết của Jung, những người T (Thinker = suy-tư) đối-ngược với những người F (Feeler = tâm-tình), phán-đoán (Judicial) đối-ngược với tri-thức (Perceptive), hướng-ngoại (Extrovert) đối-ngược với hướng-nội (Introvert). Dĩ nhiên không có mẫu hướng-ngoại tuyệt-đối, vì chỉ có 8 mẫu người hướng-ngoại đối-ngược với 8 mẫu người hướng-nội. Và tuy cùng là hướng-ngoại, 8 mẫu tính-tình đó cũng khác nhau khá nhiều.

    Các mẫu tính-tình đối-ngược nhau là

    INTP ESFJ INFP ESTJ

    ENTP ISFJ ENFP ISTJ

    INTJ ESFP INFJ ESTP

    ENTJ ISFP ENFJ ISTP

    Những tính-tình đối-ngược nhau là:

    NF NT SP SJ

    Như vậy các mẫu tính tình đối-ngược nhau dễ lôi-cuốn hấp-dẫn nhau hơn các mẫu tính tình khác. Chẳng hạn như ENFP dễ lôi cuốn tới ISTJ hơn là INTJ. Một thí-dụ khác: ENTJ thích chọn ISFP hơn là INFP, và có thể ưng ESFP vì gần như ISFP hơn là INFP.

    Một điều quan-trọng nữa cần phải để ý khi tìm hiểu người phối-ngẫu: không phải ai cũng muốn cùng một điều giống như ai khác trong hôn-phối. Người NF có thể muốn, hoặc ít ra nói rằng họ muốn, một tình-nghĩa thắm thiết sâu xa, nhưng người NT, SP và SJ không mấy chú-ý tới chiều sâu, vẻ thắm-thiết của tình-nghĩa, rồi không biết thế nào mới thực sự là chiều sâu, là thắm-thiết trong tình-nghĩa hôn-phối.

    Vấn-đề là: mỗi mẫu tính tình muốn gì khi họ phối-ngẫu?

    Chúng ta hãy công-nhận rằng bản-tính của mỗi người phải có một cái gì hấp-dẫn lôi cuốn. Có lẽ ta thử nhìn rảo qua mỗi mẫu tính tình để xem có cái gì hấp-dẫn lôi cuốn hơn cả, hy-vọng sẽ có thêm được một chút tia sáng giúp giải-quyết vấn-đề. Chúng ta dùng 16 nghề-nghiệp tiêu-biểu trong số rất nhiều công việc khác nhau, để hy-vọng có được một hình-ảnh về mỗi mẫu tính tình. Đây là cách cặp đôi 2 mẫu tính tình đối-ngược nhau:

    1% INTP kiến-trúc-sư & 13% ESFJ nhà buôn

    5% ENTP nhà phát-minh & 6% ISFJ bảo-trì

    1% INTJ nhà khoa-học & 13% ESFP diễn-viên

    5% ENTJ chỉ-huy-trưởng & 15% ISFP nghệ-sĩ

    1% INFP nhà chinh-phục & 13% ESTJ điều-hành

    5% ENFP nhà báo & 6% ISTJ giám-đốc

    1% INFJ tác-giả & 13% ESTP cổ-động-viên

    5% ENFJ nhà giáo & 7% ISTP nhà nghề

    nguyên-tắc:

    đối-ngược thì hấp-dẫn lôi cuốn, giống như nam châm: hai cực giống nhau thì đẩy nhau, còn hai cực khác nhau thì hút nhau.

    mẫu 1: INTP kiến-trúc-sư 1%
    Kiến-trúc-sư đây không phải chỉ là người hoạ kiểu xây cất nhà cửa vật-chất. Có người có tài kiến-trúc xây-dựng các hệ-thống tư-tưởng như triết-gia, hoặc sắp-đặt các con số như toán-học, hoặc sắp xếp cấu-tạo các ngôn-từ như thảo-chương-điện-toán vi-tính v.v…Nói tóm lại, điểm nổi mạnh là kiến-trúc trừu-tượng và liên-kết hệ-thống tư-tưởng mạch lạc.

    Tại sao nhà kiến-trúc-sư trừu-tượng lại nhận thấy người ESFJ nhà buôn là hấp-dẫn? Thưa: xin nghĩ đến kỹ-thuật buôn bán một cách rộng rãi hơn, đó là làm sao phải thuyết-phục được người mua muốn bỏ tiền ra mua một phẩm-vật gì có giá-trị hoặc có ích cho họ. Người bán chứng-tỏ họ lo lắng chăm sóc nhu-cầu của người mua, khác hẳn với sự thực là người mua phải trả tiền. Chính đó là thái-độ chính-yếu của nhà buôn ESFJ, và người mua dễ nhìn nhận ra thái-độ đó. Người mua cảm-nghiệm được đường lối bổ-ích này. Chính đó là lý-do tại sao người INTP kiến-trúc-sư và triết-gia cảm thấy người ESFJ nhà buôn hấp-dẫn, vì nhờ đó mà họ được giáp mặt với thế-giới thực-tại.

    Còn người ESFJ nhà buôn thì cảm thấy gì hấp-dẫn nơi người INTP kiến-trúc-sư? Người INTP giống như chiếc bong bóng đầy khinh-khí, chỉ chờ dịp thoát khỏi mặt đất, qua thái-độ trừu-tượng. Họ cần có sợi giây buộc họ lại, để thỉnh thoảng họ quay về với trái đất. Hiểu theo một nghĩa nào đó, họ cần sống thực-tế, cho dù họ có thái-độ lãnh-đạm thờ-ơ.

    Chừng 15% người thuộc mẫu ESFJ nhà buôn: họ cũng cảm thấy một mẫu người khác hấp-dẫn như vậy. Đó là người đối-ngược với họ cùng về phía thành-tố S: người ISTP nhà nghề. Người ISTP nhà nghề rất tinh đời nhận-diện cuộc đời. nhưng trớ trêu thay họ chẳng quan-tâm bao nhiêu đến những sản-phẩm của họ. Họ chỉ để ý đến diễn-tiến của công việc thôi. Hơn thế nữa, họ thường muốn có những máy móc với vận-tốc nhanh để thoả-mãn lòng họ khao-khát mạo-hiểm và thích-thú. Vì thế hiểu theo một nghĩa nào đó, người ISTP nhà nghề cũng xa vời thực-tế như người INTP kiến-trúc-sư lãnh-đạm với thành-quả. Cả hai đều cần người người ESFJ nhà buôn đưa vào quỹ-đạo thực-tế, cần được họ mua bán trao đổi.

    Có khi người INTP kiến-trúc-sư cũng thấy người ENFJ nhà giáo là hấp-dẫn. Nhà giáo là người tạo nên điều-kiện để người khác phát-triển tăng-trưởng, là người giúp cho người khác nhận-định ra khả-năng và làm triển-nở các năng-khiếu, là người mở đường vẽ lối cho người khác. Tất cả các mẫu ngươi NF hình như đều có khả-năng này và muốn biểu-lộ ra, tuy nhiên người ENFJ nhà giáo là nhiều khả-năng hơn cả. Một bản điều-tra thăm dò ý-kiến giáo-chức về các mẫu người trong giáo-chức và quản-trị xem ai là giáo-sư gương mẫu mà họ quen biết, cho biết kết-quả luôn là người ENFJ nhà giáo. (J. Wright, luận-án tiến-sĩ chưa xuất-bản, Claremont Graduate School)

    Liên-hệ tình-nghĩa giữa người ENFJ nhà giáo và người INTP kiến-trúc-sư có thể rất sâu xa ý-nghĩa đối với người ENFJ nhà giáo và rất hấp-dẫn sinh-động đối với người INTP kiến-trúc-sư.

    mẫu 2: ENTP nhà phát-minh 5%
    Con người ENTP đầy sáng-kiến phát-minh tìm ra phần bổ-túc kiện-toàn nơi người ISFJ bảo-trì-viên. Hiểu theo nghĩa rộng, bảo-trì-viên là người ý-thức được trách-nhiệm bảo-vệ vật-chất cũng như duy-trì tinh-thần những gì họ được trao-phó. Hiểu theo nghĩa rộng, nhà phát-minh là người sẵn sàng thay thế những dụng-cụ cũ kỹ, những hoạt-động lỗi thời, những phương-pháp cổ xưa bằng những gì mới hơn, tốt hơn, hữu-hiệu hơn. Người ENTP phát-minh muốn chứng-tỏ tái phát-minh của ho,ï nên dĩ nhiên họ cần phải được giới-thiệu, quảng-cáo, suy-tôn. Vì thế người ENTP phát-minh dễ bị va chạm với các vị niên-trưởng trong một cơ-cấu tổ-chức, những vị không muốn thay thế những dụng-cụ đã quen dùng, những hoạt-động đã thành lề-thói, những phương-pháp cổ-điển được truyền-tụng mà người ENTP phát-minh muốn bỏ đi. Nếu người ISFJ bảo-trì-viên phối-ngẫu với người ENTP phát-minh thì người ISFJ có nhiệm-vụ thương-lượng điều-đình với cơ-cấu tổ-chức.

    Người ENTP cũng có thể cảm thấy hấp-dẫn nơi mẫu người đối-ngược cùng phía trực-giác N của họ là mẫu người INFJ tác-giả. Nhưng người INFJ tác-giả lại khác người ISFJ bảo-trì-viên một cách thật buồn cười, cho dù nhìn qua hai mẫu người có vẻ như giống nhau. Trong con người INFJ là tâm-hồn của tác-giả, người tạo-dựng ý-nghĩa, người huyền-nhiệm, người tiên-tri sấm-ngôn. Có lẽ người INFJ là người bảo-trì tâm-hồn giống như một vị cứu-tinh vậy. Dù sao cũng nên để ý đến một điểm về mẫu người INFJ tác-giả hiểu theo một nghĩa rộng, mà người ENTP phát-minh ham-mê. Nhớ lại chuyện thần Prometheus phải trả giá rất đắt vì đã cho loài người có được lửa. Người Prometheus ENTP phát-minh có thể nghĩ rằng cho dù người phối-ngẫu INFJ tác-giả không cứu họ thoát thân xác, khỏi đau khổ vật-chất, ít ra cũng cứu họ thoát khỏi đau khổ tinh-thần.

    mẫu 3: INTJ nhà khoa-học 1%
    Người INTJ nhà khoa-học muốn kiểm-soát chế-ngự thiên-nhiên, nên họ khó chọn bạn phối-ngẫu hơn các mẫu tính-tình khác. Họ lựa chọn bạn phối-ngẫu theo đường lối khoa-học. Có thể chính những vở kịch, phim ảnh, chuyện kể đề-cao phương-pháp lý-luận và khách-quan là mục-tiêu thích-hợp cho người INTJ nhà khoa-học. Dù sao khi còn trẻ, người INTJ cũng thích tính cách hồn-nhiên, tự-do vui chơi của người ESFP diễn-viên. Nhưng rồi người INTJ phải tìm hiểu xem người phối-ngẫu có đúng tiêu-chuẩn không đã; nếu không, họ sẽ bỏ ngay. Chính vì thế, người INTJ thường không theo đuổi cho đến cùng những gì hấp-dẫn tự-nhiên lúc ban đầu. Vì họ theo phương-pháp khoa-học và lý-luận, nên cuối cùng họ thường chọn người cùng một tính tình hơn là người có tính tình đối-ngược, tâm-niệm rằng giống nhau thì dễ hợp nhau. Nhà khoa-học INTJ cũng dễ hấp-dẫn tới nhà báo ENFP, có lẽ vì tính cách phấn-khởi, hồ-hởi, vui nhộn, sốt dẻo, đối-ngược với tính cách thận-trọng, suy-tư, chính-xác của chính họ.

    mẫu 4: ENTJ chỉ-huy-trưởng 5%
    Người ENTJ chỉ-huy-trưởng có khuynh-hướng tự-nhiên muốn chỉ-huy, có nghĩa là họ muốn ra tay chỉ-huy điều-động các lực-lượng, để họ dùng sức mạnh hoặc tuyên-chiến khi cần. Nếu người ENTJ đứng đầu một cơ-sở, họ điều-khiển cơ-sở y như một tướng-lãnh chỉ-huy binh-sĩ: chú-ý tới chiến-lược trường-kỳ, và không quên những liên-hệ tới chiến-lược đó: kế-hoạch điều-động, lý-luận và hậu-quả. Tuy nhiên người chỉ-huy vạn quân lại tỏ ra mềm yếu trước một cánh hoa đồng nội để say mê người ISFP nghệ-sĩ. Có lẽ người ENTJ muốn có đuợc người phối-ngẫu chia vui sẻ buồn với mình trong vẻ âm-u huyền-diệu của thiên-nhiên rừng rú, hoặc nơi thôn-dã thanh-bình yên-tình, xa rời đám đông cuồng-nhiệt. Như vậy sở làm và nhà ở là hai nơi thật cách xa riêng biệt.

    Người ENTJ cảm thấy hấp-dẫn tới người đối-ngược trong nhóm Apollo NF, người INFP nhà chinh-phục, con người đơn-thương độc-mã đi tìm kiếm chinh-phục. Có gì hấp-dẫn nơi người INFP vậy, như trường-hợp Thánh-nữ Joan of Arc (Hai Bà Trưng)? Trước hết, phải nhìn nhận rằng hai mẫu tính tình bề ngoài coi như giống nhau: INFP và ISFP. Có lẽ đó là bộ mặt nổi bật của mẫu INFP nhà chinh-phục: ra đi để chinh-phục. Hiểu theo một nghĩa nào đó, cả hai người INFP chinh-phục và ISFP nghệ-sĩ đều có tinh-thần lên đường đi chinh-phục: người INFP đi tìm kiếm chinh-phục người phối-ngẫu, còn người ISFP coi người phối-ngẫu như một phần của toàn bộ thiên-nhiên thanh-thản.

    mẫu 5: INFP nhà chinh-phục 1%
    Có lẽ người INFP nhà chinh-phục gặp nhiều vấn-đề rắc rối trong vấn-đề phối-ng 01;i mới có 1-2 người là INFP#7873; rắc rối nhất của họ là cách họ nhìn đời, nhân-sinh-quan. Người INFP nhà chinh-phục quan-niệm cuộc sống là một vấn-đề rất hệ-trọng. Do đó, khi một người coi cuộc đời của mình như là một cuộc viễn-chinh hoặc một chuỗi liên-tiếp những ngày viễn-chinh, dĩ nhiên người phối-ngẫu sẽ bị ảnh-hưởng liên-lụy. Nếu người INFP nhà chinh-phục mang thêm một bộ mặt khác của loại tính tình này, bộ mặt ẩn-tu, lúc chinh-phục lúc ẩn-tu, người phối-ngẫu lại càng bị ảnh-hưởng liên-lụy, vì muốn đưa con người ẩn-tu ra khỏi bóng tối suy-tư của nơi ẩn-dật.

    Những mẫu đối-ngược với con người vừa chinh-phục vừa ẩn-tu có lẽ thích-hợp với tính-cách nước đôi này: mẫu người ENTJ chỉ-huy-trưởng và ESTJ quản-trị-viên. Cả hai mẫu đều có căn-bản thực-tế để trả đũa. Người ENTJ chỉ-huy-trưởng dồn hết lực-lượng tâm-huyết hướng về mục-tiêu xa xôi, còn người ESTJ quản-trị-viên sắp xếp những gì dưới quyền họ theo phương-pháp vững chắc, đáng tin và truyền-thống. Cả hai mẫu tính tình đều tạo nên một căn-bản vững chắc cho người INFP chinh-phục để họ khỏi bị lạc-lõng khi ra đi chinh-phục hoặc suy-tư ẩn-dật. Nếu người INFP nhà chinh-phục chọn một mẫu tính tình khác không liên-hệ bao nhiêu như ISTP nhà nghề hoặc ESTP cổ-động-viên, họ chứng-tỏ không khôn-ngoan chút nào trong vấn-đề hệ-trọng như vấn-đề nhân-sinh.

    mẫu 6: ENFP nhà báo 5%
    Đây là con người thích loan tin hay tuyên-bố. Nhưng bên trong cái vỏ hăng-hái nhiệt-thành đó là một con người rất tận-tụy đi tìm ý-nghĩa cuộc sống gần giống như người INFP nhà chinh-phục, người chiến-sĩ. Chỉ có điều là người ENFP nhà báo không ra đi viễn-chinh cũng chẳng ẩn-dật suy-tư, nhất là một cách truờng-kỳ. Người ENFP nhà báo thấy cái gì cũng nhào vô hết, lục lọi sục sạo giống như chó săn, ngửi hơi xem có gì mới lạ không. Người ENFP nhà báo muốn nhúng tay vào mọi chuyện, không thể chịu trận đứng ngoài vòng được. Đó là lý-do họ là những phóng-viên, người săn tin, nhà báo tuyệt vời. Vậy ai là người thích mẫu người lục lọi sục sạo, sôi động nhưng lại nghiêm-chỉnh này? Dĩ nhiên là mẫu người ISTJ ban giám-đốc, con người vững như bàn thạch. Con người ISTJ ban giám-đốc ước muốn giữ sổ sách đàng-hoàng, quân-bình ngân-sách, duy-trì và bảo-vệ mọi sự, lèo lái con thuyền đi đúng hướng, chỉ-huy hướng đi, cũng sẽ rất thích-thú được giúp cho người ENFP nhà báo xông xáo đây đó được nơi an-toàn để dung-thân khi cần.

    Có mẫu người nào khác thấy hấp-dẫn đối với nhà báo hiếu-kỳ không? Bất-ngờ thay là nhà khoa-học trừu-tượng INTJ. Nhà khoa-học dễ lạc-lối trong thế-giới giả-thuyết và ảo-tưởng trừu-tượng, dễ tìm được hướng đi và chỗ nương tựa nơi con người thành-thạo diễn-tiến trên thế-giới thực-tế. Như vậy người ENFP nhà báo có thể trở nên chỗ nương tựa hoặc tìm được nơi nương-tựa nơi người INTJ nhà khoa-học. Khó mà biết ai chọn ai, ai cần ai!

    mẫu 7: INFJ tác-giả 1%
    Người INFJ tác-giả lắm lời có thể đi chọn người ENTP nhà phát-minh đầy sáng-kiến, hoặc cũng có thể đi tìm kiếm một mẫu người đối-ngược đó là ESTP cổ-động-viên. Nhìn bề ngoài coi bộ người ESTP cổ-động-viên và người ENTP nhà phát-minh có vẻ giống nhau: dễ thương, dịu dàng, lịch-sự, vui tính, khôn-ngoan, rất dễ tiếp-xúc, mạo-hiểm, đôi khi bất-cẩn. Người ESTP cổ-động-viên có nhiệm-vụ cổ-động quảng-cáo, người ENTP nhà phát-minh có nhiệm-vụ phát-minh sáng-chế, và đó không phải là khác-biệt nhỏ. Người phát-minh sáng-chế ra một bộ máy, một dụng-cụ, nhưng chỉ có người cổ-động-viên mới tạo nên một thương-trường tiêu-thụ dụng-cụ, một dịch-vụ sản-xuất bộ máy được thôi.

    Muốn thành-công người cổ-động-viên đúng ra phải có nhiều mánh lới lắm mới tạo được sự tín-nhiệm nơi quần-chúng. Như vậy tại sao con người INFJ tác-giả đi tìm ý-nghĩa chủ-đích lại thấy lôi cuốn tới con người ESTP cổ-động-viên mánh-lới? Đó là vì người INFJ muốn cho người ESTP nhận-diện được tâm-hồn mình và tìm ra ý-nghĩa những việc mình làm. Cũng vậy, tại sao người INFJ cảm thấy lôi cuốn tới người ENTP nhà phát-minh? Đó là vì người INFJ muốn giải-cứu người ENTP khỏi những ngông cuồng khờ dại, và quả thực đa-số các nhà phát-minh sáng-chế đều yểu-mệnh chết non.

    mẫu 8: ENFJ: nhà giáo 5%
    Ai có thể bổ-túc cho con người chuyên giúp người khác lớn lên đây? Đối-ngược về phía S là người ISTP nhà nghề. Người ENFJ nhà giáo dễ giúp cho người ISTP nhà nghề thực-hiện ngón nghề của mình. Tuy nhiên người ISTP nhà nghề đôi khi có một khía cạnh khác nữa trong tính-tình của họ, và thỉnh thoảng trở thành chủ-lực của cuộc sống: mạo-hiểm và khai-phá.

    Người ISTP nhà nghề có thể đi lạc-đường, đặt bước vào những nơi chưa biết. Khó mà tưởng-tượng ra được rằng người ENFJ nhà giáo cũng có khuynh-hướng ham muốn tương-tự.

    Như đã nói trên, người ENFJ nhà giáo nhận thấy người INTP (coi số 1: kiến-trúc-sư) hấp-dẫn. Đây là mục-tiêu ngoạn-mục cho nhà giáo giúp người khác phát-triển và lớn lên, bởi vì bên dưới bộ mặt lạnh lùng, trầm-tĩnh, vô-tư và nghi-ngờ là cả một kiến-trúc dinh-thự, máy móc, hoạt-động, sách-lược, ngôn-từ, tính toán, và bất cứ những gì có thể phác-hoạ ra được. Chính đó là cơ-hội để nhà giáo giúp kiến-trúc-sư ra mắt, thi-thố tài-năng.

    Nếu người ENFJ nhà giáo là giáo-chức thực-thụ dù ở trình-độ nào, họ sẽ bớt lôi cuốn đi tìm tính tình đối-ngược. Dĩ nhiên đa-số người ENFJ không hành-nghề giáo-chức.

    mẫu 9: ESFJ nhà buôn 13%
    Chúng ta đã nhận thấy hai mẫu người ESFJ nhà buôn và INTP kiến-trúc-sư thu-hút nhau (coi số 1). Người ESFJ nhà buôn muốn tạo nên căn-cứ-điểm để người INTP kiến-trúc-sư có thể bay cao hơn trên các tầng lầu trừu-tượng, lại nhận thấy người ISTP nhà nghề cần phải có điểm nương-tựa hơn nữa. Người ISTP nhà nghề muốn bay cao thực sự. Hãy quan-sát phòng chỉ-huy của các phi-cơ, ta sẽ thấy toàn là những người ISTP nhà nghề thôi. Dĩ nhiên không phải bất cứ người ISTP nhà nghề nào nào cũng thích bay cao thực sự, nhưng khuynh-hướng mạo-hiểm và khám-phá vẫn tiềm-ẩn nơi con người của họ, y như con thiêu-thân nhìn thấy ánh-sáng là phải lao đầu vào. Như vậy có ích-lợi gì cho bản-tính vị-tha, xả-kỷ, hy-sinh, chăm sóc của người ESFJ nhà buôn không? Thưa có chứ. Đó là khi người ISTP nhà nghề thám-hiểm khám-phá xong trở về, đã có sẵn người ESFJ nhà buôn chờ đón để uỷ-lạo, săn sóc cho nghỉ-ngơi và giải-trí.

    mẫu 10: ISFJ bảo-trì-viên 6%
    Chúng ta đã thấy lý-do tại sao bản-tính bảo-trì của người ISFJ bảo-trì-viên bổ-túc hoà-hợp với người ENTP nhà phát-minh (coi lại số 2). Giữa người ISFJ bảo-trì-viên và người ESTP cổ-động-viên càng có liên-hệ mật-thiết hơn. Người ESTP mau mắn, lanh-lợi, uyển-chuyển thương-lượng cần có nơi để nương-tựa. Người ESTP có khuynh-hướng có những lúc bốc-đồng lên cao chín tầng mây xanh với đủ mọi thứ hoạt-động, còn người ISFJ thích cung-cấp một nơi để những người xuất-thần có thể xả-hơi tĩnh-dưỡng.

    Thông-thường người ISFJ tìm những nghề-nghiệp đòi hỏi phục-vụ, chăm sóc giúp đỡ. Họ cũng thích làm những công việc tương-tự như vậy ở nhà và vì thế dễ bận bịu hơn người khác. Nếu người phối-ngẫu không biết cảm-phục biết ơn những việc đó, họ có thể phàn-nàn lẩm bẩm vì hy-sinh như những anh-hùng vô-danh.

    mẫu 11: ESFP diễn-viên 13%
    Người ta đã nghiên-cứu mối liên-hệ giữa những người INTJ nhà khoa-học và người ESFP diễn-viên. Tuy nhiên liên-hệ tình-nghĩa giữa hai mẫu người rất là hoạ-hiếm, nên nghiên-cứu tỉ mỉ để mà học hỏi đúng hơn là để áp-dụng thực-tế. Trong 100 người mới có 1-2 người INTJ, và người INTJ nhà khoa-học ít khi có dịp tiếp-xúc với người ESFP diễn-viên. Thông-thường người ESFP thấy dễ lôi cuốn tới người ISTJ ban giám-đốc. Người ESFP đầy nghị-lực hăng say chuẩn-bị một xuất trình-diễn: họ cần xuất-đầu lộ-diện, thích tiệc trà ăn uống, hội họp đình đám. Người ESFP là linh-hồn của bất cứ cuộc họp mặt gặp gỡ nào. Không biết bao nhiêu lần tiểu-thuyết-gia, kịch-gia, ký-giả màn ảnh đã viết chuyện nói về mối tình giữa nhà triệu-phú và người kỹ-nữ, chàng công-tử bột và ông phú-hộ. Người ESFP diễn-viên muốn đem lại sinh-lực phấn-khởi cho người ISTJ ban giám-đốc, đồng-thời cũng lại muốn nhờ người ISTJ trung-kiên và trách-nhiệm mà ổn-định cuộc đời của mình.

    mẫu 12: ISFP nghệ-sĩ 15%
    Người ISFP nghệ-sĩ theo đuổi hai chủ-đề: một là muốn sống gần thiên-nhiên, hai là muốn sinh-hoạt nghệ-thuật. Chính vì vậy mà người ISFP không có vẻ vụ-lợi, cho dù là thực sự họ cảm thấy khía-cạnh vụ-lợi thật hấp-dẫn. Tính tình đối-ngược về phía N là người ENTJ chỉ-huy-trưởng, loại tính tình hung hăng đầy nhiệt-huyết, nhất là để thực-hiện một kế-hoạch, một chương-trình. Người ISFP dễ trở thành người hoà-giải, trung-gian, người cổ-võ sống thiên-nhiên, nhưng cũng có lúc muốn tìm người có tài lãnh-đạo, chỉ-huy để thực-hiện một chương-trình ngắn hạn. Người ISFP nghệ-sĩ dễ lôi cuốn tới người ESTJ ban điều-hành, con người có đầu óc thích-hợp để điều-hành quản-trị mọi việc dù cho nhất-thời. Nên nhớ rằng người nào hay chê bai một cơ-sở tổ-chức cũng chính là người muốn cầm đầu cơ-sở tổ-chức đó. Khi người ISFP nghệ-sĩ cưới một người ENTJ chỉ-huy-trưởng hoặc ESTJ ban điều-hành, họ không có ý muốn thay đổi người phối-ngẫu thành một con người thích thiên-nhiên đâu. Trong các mẫu tính tình, người ISFP là con người dễ tính nhất để ai làm gì cũng được, việc gì ra sao cũng không sao. Chính thái-độ này là môi-trường thích-hợp để xí-nghiệp phát-triển và văn-minh tăng-tiến.

    mẫu 13: ESTJ ban điều-hành 13%
    Người ESTJ ban điều-hành cảm thấy thích-thú và thoải-mái được bảo-tồn một cơ-sở, giúp cho cơ-cấu được vững bền, dung-hoà, bảo-đảm, thứ-tự đâu vào đó. Thế nhưng họ lại thích lôi cuốn tới người ISFP nhà nghệ-sĩ siêu! Chắc hẳn họ không hy-vọng thay đổi con người nghệ-sĩ siêu này thành ra giống như họ được. Hình như họ thấy lối sống siêu-thoát, bất-cần của nghệ-sĩ giúp họ bớt lo-lắng về những trách-nhiệm vĩ-đại mà họ phải ra tay gánh vác.

    Có khi họ tìm ra mẫu tính tình đối-ngược lại hấp-dẫn, người INFP nhà chinh-phục với khuynh-hướng ẩn-dật. Đó là điều thật hoạ-hiếm vì cứ 15 người ESTJ quản-trị-viên mới có một người INFP nhà chinh-phục. Khó mà tin được rằng người ESTJ sẽ tìm được an-vui thảnh thơi nơi người INFP, bởi lẽ dưới bộ mặt ẩn-dật, còn tiềm-tàng khả-năng một chiến-sĩ xung-phong, – điều mà ít khi biểu-lộ ra khi người ESTJ đi tìm kiếm. Có khi họ tự đòi hỏi mình phải tiến sâu hơn trong liên-hệ tình-nghĩa để tìm ra ý-nghĩa đích-thực nhưng lại chẳng biết phải làm thế nào. Họ càng cố-gắng thì càng chứng-tỏ họ chỉ thấy giả-tạo và vô-nghĩa.

    mẫu 14: ISTJ ban giám-đốc 6%
    Đây là con người tổng-hợp của bảo-đảm, chuẩn-bị, và liên-kết, một con người với ý-muốn được tín-nhiệm. Dĩ nhiên họ thích những nghề về kết-toán, ngân-hàng, thị-trường chứng-khoán. Thử tưởng-tượng xem cả hai người phối-ngẫu đều là ISTJ: hai tượng đá đứng bên nhau. Vững chắc thì có vững chắc đó, nhưng đâu có dễ dàng bắc nhịp cầu thông-cảm.

    Người ISTJ ban giám-đốc thấy lôi cuốn tới mẫu tình tình đối-ngược là người ESFP diễn-viên vì tính cách sống động linh-hoạt. Người ISTJ chỉ thích thu-tích tiết-kiệm sẽ cảm thấy lôi cuốn tới người ESFP chỉ thích chi tiêu, sử-dụng. Đối-nguợc nhau hoàn toàn nhưng lại dễ yêu nhau và cưới nhau.

    Người ISTJ có thể thấy tính tình đối-ngược về khía cạnh N là hấp-dẫn lôi cuốn, người ENFP nhà báo. Cứ 100 người thì có 5 người ban giám-đốc và 5 người ENFP nhà báo. Có lẽ họ cảm thấy người ENFP muốn loan tin cũng giống như tâm-tình của người ESFP diễn-viên muốn trình-diễn vậy. Dĩ nhiên cả hai mẫu người ENFP và ESFP đều có chung tính cách sống động và linh-hoạt, một đức tính quý báu dễ làm cho người ISTJ cẩn-thận nghiêm-nghị được vui vẻ.

    mẫu 15: ESTP cổ-động-viên 13%
    Trong 100 người có 13-15 người ESTP cổ-động-viên, mà chỉ có 1-2 người INFJ tác-giả, tính tình đối-ngược nhau về khía cạnh N, nên ít khi có vụ 2 người hợp-duyên với nhau. Cứ thử tưởng-tượng xem làm sao một người tác-giả thích suy-tư tiên-đoán, lại có thể hợp duyên được với một cổ-động-viên thương-lượng tính toán. Nên nhớ rằng các vị tổng-thống lỗi-lạc của Hoa-kỳ như J.F. Kennedy, L.B. Johnson, T. Roosevelt, F.D. Roosevelt đều là người ESTP ít ai sánh kịp. Có lẽ nên nghiên-cứu xem tính tình của các đệ-nhất phu-nhân ra sao xem họ có phải là người INFJ tác-giả suy-tư tiên-đoán hay không.

    Người ESTP hình như thích lựa chọn người ISFJ bảo-trì-viên. Nếu chồng là ESTP cổ-động-viên và vợ là ISFJ bảo-trì-viên thì thật là xứng đôi vừa lứa. Thiên-kiến về vai-trò nam nữ trong xã-hội có thể cho thấy một đôi vợ ESTP và chồng ISFJ khó mà thành-công, nhưng nếu cố-gắng hoà-hợp điều-chỉnh với xã-hội thay đổi, họ cũng có thể thành-công.

    mẫu 16: ISTP nhà nghề 7%
    Con người ISTP nhà nghề có thể đi tìm kiếm mẫu tính tình đối-ngược, người ENFJ nhà giáo. Như đã nói ở trên (coi số 8) nơi người ENFJ nhà giáo có yếu-tố giúp người khác tăng-trưởng phát-triển, nên người ISTP nhà nghề coi đó như cần-thiết để bổ-túc cho mình. Tuy nhiên nơi bản-tính của người ENFJ không có gì giúp cho khía cạnh mạo-hiểm của tính tình người ISTP. Nếu người ISTP nặng về mạo-hiểm quá nhiều, tình-nghĩa giữa người ENFJ nhà giáo và người ISTP nhà nghề sẽ gặp nhiều rắc rối.

    Người ISTP nhà nghề không cảm thấy lôi cuốn chút nào tới người ESFJ nhà buôn dẻo miệng, đon đả, ân-cần, chiêu-đãi. Người ESFJ nhà buôn phải đích-thân chủ-sự mời người ISTP nhà nghề rời ghế xe hơi, ghế phi-cơ, xe gắn máy thật lâu mới được, để họ biết liên-hệ với người khác một cách hữu-hiệu và thoải-mái hơn. Người ISTP nhà nghề cần nơi nương-tựa; nếu không, họ sẽ ra đi tìm kiếm chân-trời mới. Khi người ISTP nghe hai chữ ‘ra đi, lên đường’, họ coi đó như điều tâm-niệm nằm lòng và họ cố công thực-hiện y như vậy.

  7. CHƯƠNG 3

    tính tình
    trong việc chọn
    bạn trăm năm

    II.- TÍNH TÌNH TRONG HÔN-PHỐI

    1.- người phối-ngẫu chịu chơi (sống phê) SP
    Dù là người hướng-ngoại E hay hướng-nội I, dù là suy-tư T hay tâm-tình F, dù là nam hay nữ, người phối-ngẫu SP cũng tạo nên hình ảnh một người quán-quân chuyện chăn gối, một người xuất-chúng đòi hỏi những thí-nghiệm trong việc vợ chồng. Tuy nhiên, những chi-tiết như phải thí-nghiệm thế nào lại do người khác cung-ứng chứ chính người SP không nghĩ tưởng ra. Người SP thích nói chuyện về tính-dục, có những chuyện tiếu-lâm trong quần lót (đùi), và muốn những chi-tiết này nọ về đời sồng sinh-lý của người khác. Các tiểu-thuyết tả-chân về sinh-lý thường mô-tả mẫu người SP hơn là mẫu người khác. Người SP đáp-ứng dễ dàng các điều-kiện về thính-giác, vị-giác và xúc-giác hơn các mẫu người khác, vì tất cả những cảm-giác này đều cụ-thể, thực-tế và khêu gợi. Những điều-kiện biểu-tượng như thi phú không làm rung động mẫu người SP.

    Người SP chủ-trương sống là để hưởng-thụ, nên dù trong đời sống sinh-lý cũng như trong các hoạt-động vui chơi, làm việc, ngủ nghỉ, họ đều hưởng-thụ một cách tối-đa. Họ thích thay đổi trong mọi sự, kể cả vấn-đề sinh-lý. Người SP có thể cảm thấy hưởng thụ tình-ái vì những biểu-lộ mâu-thuẫn, cũng như vì say mê ái-tình. Có khi họ cảm thấy những giọt nước mắt, những lời cãi cọ, những nét mặt giận hờn nơi người phối-ngẫu hoặc chính nơi họ lại trở nên nguồn kích-thích khơi-động. Những phim ảnh ma quái, tai-nạn, chiến-tranh, những hình ảnh tình-tứ lộ-liễu, mạnh bạo, dữ dằn có khi làm cho họ rung động. Những chuyện tình dài dòng vòng vo tam-quốc không lôi cuốn họ bao nhiêu, mà có khi còn làm cho họ mất kiên-nhẫn nữa. Những nữ-thần tình-ái và các vua làm tình trên màn ảnh dễ kích-thích họ. Vì hiểu theo nghĩa hưởng-lạc, họ luôn đi tìm kiếm thích-thú và mạo-hiểm. Những nhân-vật Romeo-Juliet, Héloise-Abélard chắc hẳn không phải là SP. Nói cho đúng, người SP sẽ cảm thấy tội-nghiệp cho những mối tình lẩm cẩm lòng thòng đó.

    Người SP dễ thích-ứng và cảm thấy thoải mái với đời sống tính-dục. Có lúc họ tỏ ra cương-quyết về vấn-đề tình-ái, nhưng thực ra đó là hậu-quả của bản-năng hơn là do tính toán suy-nghĩ kỹ-lưỡng như người NT. Người SP dễ thấy mình dính líu với người khác để rồi chỉ thấy thêm rắc rối, phiền phức, nên họ thắc mắc không biết phải làm sao để khỏi vướng mắc. Họ không muốn đương đầu thẳng với vấn-đề để tìm ra một giải-pháp, mà chỉ muốn dùng yên lặng tránh né với hy-vọng mọi sự sẽ êm xuôi. Người SP không thích kéo dài thời-gian gặp gỡ tìm hiểu, vì họ muốn tự-do, kể cả tự-do biểu-lộ tình-cảm tùy như hoàn-cảnh xui khiến. Khi họ có ai biểu-lộ tình-cảm thân-mật thắm thiết và hứa hẹn đàng-hoàng, người SP có thể tỏ ra thô lỗ, cộc cằn và tàn-nhẫn, và khi đâu vào đó xong rồi, họ có thể quên những vết thương lòng dễ dàng. Khi người SP không đáp-ứng lòng mong đợi của người khác, họ sẵn sàng cải-tiến cho thích-hợp cho dù đôi khi sự cải-tiến đó không kéo dài được bao lâu.

    Nói chung người SP có thái-độ vui vẻ, không hay chê trách. Họ chỉ hoàn toàn sống cho hiện-tại, nên có khi họ không chu-toàn đầy đủ các việc bổn-phận hằng ngày cho đúng giờ khắc, tuy nhiên họ không có ý bê trễ như vậy. Người SP dễ tức giận cũng như mau ra tay hành-động, nhưng mau giận rồi lại chóng nguôi. Họ dễ chấp-nhận những nhận-định và phê-bình về hành-động tốt cũng như xấu của họ, và chẳng nề-hà ngần ngại gì. Trong liên-hệ tình-nghĩa vợ chồng, người SP không để ý bao nhiêu đến thứ-tự ưu-tiên, việc gì họ cũng là quan-trọng như nhau và cũng dồn hết tâm-lực để chu-toàn. Việc nhỏ cũng như việc lớn đều được họ chú ý như nhau. Người dưng nước lã cũng được họ săn sóc như người thân-tình. Thái-độ này có thể làm cho người phối-ngẫu hiểu lầm và bực mình nhiều. Có lúc bản-tính quảng-đại thoải mái của người SP sẽ gây nên sóng gió giữa hai vợ chồng khác chí-hướng (người SP có khi nghĩ rằng của vợ là của chồng, của chồng là của vợ, nên ai cho, hoặc cho ai cũng được vậy).

    Người SP thích quà cáp: tặng quà và nhận quà. Người SP có tính thích tặng những món quà đắt tiền, và nhất là muốn nhiều người chứng-kiến và ghi nhận thành-quả của tấm lòng quảng-đại này. Có khi trong nhà dư đồ dùng, quần áo, người SP cũng muốn mua một món quà đắt tiền để làm vui gia-đình. Người SP thường tỏ tình âu yếm thân mật qua các quà tặng nhau. Họ thích thú phấn-khởi làm công việc tặng quà. Họ muốn đóng vai trò Tiên Ông ban phát quà cáp cho trần-gian mãi mãi. Người SP chỉ muốn sao người nhận quà được niềm vui thích, vẻ ngạc-nhiên thoải-mái.

    Mặc dầu người SP tỏ ra rất hoạt-động lanh lợi, óc thực-tế bắt họ nhìn vào giây phút hiện-tại nên có khi họ quên không nhìn thấy khác biệt giữa phẩm và lượng trong liên-hệ tình-nghĩa. Họ chỉ chú-trọng tới lúc này, chỗ này, người trước mắt, nên họ không phân-biệt giá-trị một con người chung-thủy với một con người qua đường. Cũng có lúc người SP không nhận ra được các nguy-hiểm có thể xẩy ra trong liên-hệ tình-nghĩa. Người nữ SP dễ bị vướng mắc vào các liên-hệ không khôn-ngoan đủ. Người SP thường vội vàng hấp tấp trong những vấn-đề mà thánh cũng sợ vấp phải như tình-dục, xã-giao, hoặc đôi khi kinh-tế. Người SP có thể sống ăn uống thỏa thuê hôm nay rồi ngày mai nhịn đói cũng được. Hôm nay họ chi tiêu thả giàn, ngày mai họ tiết-kiệm từng xu. Họ muốn thụ-hưởng tiền bạc cũng như tính-dục. Người SP không muốn tiết-kiệm cho ngày mai về tiền cũng như tình. Họ dùng tiền bạc, thời-giờ, sức-lực để khám phá quán ăn mới, kiểu may mặc mới, bạn bè mới, xe nhà mới. Họ thích mua sắm dụng-cụ mới, gây dựng tình nghĩa mới, để rồi chỉ sau đó ít lâu lại đi kiếm thứ khác mới lạ hơn.

    Người nữ SP tề-gia nội-trợ sẽ bù lắp khuynh-hướng hoạt-động qua các tiểu-xảo thủ-công-nghệ. Nhà cửa của nàng lúc nào cũng đầy đủ kế-hoạch với dự-án cần chu-toàn. Nàng chia mọi sự thành từng ngăn ô: lúc thì lo nấu nướng thật cầu-kỳ, lúc thì đan thêu thật tỉ mỉ. Nàng thích mầu mè sặc sỡ rực rỡ. Nàng thích cây cảnh đầy phòng. Khách khứa ra vào lúc nào cũng được và nàng chẳng quan-tâm tới tình-trạng nhà cửa trang-hoàng luộm thuộm đâu. Nàng sẵn sàng để mọi sự chỗ nào y nguyên chỗ đó để tiếp khách: ăn uống, ngồi đứng tự-nhiên không gò bó. Người mẹ SP lo kiểm-soát con cái. Bà không thích quan-niệm chủ-trương mẹ phải phục-dịch con cái. Như thế không có nghĩa là bà cảm thấy mặc-cảm tội lỗi phải lo làm đúng cung cách y như người khác. Bà chỉ lo làm sao đúng y như bà nghĩ lúc hiện-tại thôi. Bà thường muốn và được con cái vâng lời, cho dù bà cũng để con cái được tự-lập khá nhiều. Bà không để cho con cái đè đầu đè cổ bà đâu. Người mẹ SP dễ để người khác góp phần vào việc giáo-dục con cái hơn là các bà mẹ mẫu tính tình khác. t.d. như khi đứa con đầu lòng bắt đầu đi học lớp mẫu-giáo, bà tự kiềm-chế không hay can-thiệp như các bà mẹ mẫu tính tình khác.

    Thường thường người SP thích phô-trương con người của mình, và dù là hướng-nội hay hướng-ngoại họ cũng tỏ ra dễ tính chịu chơi. Họ dễ tìm được người bạn tình đúng ý họ muốn sau một cuộc tìm hiểu gặp gỡ. Nếu người phối-ngẫu của người SP không để bị kẹt vào những hy-vọng viển-vông của người SP, liên-hệ tình-nghĩa giữa hai người có thể phát-triển trở nên nếp sống thoải mái hoạt-động. Nếu người phối-ngẫu mong đợi người SP quá mức, dĩ nhiên cả hai người đều sẽ phải bực mình. Người SP dễ sống hòa-hợp trong vấn-đề tính-dục, họ không dễ dứt bỏ tình-nghĩa. Khác với người NF suốt đời đi tìm kiếm mối tình lý-tưởng, người SP không có khuynh-hướng tưởng-tượng ra rằng một mối tình khác sẽ có thể tốt đẹp hơn.

    2.- người phối-ngẫu chịu (siêng) làm SJ
    Người phối-ngẫu SJ nam cũng như nữ coi đời sống tính-dục là một vấn-đề quan-trọng. Người SP dùng hoạt-động tính-dục để quên đi những khó khăn trở ngại, nhưng người SJ nhất là phái nam chỉ muốn hoạt-động tính-dục làm cho họ thoải mái dễ chịu, bớt mệt nhọc, được vỗ về nâng niu. Sau khi được thỏa-mãn dục-tình, người SJ có khuynh-hướng lo lắng cho người phối-ngẫu cũng được an-vui thoải mái.

    Những mẫu người khác có thể coi dục-tình như một hoạt-động làm cho cả vợ lẫn chồng đều thích-thú, còn người SJ thường tỏ ra biết ơn người vợ vì đã cho chồng được vui thỏa, vì đã tặng chàng một món quà quý giá, vì đã ban cho chàng một ân-huệ đặc-biệt. Ít khi chàng có thể quan-niệm được rằng nàng cũng được rung cảm sung sướng như chàng. Người SJ nữ thường cùng có một quan-niệm, coi nhu-cầu sinh-lý của chồng quan-trọng hơn của mình, cho rằng sinh-lý là nhiệm-vụ người vợ phải chu-toàn đầy đủ cho chồng hơn là một thú vui nàng được quyền hưởng-thụ.

    Người SJ thường chung-thủy với lời thề hứa thành-hôn. Người nam SJ có thể lăng-loàn trước khi cưới, nhưng sau khi thành-hôn, chàng chỉ lo cho gia-đình và lo chăm chỉ làm việc. Người nữ SJ ít khi có kinh-nghiệm chăn gối trước khi cưới, và dù có kinh-nghiệm đi chăng nữa, thường đó là vì bạn bè làm áp-lực, vì nại cớ ai cũng làm như thế, vì không muốn bị chọc quê.

    Người SJ cả nam lẫn nữ đều coi dục-tình như là một dịch-vụ người vợ phải cung-ứng cho chồng, một nghĩa-vụ nàng phải lo chu-toàn để bù lại những bảo-đảm kinh-tế và xã-hội. Họ thường không thích thí-nghiệm nhiều kiểu làm tình. Thông thường người nam SJ muốn làm tình sao là cứ làm như vậy mãi. Người nam SJ thường quan-tâm tới vợ mình, nhưng cả người SJ nam lẫn nữ đều tin rằng người vợ không cần phải được khoái ngất. Họ cứ tưởng rằng gái chính-chuyên không mơ tưởng chuyệïn ái-ân như vậy. Trong khi đó hễ người nam SJ có dịp tiếp-xúc giao-tiếp với các bạn trai và một số bạn gái thân-tín, như khi đi săn, uống rượu, liên-hoan, họ có thể hành-động giống như người SP: nói chuyện tiếu-lâm phòng the rất xôm trò. Người nữ SJ không thích nói chuyêäïn phòng the dù là với bạn gái hay bạn trai.

    Người SJ hiểu rõ rằng chuyện chăn gối vợ chồng là để sinh-dưỡng con cái, chứ không phải chỉ để tạo niềm vui ái-ân. Họ quan-niệm rằng có con cái sẽ đem lại niềm vui và an ủi cũng như tiếp-tục truyền-thống gia-đình. Người SJ chỉ làm tình ban đêm, trong phòng ngủ, càng nhẹ nhàng càng hay, và càng sống lâu thì càng giảm bớt đi. Cho dù thời nay xã-hội có cởi mở hơn, phụ-nữ có được giải-phóng hơn, người SJ cũng không coi dục-tình là để thỏa-mãn thích-thú.

    Người SJ có khuynh-hướng biểu-lộ tình-cảm và cử-chỉ thân-ái theo đường lối thông thường, dùng những chữ diễn-tả tỉnh yêu theo nghi-thức định-lệ cổ-truyền, tặng quà bánh trong những dịp thuận-tiện. Những món quà này thường có giá-trị riêng biệt đáng quý, đáng lưu giữ. Nghi-thức trao tặng cũng rất là quan-trọng chứ không như người SP chỉ thích làm bất-ngờ ngạc-nhiên và cần có người chứng-kiến. Người SJ nam cũng như nữ trước khi làm tình, không thích thảo-luận triết-lý, bàn cãi tôn-giáo, nói chuyêïn nghệ-thuật hoặc suy-tư đạo-đức. Làm tình là một chuyện, triết-lý là một chuyện. Người SJ không hiểu nổi tại sao lại phải yêu cuồng dại yêu si mê, vì cho dù họ có thể thích tưởng-tượng một chút, nhưng rồi cũng rất mau bắt tay vào cuộc sống hiện-tại. Người SJ chỉ thích tỏ tình thân-ái lãng-mạn khi còn gặp gỡ làm quen trước khi cưới. Một khi ván đã đóng thuyền, họ chuẩn-bị ưu-tiên lo tiến-thân nơi sở làm, tạo dựng mái ấm một gia-đình, nối vòng tay chọn bạn bè, giao-tiếp xã-hội. Ngay từ những ngày đầu thành-hôn, đời sống tính-dục của họ cũng đã có nề nếp đâu vào đó và cứ như vậy mà sống suốt đời. Thông thường người SJ không thích những gì là bất ngờ và bất-thường. Người nam SJ may ra mới thử làm một vòng lả lướt ngoài vòng cương-tỏa của gia-đình, nhất là khi không được hạnh-phúc chăn gối trong nhà.

    Người SJ khó hiểu được nhu-cầu tình-cảm của các mẫu người khác, như các mẫu người NF và NT đều coi các việc bên ngoài phòng the như cần-thiết giúp cho hoạt-động tính-dục. Người SJ có thể nổi cơn nóng giận, chỉ-trích chua cay, mắng mỏ chửi rủa, rồi đòi hỏi người phối-ngẫu bỏ quên những chuyêïn đó đi để làm tình. Họ không hiểu được hậu-quả của những chuyệïn tiêu-cực đó có ảnh-hưởng tới việc gợi hứng làm tình. Họ cứ tưởng rằng bao lâu họ săn sóc lo lắng cho người phối-ngẫu, chịu trách-nhiệm giữ gìn sức khỏe và cuộc đời của người phối-ngẫu, là họ có quyền góp ý-kiến sửa sai xây dựng mà không sợ làm suy giảm tình-cảm của người phối-ngẫu.

    Người SJ thích chiếm-đoạt, muốn cái gì cũng là của mình. Họ thường nói ‘nhà tôi’, ‘con cái tôi’, ‘xe của tôi’, ‘sở tôi làm’, ‘trường tôi học’ v.v…và của cải vật-chất chiếm chỗ quan-trọng trong cuộc đời của họ. Họ cẩn-thận bảo-vệ, duy-trì, gìn giữ, săn sóc, quý mến mọi của cải họ có và không muốn để phí-phạm. Người SJ có tính cẩn-thận về tiền bạc và làm sổ sách đàng-hoàng, đặt kế-hoạch cho tương-lai, có khi vì đó mà hiện-tại bị ảnh-hưởng. Người SJ hiểu rõ tầm-mức quan-trọng của bảo-hiểm, tiết-kiệm, trái-phiếu công-khố. Họ cũng hiểu ích-lợi của tài-sản, dụng-cụ, xe cộ, quần áo. Tất cả những thứ đó có nhiệm-vụ phục-vụ con người chứ không phải có ý để phô-trương: phải tận-dụng mọi tài-sản, đến khi không dùng được nữa thì cho cơ-quan xã-hội, chứ không nên vất bỏ đi phí-phạm. Người SJ bảo-vệ tài-sản thật đàng-hoàng, và họ cũng muốn người chung quanh họ như gia-đình, hàng xóm, nhân-viên cùng sở phải làm y như vậy.

    Người nữ SJ , nhất là người hướng-nội coi gia-đình là trung-tâm-điểm của cuộc sống và loại-trừ tất cả mọi sự khác: săn sóc cho chồng con, lo nấu ăn, giữ gìn nhà cửa sạch sẽ ngăn nắp là hết thời-giờ của nàng rồi, và nàng cũng coi đó là lý-do nàng muốn sống. Vào tuổi hồi-xuân khi con cái đã khôn lớn và lập-thân ra ở riêng hoặc đi xa, nàng có thể dễ bị khủng-hoảng nặng vì hiện-tượng ‘tổ ấm trống rỗng’. Người nam SJ hồi-hưu cũng có thể gặp phải một khủng-hoảng tương-tự: đối với chàng, nghề-nghiệp là trung-tâm-điểm cuộc đời cũng giống y như gia-đình đối với nàng vậy. Cả nam cũng như nữ SJ có khi lo lắng ưu-tư về những người ở xa và tìm đủ cách để liên-lạc qua điện-thoại, qua thư-từ. Đôi khi người SJ lo lắng ưu-tư thái-quá về những tai-họa họ mường-tượng ra hơn là sự thực có như vậy.

    Người SJ không thích những thay đổi thường-xuyên và khủng-hoảng cấp-tốc trong gia-đình cũng như nơi sở làm. Cha mẹ SJ thường không muốn con cái bỏ truyền-thống tập-tục trong gia-đình. Họ cảm thấy cái gì là đúng là sai. Người SJ cảm thấy có nhiệm-vụ phải bảo-vệ chân-lý như mẫu-mực tiêu-chuẩn cho mọi người. Họ đòi hỏi mọi người, mọi sự, mọi thể-thức, mọi thành-quả phải hợp lý hợp tình và hợp đường lối cổ-truyền của họ.

    Người SJ thích nói nhiều về quá-khứ dĩ-vãng. Họ hiểu biết giá-trị truyền-thống, gia-phả của gia-đình, và quý-trọng các câu chuyện tình-tiết về gia-đình họ. Họ có khuynh-hướng mời mọc họ hàng tới nhà, liên-lạc với thân-quyến xa gần, tôn-trọng các lễ-nghi cổ-truyền như ngày giỗ chạp, kỷ-niệm. Khi có giờ rảnh rỗi, người SJ sẽ lo hoạt-động cho nhà thờ, cộng-đồng, tổ-chức văn-hóa xã-hội. Người phối-ngẫu SJ thường gia-nhập một tổ-chức sinh-hoạt cộng-đồng và thường dễ nhận ra vì họ giữ chức-vụ quan-trọng trong các tổ-chức đó.

    Người SJ có khả-năng tổ-chức thời-giờ để làm các công việc hữu-ích, những việc có mục-tiêu và nhiệm-vụ rõ rệt. Người SJ không có khuynh-hướng phí thời-giờ để tán gẫu phí-phạm, t.d. đọc báo thì có ích hơn là đọc tiểu-thuyết. Người SJ quan-niệm rằng thời-giờ là để sử-dụng cho hữu-ích, chứ không phải để phí-phạm. Họ có khuynh-hướng giữ đúng giờ và muốn người phối-ngẫu cũng phải làm như vậy. Họ thích đặt thời-khóa-biểu cho họ và có khi còn làm dùm người khác nữa. Người SJ muốn các buổi hội-họp gặp gỡ tiến-diễn theo chương-trình đã dự-liệu, có vui nhộn nhưng đừng quá lố. Người SJ không ngại hy-sinh thời-giờ cho gia-đình cũng như người khác, miễn là có lý-do đàng-hoàng.

    Những người phối-ngẫu SJ ít khi phàn-nàn vì chán-nản. Họ bằng lòng sống bình-thản và được hạnh-phúc sống theo tập-quán. Có khi họ thích ăn mãi một nhà hàng, đi chơi cùng một chỗ năm này qua năm khác, vui chơi cùng một số bạn bè cùng một nơi mãi mãi.

    Người phối-ngẫu SJ có khả-năng truyền-đạt thái-độ ấp-ủ săn sóc cũng như một thái-độ phê-bình chỉ-trích. Theo trường-phái phân-tích liên-hành-động, họ phát-xuất từ hai trạng-thái bản-ngã có cha mẹ vừa phê-bình vừa săn sóc. Đối với người phối-ngẫu SJ, săn sóc lo lắng cho gia-đình có nghĩa là phải có nhiệm-vụ để người nhà biết điều phải và làm đúng lúc: điều phải điều đúng là do cha mẹ và truyền-thống lưu lại. Người SJ có khuynh-hướng dẹp bỏ tính bộc-phát, cho dù khi bị mệt nhọc và bị căng thẳng, họ có thể bỗng dưng nổi cơn khùng lên, dùng lời châm-biếm chua cay, và có khi dùng bạo-lực để khuất-phục nữa, cho dù đây là trường-hợp rất họa-hiếm.

    Người SJ có nhu-cầu muốn phục-vụ và thích gia-nhập các định-chế tổ-chức giúp cho họ trung-thành, kiên-cường, trách-nhiệm, đáng tin để người khác có thề tín-cẩn, lệ-thuộc, hiểu biết và tin cậy sử-dụng được. Họ không có tính bỏ bê gia-đình vào giữa đường đời., hoặc chi tiêu vung vít hết cả tiền tiết-kiệm. Họ là những người tề-gia nội-trợ tuyệt vời, và là thành-viên ưu-tú của các sinh-hoạt cộng-đồng như gia-đình, giáo-hội, chính-quyền, tổ-chức xã-hội. Họ là những cột trụ nâng đỡ xã-hội được đứng vững.

    3.- người phối-ngẫu nghiêm-túc (năng tiến) NT
    Người phối-ngẫu của người NT dám tin được rằng người NT quên sót không lo lắng quan-tâm gì, không hiểu biết những công việc thường ngày trong nếp sống gia-đình. Người phối-ngẫu của người NT ước mong được nhìn thấy, cảm thấy những biểu-lộ tâm-tình, những cử-chỉ thân-ái nơi người NT. Đảo lại, người NT ngạc-nhiên không hiểu tại sao cách họ liên-hệ, biểu-lộ tình yêu lại bị coi là thờ ơ lãnh-đạm.

    Người NT tỏ vẻ lạnh nhạt, vô-tâm dưới cái nhìn của người thuộc mẫu tính tình khác. Họ có khuynh-hướng kiểm-soát và che dấu cảm-xúc của họ dưới nét mặt bình-thản bất-động, chỉ có con mắt để lộ chiều sâu tâm-tình thôi. Người NT không thích biểu-lộ tình-cảm một cách công-khai chút nào cả.

    Người NT ghét lặp đi lặp lại những lời nói thừa thãi, nên ít khi họ biết dùng lời nói để diễn-tả tình-cảm. Những người thuộc mẫu tính tình khác có thể cho đó là lạnh nhạt, đáng thương, và họ dễ bị mất lòng vì thái-độ rụt rè đó. Nhưng đối với người NT, nói đi nói lại về tâm-tình đã có đồng-nghĩa với thái-độ nghi ngờ không dám chắc mình có tâm-tình đó. Đối với họ, một khi đã quyết-định là họ phải giữ vững lập-trường và thái-độ cho đến khi họ tuyên-bố thay đổi. Chính vì thế, họ không thấy cần phải nhắc đi nhắc lại những gì đã rõ ràng hiển-nhiên. Trong cuộc sống chăn gối vợ chồng, người NT không dễ để cho bản-năng cảm-xúc thúc đẩy một sớm một chiểu, nhưng họ có khuynh-hướng suy-nghĩ đắn đo cẩn-thận, cân nhắc từng li từng tí mọi hành-động, mỗi cử-chỉ.

    Một khi đã nắm chắc được vấn-đề, người NT sẽ tiến-hành theo kế-hoạch dự-tính. Nếu có gì không ổn, họ sẽ phủi tay bỏ đi, cho dù đôi khi có một chút luyến-tiếc. Một khi người NT đã quyết-định, khó mà họ có thể thay lòng đổi dạ được, miễn là người phối-ngẫu đã đáp-ứng lại. Và dĩ nhiên họ tiếp-tục tiến-hành y như họ đã dự-tính trước. Nếu quyết-định có liên-hệ đến cả cuộc đời, họ sẵn sàng dấn-thân trọn vẹn suốt đời. Nếu quyết-định chỉ có ảnh-hưởng ngắn hạn, họ sẽ sống theo ngắn hạn. Đây là đường lối hoạt-động theo kế-hoạch của người NT: nếu quyết-định có tính cách trường-kỳ dài hạn, họ thấy không cần-thiết phải nói bằng lời nữa, vì họ cho rằng điều quyết-định đó là hiển-nhiên; nếu quyết-định có tính cách ngắn hạn, họ thấy cần phải nói ra bằng lời, vì thấy mọi sự chưa rõ ràng minh-bạch, bởi lẽ chưa có đủ thời-giờ cho người khác hiểu rõ. Người NT tôn-trọng lời hứa cho dù liên-hệ tình-nghĩa không được trọn vẹn như họ mong ước, và cũng không thích nói lên những bực dọc khó chịu họ gặp phải.

    Người NT không quy trách-nhiệm cho người phối-ngẫu mỗi khi có điều bất-hòa, nhưng tự coi như họ có trách-nhiệm phải làm những gì có thể để tái-tạo sự hòa-hợp. Khi những người NT họp thành một nhóm, ít khi họ có tranh-chấp mâu-thuẫn cá-nhân, nhưng họ thích tranh-luận về trí-thức, vì họ nhận thấy bàn cãi về tình-cảm chỉ đưa đến đổ vỡ. Nói chung, người NT sẽ bỏ đi khi có bàn cãi về tình-cảm.

    Người NT thường có thái-độ kỳ-cục về những quy-ước trong đời sống sinh-lý. Luật-lệ của xã-hội chẳng có ảnh-hưởng trên họ bao nhiêu, nhưng họ vẫn sống theo tiêu-chuẩn đặc-thù riêng của họ. Người NT có quy-luật riêng cho đời sống sinh-lý của họ, và có khi trùng-hợp với quy-ước xã-hội, có khi không.

    Cần phải để dành nhiều thời-giờ và nghị-lực mới tạo nên được tình-nghĩa cũng như liên-hệ sinh-lý với người NT hơn các mẫu người khác, nhất là người NT hướng-nội. Đặc-biệt là họ khác hẳn với mẫu người SP thật dễ dàng trong hai lãnh-vực tình-nghĩa và sinh-lý. Thông thường các mẫu người khác lại không chịu để dành nhiều thời-giờ và nghị-lực như người NT mong muốn. Ngay cả người NT hướng-ngoại cũng vậy, bề ngoài có vẻ dễ làm quen, nhưng thực ra cũng khó mà hiểu được họ, vì cơ-cấu tâm-tình con người NT thật là phức-tạp và có nhiều uẩn-khúc. Bạn bè và người phối-ngẫu của người NT luôn tỏ ra ngạc nhiên khi thấy tâm-tính của người NT mang một sắc-thái mới, sắc-thái trước kia chưa xuất-hiện.

    Cách riêng người nữ NT có khuynh-hướng để cho tính-dục bị chi-phối bởi tri-thức. Tính thích lý-luận của họ có thể làm lu mờ những biểu-lộ tình-cảm, dù những tình-cảm này được phát-triển hay chưa. Nếu người nữ NT chưa phát-triển đủ tình-cảm, họ có thể cảm thấy khó mà được khoái-cảm tột-đỉnh, trừ phi người chồng chịu khó dùng thời-giờ, kiên-nhẫn để tìm hiểu nhu-cầu của nàng là phải giúp nhau khám-phá ra những quan-niệm tri-thức. Người nữ NT khó có thể được kích-thích về tính-dục do một người chồng thua nàng về tri-thức. Người nam NT lại có quan-niệm khác về bình-đẳng tri-thức. Họ muốn bình-đẳng vừa phải thôi, có nghĩa là nói chung thì đừng có quá kém cỏi. Như vậy người nữ NT tài giỏi khó mà kiếm được một người chồng môn-đăng hộ-đối.

    Dù sao người NT dù nam hay nữ cũng có thể tìm cách khám-phá ra những cách tạo niềm vui sảng-khoái về phương-diện tính-dục. Nếu họ coi đây là lãnh-vực chuyên-môn của họ, họ có thể là chuyên-viên thành-thạo về vấn-đề tính-dục. Họ có khuynh-hướng thu-thập đầy đủ mọi hiểu biết tâm-sinh-lý về nghệ-thuật làm tình, và nhận-định rằng nghệ-thuật làm tình đòi hỏi hai người phải có nhiều sở-thích chung khác, ngoài chuyện chăn gối. Người NF có thể cho là không tình-tứ lãng-mạn chút nào cả khi phải tìm hiểu nghiên-cứu đầy đủ về vấn-đề tính-dục để viết thành sách (như trường-hợp Masters & Johnson, 1966), còn người NT lại coi đó như là cơ-hội thuận-tiện để chuyển-đạt những khám-phá khách-quan này thành những hành-động tính-dục đầy sáng-tạo.

    Ngoài chuyệïn chăn gối, người NT khó tìm được cách giải-trí nào khác. Nói chung, họ có khuynh-hướng đứng đắn, nghiêm-trang. Họ cảm thấy thích-thú đối-thoại về những siêu-thể trừu-tượng, những đề-tài mà các mẫu người khác coi là chán ngán. Đối với người NT, tính cách khôi-hài đùa cợt phải thật là tế-nhị, và thường là trong cách chơi chữ tài-tình. Đặc-biệt họ thích những lời nói bông đùa hai ý, và khác với người SP hoặc đôi khi người SJ, họ không thích kể chuyện tiếu-lâm có pha mùi tính-dục trong đó. Họ coi đó là khiếm-nhã, không lịch-sự, nhất là khi có mặt người khác phái.

    Cuộc sống tình-cảm của người NT thường chỉ gồm có một vài liên-hệ tình-nghĩa thật sâu đậm. Họ không thể nào chịu cảnh chồng chung vợ chạ. Họ không chấp-nhận việc thay vợ đổi chồng một cách dễ dàng. Người NT không muốn nói với người phối-ngẫu về những mối tình cũ đã qua, và cũng chẳng muốn nói gì về người phối-ngẫu cho bạn bè biết.

    Người NT bắt đầu đời sống tính-dục trong trí tưởng-tượng, cũng giống như người NF. Cả hai đều có thể cảm-nghiệm được những tinh-tế trong việc gợi tình mà những người có khuynh-hướng S như SJ và SP coi như là không thích-hợp hoặc không đo lường được. Trong việc chăn gối, người NT có thể đầy sáng-kiến, nhiều tưởng-tượng và được phấn-khởi thích-thú. Liên-hệ tình-nghĩa càng sâu đậm mật-thiết, người NT càng cảm thấy thích-thú thỏa-mãn. Tuy nhiên đôi khi họ cũng cảm thấy cần phải giải-tỏa sinh-lý, nhất là khi những căng thẳng dồn nén về sinh-lý làm cản trở một công việc quan-trọng của họ. Trong trường-hợp này, họ sẽ tìm cách giải-quyết thật mau lẹ, tiện sao làm vậy.

    Người NT có khuynh-hướng ít để ý đến việc thu-tích tiền của, vì thế sống đời đôi bạn, họ dễ bằng lòng với các tiện-nghi vừa phải. Người NT không thích tìm kiếm của cải mà coi đó như mục-đích cuộc đời. Họ chỉ thích thưởng-thức vẻ đẹp của đồ vật, nhìn ngắm đường nét của kiểu-mẫu và dinh-thự, say sưa cách sử-dụng hào-hoa trang-nhã qua các đồ dùng họ có. Họ thích nhìn ngắm một xe thật sang-trọng, một phi-cơ triển-lãm, một tác-phẩm nghệ-thuật, cho dù họ có hay không có những thứ đó. Tính cách đặc-biệt của người NT là thích chiêm-ngắm hơn sở-hữu: tính cách đó có thể làm cho người phối-ngẫu khác tâm-tính phải khó chịu mất kiên-nhẫn. Đôi khi người NT tỏ ra coi thường chẳng để ý sắm sửa các tiện-nghi vật-chất làm cho liên-hệ tình-nghĩa vợ chồng bị sứt mẻ. Cho dù đôi khi có người NT muốn sắm sửa một chút, nhưng ít khi mà họ cảm thấy phấn-khởi hăng hái đủ để gây dựng được nổi sự-nghiệp cơ-đồ. Người NT mau trở về với thế-giới trừu-tượng đầy lý-thuyết để rồi ý-nghĩ làm giàu mau tan biến, cho dù thỉnh thoảng có lảng vảng trở lại rồi lại biến tan.

    Người NT ít khi cạn hứng thu thập sách vở và trau dồi kiến-thức: năm này qua năm khác, họ vẫn say mê sách vở. Nhà của họ lúc nào cũng tràn ngập sách vở báo chí đủ loại. Thực-tế cho thấy người phối-ngẫu không phải NT thường thường nhận-định rằng người NT chú-trọng tuyệt-đối vào thế-giới trừu-tượng của lý-thuyết và kỹ-thuật. mà quên để ý đến người phối-ngẫu của mình. Cho dù người NT coi như ra vẻ quên cuộc sống gia-đình bao quanh họ, nhưng nếu có ai nhắc nhở cho, họ lại tỏ ra quan-tâm để ý. Người NT thường sao lãng cuộc sống giao-tế xã-hội, nhất là người NT hướng-nội, và ít để ý đến những buổi họp mặt gặp gỡ thân-tình, trừ khi có ai nhắc giúp chỉ dùm ngày giờ, địa-điểm. Điều đó có thể gây trở ngại cho người phối-ngẫu thích vui mừng tổ-chức những lễ lạc, kỷ-niệm như sinh-nhật, giáp năm v.v…

    Người NT và người NF hướng-nội có khuynh-hướng xây dựng liên-hệ tình-nghĩa thân-mật một cách từ-tốn: họ phát-triển liên-hệ trí-thức mau hơn liên-hệ xã-hội rất nhiều. Người NT và NF nhận thấy liên-hệ sinh-lý càng ngày càng trở nên phức-tạp hơn, và họ coi khía cạnh sinh-lý tình-dục mang đầy ý-nghĩa tinh-tế. Việc giao-hợp có ý-nghĩa cao-siêu hơn là chỉ để thỏa-mãn tình-dục. Người NT hướng-nội sẽ có liên-hệ sinh-lý ít hơn là người NT hướng-ngoại. Những thói quen tập-quán của cuộc sống hằng ngày như việc làm, nhất là những việc tạo nên mâu-thuẫn, có thể gây nên trở ngại cho đời sống tình-cảm và sinh-lý, nhất là đối với người NT hướng-nội (cũng như người NF hướng-nội), làm cho họ khó biểu-lộ và diễn-tả. Người NT có thể giao-hợp vì tình yêu tha thiết sâu đậm, hoặc ngược lại chỉ vì cực chẳng đã, cho bõ ghét.

    Thông thường người NT coi bổn-phận gia-đình rất là quan-trọng, nhất là bổn-phận đối với cha mẹ và con cái, và giữa vợ chồng. Tuy nhiên những người trong gia-đình lại thường coi họ như xa cách, hơn là các mẫu tính tình khác. Người NT không thích làm chủ thể xác và hành-động của người phối-ngẫu như các mẫu tính tình khác. Khi ai có lầm lỗi, dù là người trong gia-đình hay người ngoài, người NT không coi đó là lầm lỗi của mình, và xử-sự một cách rất khách-quan. Còn lỗi của chính mình thì người NT coi là không thể biện-minh hoặc tha-thứ được. Người NT thích-thú trong vai trò làm cha mẹ: thích nhìn thấy con cái lớn lên hoặc người phối-ngẫu tăng-trưởng nhưng họ chỉ thích đứng xa nhìn ngắm hơn.

    4. người phối-ngẫu nhân-fẩm NF
    Nếu có ai chết vì yêu, chắc hẳn người đó phải là NF. Romeo và Juliet là tiêu-biểu cho loại mẫu người NF, không thể sống mà không có nhau, nên đã chọn cái chết để được gần nhau và trọn vẹn với nhau. Những cặp tình-nhân trứ-danh trong lịch-sử như Anthony và Cleopatra, những nhân-vật lãng-mạn trong tiểu-thuyết như Héloise và Abélard đều thi-vị-hóa mối tình của họ trong nghệ-thuật. Người NF có tài tạo nên mối tình lãng-mạn thần thánh. Do đó những chữ ‘sinh-lý, sắc-dục’ nghe rất lỗ mãng trần-tục đối với tai người NF. Họ thích những chữ ‘yêu thương, cảm mến’ hơn để nói lên khía cạnh thể xác con người. Người NF nam cũng như nữ đối-xử với người phối-ngẫu một cách dịu dàng, từ-tốn, thông-cảm, biểu-lộ và diễn-tả tình yêu dễ dàng và thường-xuyên qua ngôn-từ cũng như cử-chỉ. Người NF có tài ăn nói, nên họ có thể diễn-tả đầy-đủ chi-tiết tình-cảm của họ một cách khéo léo tinh-tế mà các mẫu người khác không thể làm được. Người NF không ngần-ngại dùng thơ, nhạc, văn-chương để tô-điểm cho cuộc tình của họ. Mối tình lãng-mạn trong cuộc sống của người NF được triển-nở là nhờ những biểu-lộ tình-cảm yêu đó. Người NF có khuynh-hướng thần-tượng-hóa mối tình của họ, coi đó như là mối tình độc-nhất hoàn-hảo. Chuyện tình của họ nghe như có vẻ trong tiểu-thuyết vậy. Người phối-ngẫu NF chắc chắn sẽ sống trăm năm hạnh-phúc, và chứng-minh ý-định đó qua đối-tượng họ theo đuổi. Vì họ theo đuổi một tình yêu lý-tưởng, nên họ luôn luôn có phấn-khởi thích-thú để đi tìm một người bạn hoàn-toàn về tinh-thần cũng như thể-lý. Họ muốn sống với nhau thực sự, rất thân-mật ấm-cúng. Con người của họ muốn chứng-tỏ họ thực là một người bạn phối-ngẫu.

    Người NF thích-thú theo đuổi những chuyện có thể xẩy ra hơn là những sự thực trong đời họ, nên họ cũng thích-thú theo dõi những liên-hệ tình-nghĩa có thể xẩy ra. Khi họ bắt đầu một mối tình, đối-tượng trở nên trung-tâm-điểm cuộc đời của họ. Họ đặt tất cả nghị-lực chủ-tâm vào đó và không thể từ-nan một cố-gắng nào mà không dùng để xây đắp cho mối tình đó. Khi tình yêu bất-diệt đã khơi-mào, và khi người nam NF đã được thỏa-mãn thể-lý, cũng như khi người nữ NF được an-tâm vững dạ vì được yêu, tình yêu của họ sẽ đem lại hạnh-phúc tình-tứ thật lãng-mạn. Người nam NF cũng như người nữ NF thật mù quáng, ít khi có thể nhận ra các khuyết-điểm của người tình trong vòng đầu của tình-ái. Cuộc đời tưởng chừng như sẽ được trọn đời hạnh-phúc, cho dù họ ít khi tìm hiểu cho rõ chi-tiết làm sao cho được trọn đời hạnh-phúc. Người tình NF có những cử-chỉ thật tình-tứ, những lời nói thật bay bướm, và hay lý-tưởng-hóa, thần-thánh-hóa cuộc tình. Có khi họ coi những mơ ước y như thể thực-tại. Đôi khi trí tưởng-tượng về đời sống sinh-lý không đáp-ứng được theo những đòi hỏi thực-tế của cuộc sống, nhất là nơi người nam NF.

    Hình như người nữ NF có khả-năng kéo dài thời-gian tình-tứ lãng-mạn và đi sâu hơn là người nam NF. Khi người nam NF đã được thỏa-mãn về sinh-lý rồi, họ dễ mất cảm-hứng để rồi đi tìm một mối tình tưởng-tượng khác. Với tâm-tính phiêu-diêu lãng-du, họ như bị thúc-bách phải đi tìm cho ra những gì hơn người, phải theo đuổi những giấc mộng thật lớn, phải chiếm-hữu cho được những thần-tượng tình-ái trong màn ảnh, để làm người tình, người mẹ, người yêu, người vợ, người con gái, người mẫu. Thực ra người phối-ngẫu của họ không có thể trở nên tất cả như vậy cho họ. Người nam NF muốn yêu cuồng sống vội, có khuynh-hướng biểu-lộ tình yêu như bất-diệt mà vội tàn, bằng cách sống như thể mối tình đã qua rồi vậy. Người nữ NF không có khuynh-hướng đó: trái lại, sau khi thụ-hưởng tình yêu thể-lý, họ tìm cách để tăng-cường tình yêu làm cho tình yêu trở nên bền chặt hơn. Nàng tỏ ra quyến-luyên, dâng hiến nhiều hơn, tiếp-tục sống tình-tứ lãng-mạn, tin rằng tình yêu sẽ trọn-hảo, gán cho những công việc tầm-thường một ý-nghĩa trọng-đại cao cả, quan-trọng-hóa những liên-hệ với người yêu, và dám sẵn sàng chết vì yêu. Ít khi nàng bực bội vì chuyện giao-hoan. Nàng không quan-tâm tới khoái-cảm thể-lý của nàng bao nhiêu, miễn sao được vui sướng vì dâng hiến trọn vẹn cho chàng. Điều quan-trọng là làm sao chàng được thoải-mái sảng-khoái. Người nam NF dễ quen quá hóa nhàm, nhưng người nữ NF không có tình-trạng như vậy. Người SP có thể tự-hào như Dorothy Parker: “Anh thành-thực bao nhiêu, em chính-chuyên bấy nhiêu, chứ không kẻ trước người sau” Còn người nữ NF thì có khuynh-hướng nhìn nhận rằng một khi đã yêu là yêu đến trọn cuộc đời. Dĩ nhiên có khi tình yêu không được trọn-hảo, nhưng như thế không có nghĩa là tình yêu sẽ không có cơ-hội trở nên trọn-hảo. Rất may là cả người nam cũng như nữ NF đều có khả-năng yêu tha-thiết đậm-đà vượt qua những giới-hạn thể-lý, để nhờ đó họ có khả-năng tạo-dựng một tình-nghĩa bền-vững thoải-mái.

    Trong thập-niên vừa qua, có một hiện-tượng thật kỳ-lạ đã xuất-hiện, có lẽ là do đặc-tính người nữ NF muốn duy-trì ước mơ tình-tứ lãng-mạn cho dù gặp phải thực-tế trái ngược: đó là phong-trào cách-mạng luyến-ái sinh-lý (sex revolution). Đa-số nhóm lãnh-đạo phong-trào cách-mạng luyến-ái sinh-lý là người nữ NF. Chính những người nữ NF đã lớn tiếng chối-từ những tiêu-chuẩn mâu-thuẫn hàng hai về luyến-ái sinh-lý. Chính họ là những người đòi hỏi phải được khoái-cảm sinh-lý y như chồng. Chính họ là những người quyết-định rằng chưa chắc họ đã thành-thực và chung-thủy với chồng. Hiểu theo một cách nào đó, họ là những người quyết-định rằng họ có thể tiến-tới tạo-dựng được một tình-nghĩa tốt đẹp hơn, thoải-mái hơn. Càng ngày càng có nhiều người sẵn sàng mạo-hiểm dấn-thấn đi tìm cho được tình-nghĩa tốt đẹp thoải-mái đó, cho dù có giao-ước hôn-phối hay không. Thực-tế là càng ngày càng có nhiều người nữ NF tỏ ý không chịu chấp-nhận sự áp-đặt khống-chế của pháp-lý, sẵn sàng bắt bản-năng muốn làm vợ phải chờ đợi cho đến khi nào nàng biết chắc là nàng làm đúng. Càng ngày càng có nhiều người nữ muốn có con ngoại-hôn và tự mình nuôi-dưỡng. Nói như thế không có nghĩa là các mẫu tính tình khác không góp phần gì vào phong-trào này, nhưng phải nhìn nhận rằng đa-số người nữ NF với một số nhỏ người nữ NT đã đứng lên lãnh-đạo phong-trào cách-mạng luyến-ái sinh-lý. Ngày nay thay vì sẵn sàng hy-sinh chết vì yêu, người nữ NF hiện-đại hình như chỉ muốn sống với hy-vọng sẽ tìm ra được cách tốt đẹp hơn để liên-hệ với nam-giới.

    Cả người nam lẫn người nữ NF đều là những người phối-ngẫu dễ thương và đáng yêu, là nguồn tình thương ấm-cúng, tương-trợ và thông-cảm. Họ dễ tỏ ra cảm-thông khi người phối-ngẫu gặp phải nghịch-cảnh ở thế-giới bên ngoài, và không có khuynh-hướng lợi-dụng nghịch-cảnh đó để sửa sai chỉnh-lý người phối-ngẫu, như các mẫu tính tình khác thích làm. Thông-thường người NF có tài xã-giao, và ai ở nhà họ cũng cảm thấy được yêu quý săn đón đàng-hoàng. Họ có biệt-tài tri-ân mộ mến, nhất là trong lãnh-vực đức-tính cá-nhân của mỗi người, và họ biểu-lộ lòng tri-ân mộ mến đó cho người phối-ngẫu biết thật thân-tình. Có lẽ người NF là loại người phối-ngẫu đáng yêu hơn cả, tận-tụy, dễ thương, biết ơn, và không ngừng biểu-lộ các tâm-tình đó ra cho người phối-ngẫu và con cái. Câu chuyện của người NF nhất là người hướng-ngoại phảng-phất những ngôn-từ thân-mật ấm-cúng, nhất là những kiểu nói riêng tư đối với nhau. Người NF có thể cũng hào-hoa như người SP khi biểu-lộ tình yêu qua quà tặng, nhưng người NF có khuynh-hướng tặng quà một cách kín-đáo, và cẩn-thận tỉ-mỉ lựa chọn quà với một ý-nghĩa đặc-biệt. Người NF nam cũng như nữ, thường dễ nhớ ngày sinh-nhật, ngày kỷ-niệm, không cần ai nhắc nhở. Đảo lại, nếu ngày kỷ-niệm của họ bị lãng-quên, họ sẽ cảm thấy đau khổ, và dĩ nhiên khi được nhớ đến, họ rất vui mừng.

    Cho dù người NF, nhất là người nam NF, tỏ ra bồn-chồn khi người khác tùy thuộc vào họ, kể cả gia-đình vợ con cha mẹ, thực ra tâm-tình của họ làm cho người khác tùy thuộc vào họ. Lý-do là vì họ tự-hào biết tế-nhị, chăm sóc cho người khác. Tính người NF là như vậy: không thể nào mà họ không để ý đến nhu-cầu của người khác được. Tuy nhiên, họ trở nên bồn-chồn khi những chăm sóc đó bắt đầu ràng buộc họ, làm cho họ bị áp-lực tâm-lý phải làm như vậy mãi. Khi đó người NF có thể tỏ ra tàn-nhẫn, mạnh tay bắt buộc người khác phải tự-túc tự-cường. Cách thay đổi thái-độ đột-ngột này làm cho người khác trước kia được đặc-biệt săn sóc, giờ đây có cảm-tưởng như bị bỏ rơi. Thực ra, người NF không có chủ-ý tỏ ra bất-nhân, họ chỉ muốn chấm-dứt một liên-hệ mà họ không thể nào chịu nổi nữa, cho dù thực-tế là chính họ đã tạo nên liên-hệ qua sự chăm sóc, thông-cảm. Tâm-tình của người NF là tạo-dựng những liên-hệ thông-cảm, những tình-nghĩa thân-mật. Nhưng khi những người chung quanh người NF muốn được chú-ý nhiều hơn, muốn được quan-tâm nhiều hơn, muốn được yêu thương nhiều hơn, dĩ nhiên người NF trở nên bồn-chồn bất-an và không muốn bị áp-lực tâm-linh để phải trao cho người khác tình yêu lý-tưởng, tình bạn trọn-hảo và chấp-nhận trọn vẹn.

    Người NF dễ bị hiểu lầm vì họ rất hay suy-diễn nội-tâm. Việc gì họ cũng đưa vào mình được: quan-điểm, cảm-xúc, tâm-tư của người khác đều có thể trở nên như quan-điểm, cảm-xúc và tâm-tư của họ, khiến cho người khác có cảm-tưởng là được chấp-nhận. Người khác không biết rằng người NF cư-xử hành-động như vậy đối với tất cả các liên-hệ tình-nghĩa khác, và có thể bị đau khổ khi nhận ra được rằng mình không phải là đặc-biệt độc-nhất nữa. Khi người NF chấm-dứt một liên-hệ, họ không còn liên-lạc màng tưởng gì tới người đó nữa, mà chỉ liên-hệ tới người hiện-tại. Dĩ nhiên điều này có thể gây trở ngại một chút trong tình-nghĩa phối-ngẫu, khi người khác chỉ muốn độc-quyền. Người NF khó có thể biết được cách để tránh không đáp-ứng nhu-cầu tình-cảm của người khác.

    Sau khi hưởng tuần trăng mật xong, người phối-ngẫu của người NF có thể cảm thấy xuống tinh-thần khi thấy thực-tế cuộc sống với người NF đi ngược lại với những gì họ hy-vọng mơ-ước. Khi họ khám-phá ra được rằng người NF không có trọn-hảo như họ nghĩ, họ dễ cảm thấy nuối tiếc hối-hận. Đây là một tâm-tình rất thực, cho dù thực ra người NF không đến nỗi quá tệ như vậy. Chính những người phối-ngẫu NF trở thành một trường-hợp nan-giải. Họ bị chi-phối bởi những mơ mộng lãng-mạn do chính họ tưởng-tượng ra cũng như do người khác khuyến-khích về kinh-nghiệm tâm-sinh-lý. Cả người NF cũng như người phối-ngẫu thích tưởng-tượng cho thật phong-phú, đôi khi quá mức hơn những gì họ đã kinh-nghiệm, và nhiều khi tâm-tình họ hồi-hộp chờ đợi đem lại cho họ nhiều phấn-khởi thích-thú hơn là chính hành-dộng hưởng-thụ. Cách riêng hành-động giao-hợp có khi lại tạo nên ít hứng-thú hơn là ước mơ của họ, bởi lẽ trong rất nhiều trường-hợp, bản-tính lãng-mạn của người NF không cho phép họ thu-thập kinh-nghiệm về tình-ái qua học hỏi sách vở. Họ coi như họ có trực-giác tự-nhiên biết cách êm-ái dễ thương đối với nhau. Các nghiên-cứu khoa-học y-khoa bị coi như là khách-quan, lạnh-nhạt và tai-hại cho liên-hệ tình-nghĩa. Chính vì thế lúc đầu những va chạm sinh-lý thực-sự có thể gây nhiều khó khăn trở ngại cho họ, cho đến khi cả hai thu lượm đủ kinh-nghiệm thực-tế.

    Mặc dầu người NF rất nhậy cảm đối với tính tình của người phối-ngẫu, nhất là khi họ có tính cách hướng-nội, không phải lúc nào họ cũng cố-gắng đề-cập tới nhu-cầu tình-cảm của người phối-ngẫu một cách tích-cực. Người NF cho biết rằng họ nhận thấy nhu-cầu tình-cảm của họ cũng đầy dẫy những vấn-đề, những ưu-tư, thì làm sao họ có giờ dể ý săn sóc tới nhu-cầu tình-cảm của người khác được, nhất là của những người thân, khi kinh-nghiệm cho thấy đã có sứt mẻ rạn vỡ và mâu-thuẫn. Do đó, người phối-ngẫu của người NF có thể nhìn thấy người phối-ngẫu NF của mình đáp-ứng nhu-cầu tình-cảm của những người tương-đối xa lạ một cách thân-tình êm-ái mà chính mình lại không được gì cả.

    Cha mẹ NF tỏ ra tế-nhị với những cái nhìn của con cái, đôi khi như về phe với chúng, làm cho chúng tăng thêm các hành-động nghịch ngợm, phá quấy của tuổi trẻ. Chẳng hạn như một người cha/mẹ NF có thể hấp-tấp cứu một đứa trẻ khỏi vấp-phạm một lầm lỗi, và như thế là không để cho trẻ con phát-triển các năng-khiếu tự-nhiên, ngõ hầu sau này chúng có thể đối-phó hữu-hiệu với một thế-giới không an-toàn bao nhiêu.

    Người phối-ngẫu NF có thể tách-biệt họ ra khỏi môi-trường làm việc hoặc các đòi hỏi xã-hội để dành giờ cho gia-đình. Về điểm này, họ giống như người SP. Họ có nói lời chối-từ những khi được mời mọc, để rồi quên cả những việc cần phải thực-hiện. Những ai đang hiện-diện trước mặt và đòi hỏi nài nỉ thì được, còn ai mòn mỏi đợ trông nơi xa thì sẽ bị thiệt-thòi.

    Người NF phải đối-phó với một nguy-hiểm đáng kể trong tình-nghĩa thân-mật, đó là họ có khuynh-hướng bay bướm lả lướt: quen một chút rồi quen thêm một chút nữa, quen người này một chút rồi quen thêm người khác một chút, chứ không chịu dành tâm-sức để phát-triển tình-nghĩa đang có. Vì khuynh-hướng thích hồi-hộp chờ đợi và thấy tưởng-tượng hấp-dẫn hơn là thực-tế, người NF có thể dùng hết nghị-lực để sống mơ mộng mà quên bẵng đi thực-tế. Một khi người NF tin rằng họ biết đi guốc trong bụng một người rồi, họ đâm ra chán ngán: bồn-chồn, áy náy, chán nản. Người NF cũng như các mẫu tính tình khác muốn có những thay đổi trong cuộc sống. Tuy nhiên những mẫu tính tình khác đi tìm thay đổi trong những theo đuổi trí-thức, những thích-ứng với tập-quán. những nghỉ hè, những hoạt-động mới. Người NF muốn có những thay-đổi qua việc đi tìm những liên-hệ tình-nghĩa mới và đó là điều nguy-hiểm, vì họ bỏ lỡ cơ-hội phát-triển liên-hệ tình-nghĩa đang có sẵn.

    Đức-tính cao-quý của người NF có thể giúp tình-nghĩa thêm thân-mật thắm-thiết chính là vì họ có một tâm-tình nhậy cảm đặc-biệt, và có khả-năng diễn-tả biểu-lộ tình-cảm. Về điểm này, có lẽ không ai có thể sánh bì với người NF được. Người NF thích tâm-sự thân-mật không ai bằng. Người phối-ngẫu NF tạo nên nguồn thân-tình ấm-cúng, tương-trợ, yêu thương và quý-trọng mà các mẫu tính tình khác khó theo kịp.

  8. CHƯƠNG 4

    tính tình
    nơi trẻ em

    I.- NHẬN-ĐỊNH TỔNG-QUAN
    Trong việc kết bạn đưa duyên, sự kiện ‘trẻ sao già vậy’ áp-dụng khá đúng và rõ ràng, nhưng lại dường như ẩn-dấu trong việc sinh-dưỡng giáo-dục con cái. Dù sao trẻ con cũng khác người lớn chứ! Nhưng rồi mãi sau này người ta mới nhận thấy rằng ‘con nhà tông, không giống lông, cũng giống cánh’. Suốt thời niên-thiếu, người ta đã vô-tình chấp-nhận như vậy. Cha mẹ thường để ý xem con của mình làm gì, chứ không để ý xem nó đã cảm-nghiệm được gì, cảm thấy gì khi làm một việc. Cha mẹ cũng để ý xem người ta có cảm-tưởng gì về con cái của mình, chứ ít khi để ý xem chính con cái mình cảm-nghiệm về người khác ra sao. Thật ra chúng ta chẳng khôn-ngoan chút nào khi nghĩ rằng cứ cùng làm một việc là ai cũng phải có cảm-nghĩ kinh-nghiệm giống nhau. Nếu đúng như vậy, vấn-đề sẽ là hành-động chứ không phải cảm-nghiệm nữa.

    Nếu hai đứa trẻ có tính tình khác nhau mà cũng làm một việc giống y như nhau, chắc chắn sẽ có những cảm-nghiệm hoàn toàn khác nhau. Người lớn nào đó quan-sát hai trường-hợp cảm-nghiệm khác nhau của hai đứa trẻ, dù là với nhiệm-vụ làm cha mẹ hoặc là giáo-chức, cũng nhớ lại kinh-nghiệm của mình vào tuổi đó khi còn bé, chắc chắn sẽ mắc phải lầm lỗi gán ghép cảm-nghiệm của mình vào cảm-nghiệm của hai đứa trẻ. Vì cứ lầm tưởng rằng con cái phải giống cha mẹ, phụ-huynh cho dù với ý-hướng tốt cũng rất dễ có khuynh-hướng và hành-động không tán-thưởng và đồng-ý với những quan-điểm của con em mình. Thỉnh thoảng với thành-tâm thiện-chí, phụ-huynh có thể xâm phạm đời tư của con em mà không hay biết gì, coi con em như người máy để sai khiến điều-khiển. Trong sách Khải-huyền của tuổi trẻ, có bốn con ngựa: không phải là dịch hạch, đói khát v.v… như được nói đến trong Sách Thánh, nhưng là gán ghép, xâm phạm, vô-cớ và không ủng-hộ. Những con ngựa này được thả lỏng vì cha mẹ dễ lầm tưởng rằng con cái phải giống như cha mẹ y như đôi chim gần gật. Tạo-hóa đã khéo an-bài, không để cho con cái sinh ra trên trần-gian này mà không sinh-tính tự-nhiên cho chúng, đúng y như câu nói ‘cha mẹ sinh con, Trời sinh tính’. Con cái khác biệt nhau ngay từ thuở sơ-sinh, và không ai có tài uốn nắn giảng dạy cũng như không có kinh-nghiệm hãi-hùng nào có thể làm giảm bớt sự khác biệt đó được.

    Bây giờ chúng ta thử nhận xét vấn-đề được đặt ra do sự khác biệt tổng-quát đó . Đây là trường-hợp một người cha ISTJ ‘giám-đốc’ và một ngươiø mẹ ESFP ‘diễn-viên’ sinh ra một đứa con INFP ‘nhà chinh-phục’, một đứa ISTP ‘nhà nghề’, hai đứa ESFJ ‘nhà buôn’ như sau:

    nam nữ

    cha mẹ ISTJ ESFP

    con cái ISTP INFP ESFJ ESFJ

    Rắc rối hơn nữa là khi người cha ISTJ có bắp thịt gân guốc, dẻo dai của lực-sĩ, nhưng ông chưa bao giờ dùng đến ưu-điểm thể xác, nhưng ông lại làm nghề kế-toán sổ sách. Cậu con trai ISTP thớ người nhỏ nhắn, mảnh khảnh giống y như mẹ nó, trí khôn trung-bình. Người mẹ trước kia có hát trong ca-đoàn Nhà thờ: đẹp, dễ thương, hồn-nhiên. Cả hai cha mẹ đều hoàn-toàn hiểu hai cô con gái ESFJ, hoặc ít ra họ nghĩ như vậy. Cô con gái INFP không đẹp, là con út, được hiểu như là hơi khó tính, khó thích-ứng với gia-đình. Không ai biết được trí thông-minh sáng suốt của nàng. Cậu con trai ISTP chưa chịu an-thân lập-phận gì cả, nhưng nó cũng chẳng làm gì nên trò trống gì cả. Vấn-đề khá phức-tạp, nên tạm thời kể như là không có giải-pháp gì ổn-định.

    Bây giờ chúng ta hãy thử nhìn vào trường-hợp nan-giải của giáo-chức. Đây là một cô giáo ISFJ ‘bảo-trì’ dạy lớp 4: lớp có 32 học-sinh thật khác biệt nhau: 12 SJ, 12 SP, 4 NT và 4 NF. Giả-dụ như cô sắp xếp chỗ ngồi cho học-sinh trong lớp theo hàng ghế mà các giáo-chức ‘bảo-trì’ SJ thường cảm thấy hấp-dẫn, như biểu-đồ sau đây:

    ESFJ ESFJ ESFP ESFP ENTP INTP

    ESFJ ESFJ ESFP ESFP ENTJ

    ESFJ ESFJ ESFP ESTP ENTJ

    ESTJ ISFJ ESTP ISFP ENFP

    ESTJ ISTJ ESTP ISFP ENFP

    ESTJ ISTJ ESTP ISTP ENFJ INFJ

    Bây giờ hãy giả-sử như cô giáo này muốn nhiệm-vụ của cô là tất cả học-sinh đều làm việc cần-mẫn, chăm chỉ và đúng giờ, để tạo nên thói quen học tập tốt, để sau này trở nên con người đáng tin-cẩn, hữu-ích, thành-thật, là công-dân có tinh-thần trách-nhiệm, sẵn sàng và quyết-tâm làm tròn nhiệm-vụ của mình, như vậy cô đã nhìn theo cái nhìn của người SJ về mục-đích của học-đường. Cô sẽ hành-động để học-sinh thu-thập được những gì mà người SJ muốn. Trong trường-hợp này, cô giáo coi mọi học-sinh y như nhau. Dĩ nhiên có những em không hiểu rằng chúng có nhiệm-vụ và muốn lệ-thuộc, nhưng nhiệm-vụ của giáo-chức là giúp chúng ý-thức phận-vụ của chúng. Nhóm 20 học-sinh SJ không được thỏa-mãn như ý, nên bất cứ điều gì chúng muốn cũng bị từ-chối ngay tức khắc, có nghĩa là giáo-chức không nhận qua hệ-thống gán ghép, xâm phạm, vô-cớ và không ủng-hộ.

    Như vâïy, cô giáo không biết được rằng có rất nhiều học-sinh rất khác biệt với cô và cũng khác với các học-sinh khác nữa. Nhưng giả như cô bắt đầu nhận ra sự khác biệt phổ-quát và bất-biến đó, sự việc sẽ xẩy ra như thế nào? Phải chăng cô sẽ tiếp-xúc liên-hệ với mỗi em một cách khác? Phải chăng cô sẽ bỏ những đường lối phương-pháp giáo-dục mà cô chưa bao giờ đặt vấn-đề về mục-đích học-đường? Phải chăng cách-thức dạy dỗ phải thay đổi theo các mẫu tính tình khác nhau? Phải chăng nội-dung giáo-huấn cũng phải thay đổi? Chẳng hạn như có phải là cô khờ-dại hoặc khôn-ngoan khi ra cùng một bài làm, cho cùng một lời giải-thích hoặc đặt cùng một câu hỏi cho 5 em ESFJ ngồi hàng đầu, hoặc một em INTP lẻ loi ngồi ghế cuối?

    Giả-thuyết về tính tình bắt buộc chúng ta phải đặt những câu hỏi như trên. Nếu chúng ta không tin vào giả-thuyết về tâm-tính, chúng ta có thể nghĩ rằng cô giáo có tự-do để coi tất cả mọi học-sinh giống nhau là phải bắt chước giống y như cô. Nhưng nếu cô chấp-nhận giả-thuyết đó, cô sẽ khám phá ra rằng đây là một giả-thuyết tàn-khốc: tàn-khốc cho các điều cô tin-tưởng về phương-pháp và hiệu-quả của đường lối giáo-huấn. Bây giờ cô phải khước-từ tất cả để rồi kiểm-nhận lại từng điểm một xem cô có thể dùng những phương-pháp đó để làm xuất-hiện và phát-triển đường lối sống độc-đáo của mỗi học-sinh hay không? Chắc chắn là trên thực-tế chúng ta chẳng cần tất cả 32 học-sinh phải là ISFJ, cho dù chúng ta có quyền ảo-thuật biến-hóa chúng thành 32 học-sinh giống nhau như đúc. Dĩ nhiên là chúng ta vừa nói tới ISFJ, nhưng nói chung thì tính tình nào cũng vậy thôi.

    Cô giáo sẽ gặp phải khó khăn là khó mà tìm ra được một giải-pháp nào thỏa-đáng. Tuy nhiên, biết rằng mình có vấn-đề phải đối-phó cho dù chưa tìm ra được giải-pháp, cũng vẫn còn hơn là giả vờ như không có vấn-đề gì cả, để rồi không nhìn nhận thấy các dấu báo hiệu, và như vậy là có thể vô-tình làm hại tương-lai của tuổi trẻ.

    Giáo-chức đóng vai-trò giáo-dục con em thay cha mẹ. Chúng ta quan-niệm coi giáo-chức y như bậc phụ-huynh cùng hợp-tác với cha mẹ ông bà. Như vậy vai-trò của giáo-chức là để giúp cha mẹ trong vấn-đề tâm-lý phức-tạp này là con em có căn-bản tâm-lý khác biệt nhau. Rồi sau đó mới có thể đặt câu hỏi: tôi đang gặp loại tính tình nào đây? và căn-cứ vào loại tính tình đó, tôi phải làm gì để tạo nên sợi giây liên-lạc dễ chịu và hữu-ích? Dĩ nhiên khi cần phải đặt cho mình những câu hỏi như vậy, chúng ta đã ngầm hiểu rằng chúng ta có đặt liên-hệ với con em thành một vấn-đề và sẽ bớt hồn-nhiên đi. Nhưng nếu nghiên-cứu kỹ-lưỡng cẩn-thận hơn, chúng ta sẽ thấy những câu hỏi đó giúp cho chúng ta hồn-nhiên chứ không làm mất hồn-nhiên. Thực ra chỉ khi nào chúng ta muốn con em trở nên giống như chính mình mới làm cho mất hồn-nhiên. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu làm quen với các mẫu tính tình nơi trẻ em.

    Trước hết hãy nghiên-cứu 4 sự khác biệt căn-bản mà Carl Jung đã đề ra: hướng-nội/hướng-ngoại, cảm-giác/trực-giác, suy-tư/tâm-tình, phán-đoán/nhận-thức, và coi xem những khác biệt này phát-hiện như thế nào nơi trẻ em. Cho dù các mẫu-mực hành-động phát-xuất từ tính tình hơn là những ưu-tiên mà Jung đề-cập đến, nhưng nếu quan-sát để ý tới các khác biệt này, sau này chúng ta nhận thấy cũng có giúp ích. Sau đó chúng ta sẽ theo dõi nghiên-cứu 4 mẫu tính tình nơi trẻ em. Sau cùng chúng ta nên để ý xem ảnh-hưởng 4 mẫu tính tình này tới vấn-đề giáo-huấn.

    1.- hướng-nội I và hướng-ngoại E
    nhận xét

    Trẻ em có do dự khi gặp giáo-chức chưa quen, khách lạ tới nhà, trò chơi mới,

    hoặc trẻ em không do dự gì, coi y như đã quen biết rồi?

    Trẻ em hướng-nội I thường dừng lại, thu mình vào mỗi khi phải đối-phó với ngoại-cảnh hoặc người lạ không quen thuộc, trong khi đó trẻ em hướng-ngoại không ngần ngại do dự gì. Trẻ em hướng-nội có khuynh-hướng e thẹn, yên lặng, và ít xông xáo hơn là trẻ em hướng-ngoại. Trẻ em hướng-nội dĩ nhiên có phản-ứng châm chạp hơn, suy-nghĩ đắn đo về một ý-tưởng, một sự vật, hình như muốn hiểu biết những đức-tính riêng biệt trước khi đưa ra một phản-ứng. Như thế có nghĩa là đôi khi đứa trẻ hướng-nội không tỏ ra vẻ thông-minh như thực sự trí óc nó chứng-tỏ. Trẻ em hướng-nội có khuynh-hướng dùng nhiều thời-giờ dài lâu hơn trẻ em hướng-ngoại để tạo nên một tập-quán. Trẻ em hướng-nội không muốn biểu-lộ nơi công-chúng những đức-tính và khả-năng còn đang trên đà phát-triển. Những gì công-chúng thấy được và biết được nơi trẻ em hướng-nội là những gì đã được phát-triển như những tâm-tình, niềm tin của ngày hôm qua. Giáo-chức, cha mẹ, bạn bè không thể nhìn thấy khía cạnh phát-triển và tăng-trưởng của trẻ em hướng-nội. Như vậy trẻ em cũng như người lớn hướng-nội có thể là một hiện-tượng bí-ẩn cho những người xung quanh. Khá nhiều lần trẻ em hướng-nội bị người lớn vô-tình coi như là bướng-bỉnh, ngoan-cố, chỉ vì đứa trẻ muốn chờ-đợi, không kịp phản-ứng ngay, bởi lẽ nó muốn tập dượt trước trong lòng xem sao đã.

    Ông Wickes, một đệ-tử của Jung, nêu lên một nhận xét đáng lưu-ý này rằng trẻ em hướng-nội dễ bị hư đi nếu như bị bắt buộc phải hành-động như một trẻ em hướng-ngoại. Thật là một điều không may vì thông thường trẻ em hướng-nội hay bị hiểu lầm và bị bắt buộc phải thay đổi. Cha mẹ cũng như giáo-chức muốn thử thay đổi tính tình của trẻ em hướng-nội, vì coi tính tình hướng-nội tự-nhiên là sai lầm, nên không thích những thái-độ và hành-động của trẻ em hướng-nội như trầm lặng khi đối-phó với người khác, khuynh-hướng e thẹn rụt rè, chậm phát-triển cách xã-giao, thích cúi đầu không chịu ngẩng mặt lên, để tay trên miệng trước mặt người lạ, sợ hãi khi bị người lớn ‘hành’, do dự không sẵn lòng chia sẻ thành-quả của tâm-trí, chân tay với người khác, chỉ muốn ở một mình.

    Ngược lại, trẻ em hướng-ngoại E thường được người khác hiểu và thông-cảm dễ dàng hơn cũng như dễ liên-hệ đối-xử với người khác hơn. Nó cảm thấy thoải-mái tự-nhiên trong các môi-trường xã-giao và có khuynh-hướng đáp-ứng dễ dàng, hăng-hái và phấn-khởi. Trẻ em hướng-ngoại thường sẵn sàng gia-nhập sinh-hoạt các nhóm, dễ chấp-nhận ý-kiến của người khác mà không cần phải tính toán đắn đo trước. Trẻ em hướng-ngoại thích-ứng dễ dàng với hoàn-cảnh mới khi gia-đình phải di-chuyển, mau có bạn bè trong trường-học nơi xóm làng, và dễ chơi dỡn vui đùa. Ít khi người hướng-ngoại bị lẻ loi cô-đơn như người hướng-nội. Trẻ em hướng-ngoại dễ chấp-nhận những tiếp-xúc tiêu-cực hơn là trẻ em hướng-nội, và nếu cần, trẻ em hướng-ngoại có thể gây nên trò đùa chơi dỡn, và lời phê-bình chỉ-trích, hơn là bị những người lớn quan-trọng coi thường bỏ qua đi. Trẻ em hướng-ngoại thường đi theo dư-luận quần-chúng và hay theo đại-đa-số quần-chúng trong hầu hết mọi vấn-đề. Trẻ em hướng-ngoại có khuynh-hướng thích-ứng với hoàn-cảnh mới thật mau, diễn-tả thật mau bằng lời nói, và hành-động cũng thật mau. Trẻ em hướng-ngoại có nhiều bạn bè, nhiều liên-hệ tình-nghĩa, trong khi đó trẻ em hướng-nội tương-đối chỉ có rất ít. Trẻ em hướng-ngoại thường cảm thấy hăng hái trong trường-hợp trẻ em hướng-nội chần-chừ. Trẻ em hướng-ngoại tỏ ra chắc chắn cương-quyết khi đối-phó với một vấn-đề mới lạ chưa quen trong khi trẻ em hướng-nội tỏ vẻ thận-trọng không dứt-khoát y như thể vấn-đề mới lạ chưa quen sẽ đưa đến một nguy-hiểm không chừng. Tỉ-số của trẻ em hướng-ngoại đối với hướng-nội là 3 trên 1, nên chi trẻ em hướng-ngoại được nhiều người lớn cũng như bạn trẻ cổ-võ ủng-hộ thái-độ và hành-động hơn là trẻ em hướng-nội. Do đó trẻ em hương-ngoại lớn lên với nhiều tự-tin hơn là trẻ em hướng-nội.

    2.- cảm-giác S và trực-giác N
    nhận xét

    Đứa trẻ thường có mơ mộng ban ngày và có vẻ thích những chuyện thần-tiên, và muốn nghe kể đi kể lại những câu chuyện đó,

    hoặc đứa trẻ có khuynh-hướng hoạt-động, thích các trò chơi và nghe các câu chuyện có nhiều động-tác.

    Đứa trẻ trực-giác N có khuynh-hướng xin lặp đi lặp lại các câu chuyêïn đã kể hoặc là đã đọc trong sách, và nó thích nghe các câu chuyện có nhiều tưởng-tượng và nghĩa bóng. Đứa trẻ có cảm-giác S thì lại thích thưởng-thức những câu chuyện phiêu-lưu mạo-hiểm có đầu đuôi đầy đủ về các chuyện quen thuộc và có thực-tế, muốn thấy chuyện có động-tác và ý-nghĩa. Đứa trẻ S thích các câu chuyện có nhiều chi-tiết và muốn nghe chuyện mới hơn là chuyện cũ. Đứa trẻ S thường thấy thích-thú các trò chơi hoạt-động cách này cách khác, bỏ thời-giờ nghe chuyện để hoạt-động thực-sự.

    Chúng ta chỉ có thể nhận ra những trẻ em N cực-đoan trong mấy năm đầu đời. Các trẻ em N trung-bình có khuynh-hướng cụ-thể trong các động-tác, dáng dấp và coi bộ cũng giống như các trẻ em S trung-bình. Kết-quả là trong một lớp tiểu-học tiêu-biểu, người ta lầm-tưởng rằng hình như ít có trẻ em N hơn. Nơi người lớn thì lại khác như đã đề-cập trong chương 1: tỉ-số là 3 người S mới có 1 người N. Do đó cho dù có nhận-diện đủ số N đi chăng nữa , tỉ-số vẫn bị chênh lệch. Thêm vào sự chênh lệch đó, trẻ em N thường lâu lắm mới để phát-hiện ra đặc-tính N, nên số trẻ em được coi là N rất ít. Vi thế trẻ em trực-giác N cực-đoan, nhất là hướng-nội và tâm-tình, lúc nào cũng có cảm-tưởng mình là một con chim lạc-loài.

    Đứa trẻ N có khiếu chuẩn-bị cho tương-lai hơn là đứa trẻ S, cũng thế nếu đã hứa điều gì với đứa trẻ N thì lỗi lời hứa có thể là một tai-họa khủng-khiếp, trong khi đó đứa trẻ S chịu-đựng kế-hoạch lòng người đổi ý. Đứa trẻ N thường khó đối-phó hơn: hầu như lúc nào nó cũng có vẻ như duy-trì một cốt-cách ‘mình là mình, không giống ai’, nên người lớn có lúc cảm thấy khó chịu và bướng-bỉnh. Vì đứa trẻ N được lôi cuốn về tương-lai và chuyện khả-hữu, nên nó ít để ý mà dấn-thân vào hiện-tại. Nếu hiện-tại đó là bài học trong lớp hoặc một lệnh truyền của cha mẹ, đứa trẻ N có thể cảm thấy khó khăn. Nó có thiên-kiến đối với người khác, nhất là đối với mẫu tính tình NT, và thường nó chắc chắn những gì nó biết; đồng-thời nó không thể tìm lý lẽ để biện-minh những gì nó tin khi người khác hỏi han. Vì thế đứa trẻ N có thể bị coi như là cố ý đoán mò và muốn có kiến-thức của người khác.

    Trong tình bạn, đứa trẻ N có thể biểu-lộ tình-cảm đam mê đến độ mê mệt không mấy thích-hợp , và như vậy làm cho người khác phải đặt câu hỏi cho vấn-đề tín-nhiệm sâu xa và đầu-tư tình-cảm. Nếu như đứa trẻ N bị mất tín-nhiệm, nó sẽ bị đau khổ rất nhiều và rất sâu đậm. Nếu đứa trẻ N bị thúc-đẩy bởi các tư-tưởng tiêu-cực, chẳng hạn như muốn trả thù, nó có thể chỉ đúng điểm nạn-nhân dễ bị thương nhất.

    Như vậïy một giáo-chức khi bị ghét, – dĩ nhiên đứa trẻ N có thể ghét tàn canh luôn, – sẽ thấy mình bị xấu-hổ và tủi nhục bởi một học-sinh N, nhưng lại rối-trí và vô-vọng để đối-phó với tình-trạng, để đối-xử với học-sinh N một cách hữu-lý. Học-sinh N cũng có thể đặt giáo-chức của mình lên một bậc suy-tôn bất-khả-kháng, không cho phép giáo-chức có yếu-đuối của con người, và đối-tượng của sự cảm-phục này chỉ có thể chịu-đựng sự ngột ngạt với hy-vọng sự cảm-phục đó sẽ biến-đổi thành một liên-hệ tình-nghĩa hữu-lý hơn. Cả cha mẹ và giáo-chức của con em N, đặc-biệt là con em N hướng-nội, phải quan-tâm đến một trường-hợp rất dễ bị hiểu lầm: do đó các vị rất dễ tỏ ra khó chịu đối với loại trẻ em này. t.d. đứa trẻ N có thể tạo ra các đường lối tưởng-tượng về các đức-tính phi-thường, để rồi vô-cớ bị người lớn gán cho là bắt chước người trưởng-thành. Nếu chuyện bất-trắc đó xẩy ra, đứa trẻ N có thể bị thiệt thòi vì nó sẽ ngưng không tiếp-tục suy-nghĩ sáng-tạo nữa , và hậu-quả là lòng tự-tin bị tổn thương đáng kể. Khi đứa trẻ N phải làm việc hoặc học bài, nó có thể rơi vào tình-trạng mê mẩn mơ mộng, làm cho người dạy dỗ nó phải sửa chữa nó hoặc quở trách nó, cho nó là lơ đễnh.

    Cha mẹ cũng như giáo-chức tính tình N cảm thấy rất khổ-sở vì đứa trẻ N, và nhận thấy đứa trẻ S dễ chịu hơn nhiều. Trong khi đứa trẻ N mơ mộng cho hết giờ, đứa trẻ S có khiếu liên-hệ với thế-giới chung quanh mình. Đứa trẻ S sáng chói trong thế-giới hành-động. t.d. một người khác tới nhà, đứa trẻ S sẽ lựa chọn đúng lúc để mẹ chú ý đến, chẳng hạn như vuốt ve hoặc một cử-chỉ thân-mật gì khác. Trong lớp học, đứa trẻ S có khuynh-hướng hòa-hợp với ngoại-cảnh môi-trường. Nó tiếp-xúc với thế-giới của nó phần lớn qua các liên-hệ với những người, những sự việc chung quanh nó, và thường những người những sự việc đó là quan-trọng. Đứa trẻ S đáp lại chi-tiết nhỏ mọn. Chẳng hạn như nó thích tô mầu các hình vẽ, và để ý từng chi-tiết của lời chỉ-dẫn trong các sách học. Thỉnh thoảng đứa trẻ N được may mắn có giáo-chức là người hiểu biết tính tình của nó: khi đó nó sẽ học rất khá ở trường. Khi đứa trẻ S ở trong lớp học, nó cảm thấy giáo-chức liên-hệ với nó theo đường lối của nó. Đứa trẻ S thường thường liên-hệ với người khác qua các sự vật, chẳng hạn như một đồ chơi, một bài học trong lớp. Đứa trẻ S có thể sắp xếp lại các đồ vật một cách tích-cực và thoải-mái một thời-gian, nhưng rồi ít khi nó có cái nhìn xa vời như đứa trẻ N. Đối với trẻ S, đồ chơi thường vẫn chỉ giữ nguyên tính-chất đồ chơi: cái xe là cái xe dùng để di-chuyển đi lại. Đối với trẻ em N, cái xe có thể trở nên một tầu ngầm, một quái-vật dưới biển, có thể bay nữa là khác.

    Giáo-chức cũng như phụ-huynh rất có thế sửng sốt ngạc-nhiên vì thấy có những khác biệt nơi trẻ em mà họ không hiểu và cũng không nhận ra, Do đó những người liên-hệ cần phải hiểu biết những dị-biệt của đứa trẻ N cũng như đứa trẻ S, để giúp cho cả hai. Tuy nhiên đứa trẻ N dễ bị coi là kỳ-cục, khác thường một cách khó chấp-nhận được.

    3.- suy-tư T và tâm-tình F
    nhận xét

    khi một đứa trẻ được lệnh phải vâng lời trong một hoàn-cảnh nó không hoàn toàn hiểu, nó có khuynh-hướng hỏi lý-do tại sao,

    hoặc nó tìm cách vâng lời cho vui lòng người đã ra lệnh?

    Đứa trẻ suy-tư T có khuynh-hướng muốn biết các lý-do tại sao phải làm việc này việc kia, trong khi đó đứa trẻ tâm-tình F lại chỉ muốn làm sao để làm đẹp lòng người đã ra lệnh. Đứa trẻ F dễ cảm-nghiệm được tâm-tình cảm-xúc của người khác và thường lãnh-nhận những trách-nhiệm bất-thường ở nhà cũng như trong lớp học. Nó có khuynh-hướng phát-hiện ra tâm-tình dễ chịu hoặc khó chịu của người khác. Đứa trẻ F thích làm những việc lặt vặt cho cha mẹ hay giáo-chức , và muốn được người khác ghi nhận và cảm ơn. Đứa trẻ F dễ nhạy cảm nhất trong bầu-khí tình-cảm của gia-đình, và có khi bị đau ốm chỉ vỉ bị dằn vặt giữa những mâu-thuẫn, bất-an triền-miên.

    Hình như đứa trẻ T dễ có khả-năng tránh xa bầu-khí tình-cảm không thân-thiện, có khi không để ý những khó chịu của những người chung quanh mình. Đứa trẻ F thích nghe người lớn bàn-luận về những việc trong làng xóm, trong gia-đình, trong khi đó đứa trẻ T lại đi làm các việc khác. Đứa trẻ T hay hỏi những câu khách-quan, cần lời giải-thích cho mọi vấn-đề, và khó chịu hoặc không bằng lòng với câu trả lời ‘bởi vì tao đã nói nên mày phải nghe’. Đứa trẻ F dễ dàng chấp-nhận những câu trả lời ‘bởi vì’, và cho dù không hoàn toàn hài-lòng về câu trả lời đó cũng có thể tiếp-tục làm việc như thường, y như thể đã nhận được một lời giải-thích thỏa-đáng. Đứa trẻ T thích suy-tư, nên cho dù có bị khủng-hoảng cũng không thích biểu-lộ cảm-xúc qua nét mặt, trong khi đó đứa trẻ F có nét mặt nhạy cảm và linh-động, cũng như dùng lời nói để diễn-tả tâm-tình. Đứa trẻ T không thích được đụng chạm vuốt ve, và khó biểu-lộ tâm-tình với cha mẹ, trong khi đứa trẻ F thường đáp-ứng các biểu-lộ tình-cảm rất dễ dàng. Đứa trẻ F dễ khóc hơn đứa trẻ T, và dĩ nhiên đứa trẻ T dù bị quở phạt cũng khó biểu-lộ phản-ứng. Cho dù đứa trẻ F dễ bị mất lòng hơn đứa trẻ T khi cha mẹ hoặc giáo-chức có lời phê-bình, nhưng đây thường chỉ là bề ngoài vậy thôi. Đứa trẻ T có vẻ như bất-cần và không phản-ứng cho dù bên trong nó cũng bị tổn-thương y như đứa trẻ F.

    4.- nhận-thức P và phán-đoán J
    nhận xét:

    đứa trẻ có vẻ như muốn sắp đặt mọi sự đâu vào đó, dứt-khoát, quyết-tâm,

    hoặc nó chỉ muốn có những bất-ngờ và lúc nào cũng chỉ muốn thay đổi lựa chọn.

    Đứa trẻ phán-đoán J có khuynh-hướng sắp đặt mọi sự đâu vào đó, còn đứa trẻ nhận-định P lại dửng dưng đối với các thể-chế trật-tự, nhất là khi do người khác sắp xếp. Đứa trẻ J đi học đúng giờ, sợ đi trễ, và sắp đặt bàn ghế, giường tủ, phòng ốc gọn gàng ngăn nắp. Ngược lại đứa trẻ P coi bộ không quan-tâm gì bao nhiêu về giờ giấc: nó có thể để cả đống quần áo ngổn ngang mà không quan-tâm gì, bánh kẹo trên bàn trong tủ lung tung hết, làm cho cha mẹ bực mình mà không hiểu tại sao.

    Đứa trẻ J nếu có tính hướng-ngoại E nữa sẽ rất dễ bị lôi cuốn vào các sinh-hoạt trong làng xóm. Đứa trẻ P phải được nhắc nhở mặc quần áo, giờ ăn giờ uống, giờ học, giờ ngủ nghỉ v.v…Đứa trẻ J dễ tự mình đặt ra thời-khắc-biểu làm những công việc hằng ngày đó. Đứa trẻ J thường tỏ ra tự-tín hơn đứa trẻ P, và thường nói ‘chắc chắn mà! Cứ yên-trí!’ đứa trẻ P thường dè dặt lời nói hơn và cân-nhắc đắn đo từng lời từng chữ một.

  9. CHƯƠNG 4

    tính tình
    nơi trẻ em

    II.- BỐN MẪU TÍNH TÌNH NƠI TRẺ EM
    Trong chương 1, chúng ta đã dùng 4 mẫu-tự (chữ cái) để sắp loại tính tình của người lớn qua 70 câu hỏi nhận-xét, trong chương này, chúng ta cũng hy-vọng thử sắp loại tính tình của trẻ em giống như vậy. Dĩ nhiên đây chỉ là một cố-gắng thử xem sao thôi, bởi lẽ những nhận xét chúng ta có về trẻ em không thể nào chính-xác bằng những lời nhận-định về người lớn được, vì đây là vấn-đề khuynh-hướng, sở-trường, ưa thích hay không. Những đoạn tiếp theo đây diễn-tả những cách-thức mà các mẫu tính tình đó lớn lên. Chúng ta sẽ lần lượt diễn-tả xem mỗi tính tình lớn lên làm sao theo thứ-tự SP, SJ, NT và NF. Cuối cùng chúng ta sẽ có chân-dung của mỗi mẫu tính tình theo khía cạnh cách-thức học hỏi.

    1.- trẻ em chịu chơi (sống phê) SP
    Đứa trẻ SP có tính ưa hoạt-động. Mặc dầu thể xác nó cũng thích ăn uống như những trẻ em thuộc các mẫu tính tình khác, nhưng tâm-lý của nó cho thấy nó thưởng-thức đồ ăn thú-vị hơn. Thường thường nó thích ăn uống bừa bãi làm cho mẹ nó không thích bao nhiêu. Để đứa trẻ SP chơi một mình, chỉ một lúc sau là mặt mũi tay chân nó bẩn thỉu cả. Tất nhiên nó sẽ bị la mắng, để rồi sau đó nó biết bất-cần những lời la mắng đó, vì cứ bị la mắng hoài mãi. Đứa trẻ SP không hiểu được như các mẫu tính tình khác rằng phòng bè phải gọn gàng ngăn nắp sạch sẽ. Phòng của nó đầy trò chơi, quần áo bề bộn, đủ các thứ lặt vặt nhặt lượm từ mọi nơi, không có một thứ-tự nào cả: nhưng nó thích như vậy đó. Nó quá bận rộn không còn giờ để tâm treo quần áo vào tủ, để xếp đặt thứ-tự trong ngăn bàn. Nó tự hỏi: ‘Đâu có gì khác biệt mà phải lo lắng? Làm như vậy thì mất hết thời giờ, đâu còn giờ để vui chơi nữa!’

    Tuy nhiên nếu như đứa trẻ SP muốn hoặc có khuynh-hướng, nó có thể dấn mình làm những công việc đòi hỏi chú ý nhiều giờ. Nó có thể mở đậy nắp vung nồi niêu xoong chảo ngày này qua ngày khác, có thể tốn nhiều thời-giờ mân mê cây đàn nó lựa chọn, loáy hoáy mấy đồ chơi nó thích một hồi lâu, để rồi ngày mai nó sẽ quên đi tất cả. Dĩ nhiên những đứa trẻ nào kiên-nhẫn thực-tập sẽ trở thành nghệ-sĩ kỳ-tài đủ mọi loại. Đứa trẻ SP thích hoạt-động và khích-lệ: nó sẽ thích tranh đua.

    Nếu như có một số ít thay đổi thường-xuyên và một ít khích-lệ, đứa trẻ SP sẽ tạo nên bầu-khí vui vẻ trong lớp. Nó đem lại niềm vui và tiếng cười, dù đúng lúc hay không. Đứa trẻ SP ưa thích các hoạt-động và dấn-thân hết mình vào các trò chơi, các hoạt-động văn-nghệ, các trình-diễn nghệ-thuật. Có thể nó thích chơi các vật-dụng hơn là để ý xem nó có tạo nên được tác-phẩm gì không. Đứa trẻ SP có vẻ như thích bay nhẩy, cứ chạy từ chỗ này qua chỗ khác, không tha-thiết làm cho xong một việc. Nó phải làm một cái gì đó mới học được. Nó học dễ hơn nếu môn học đó có vẻ giống như một trò chơi. Còn nếu hoạt-động nào không có vẻ trò chơi, phải coi đây chỉ là giai-đoạn chuyển-tiếp chuẩn-bị cho tương-lai thôi. Đứa trẻ SP thường xuất-sắc khi học lớp mẫu-giáo, vì trò choi là phần chính của chương-trình. Rồi càng học lên lớp trên với công việc chính là chuẩn-bị, học-tập các quy-tắc và sự kiện nhờ việc đọc sách và viết lách, nó bắt đầu mất hứng-thú. Đứa trẻ SP không thích chuẩn-bị lo lắng sắp đặt một cái gì cả. Khi chương-trình học bớt các hoạt-động đi, đứa trẻ SP không còn thấy các hoạt-động và khích-lệ nó muốn nữa. Rồi nếu như việc học đòi hỏi phải tập-trung tư-tưởng, nó sẽ trở nên bất-an, và sẽ tìm cách trở về những hoạt-động tự ý nó tìm ra. Và hậu-quả là nó hay phá phách trong lớp hoặc tìm cách bỏ học.

    Đứa trẻ SP cực-đoan rất hay tỏ ra bất-an, đứng ngồi không yên mau chán ngán, và dễ làm các việc lẩm-cẩm mà các giáo-chức và bác-sĩ vô-tình gán ghép cho nhãn-hiệu ‘hoạt-động thái-quá’ (con lăng quăng), theo như nguyên-tắc vật-lý hiện-hành. Đàng khác, nó có thể bị quá khích-lệ, quá hăng say, quá nhiệt-tình mà không đủ khả-năng để hòa dịu lại một cách dễ dàng nữa. Điều quan-trọng là đứa trẻ SP cần phải có những lúc yên lặng thanh-thản và được huấn-luyện để nghỉ xả hơi thư-giãn. Nó cần có lúc được hoạt-động tự-do, nhưng cũng cần có chỗ trầm-lặng yên-hàn. Những bàn ghế ngăn ô riêng biệt trong lớp học dành cho mỗi học-sinh một chỗ riêng, là môi-trường lý-tưởng nhất đáp-ứng nhu-cầu của học-sinh SP.

    Đứa trẻ SP thường là đứa trẻ hoạt-động nhiều, cho dù đứa trẻ SP hướng-nội I ít hoạt-động hơn đứa trẻ hướng-ngoại E. Nếu ai tìm cách thay đổi căn-bản đứa trẻ SP thì chỉ làm cho nó mất thăng-bằng khó thích-hợp lại với xã-hội, bởi lẽ nó không phải là SJ hay NT hoặc NF. Nó chỉ muốn biểu-diễn thi-thố chứ không muốn trách-nhiệm, chuyên-môn hoặc trọn-hảo. Nó không thích chỉ ngồi ro ró trong phòng với chỉ một trò chơi, mà nó muốn phải được đi tung tăng tự-do lang thang bay lượn hết chỗ này tới chỗ khác tùy hứng. Nó thích chơi với loài vật, cho dù có lúc nó cũng tỏ ra khó chịu với loài vật. Đứa trẻ SP nên có những đồ chơi chắc chắn, quần áo bền dai, vì nó dễ coi thường tất cả. Nó chỉ chú ý tới các trò chơi dễ, các đồ vật đơn-giản, chứ không thích những gì là cầu-kỳ.

    Đứa trẻ SP liên-hệ với người khác ngang hàng như anh chị em chứ không như cha mẹ, do đó dễ chơi đồng-đội. Nó thích được ganh đua thi tài. Đối với nó, bình-đẳng cũng quan-trọng như tự-do. Nó thích nói chuyện với người khác, nhưng nó lại cần kiểm-soát hoạt-động của nó. Nếu như nó không hoàn toàn kiểm-soát được các hoạt-động, tự dưng nó sẽ hết hứng-thú không còn muốn làm gì nữa. Nó muốn tự mình khám-phá ra thứ-tự các hoạt-động của mình, cho dù nó cũng không thích sự tham-gia của các người khác vào các diễn-tiến hoạt-động, Muốn cho nó tham-gia tích-cực, phải làm sao cho nó thích-thú trước đã. Nó không thích học hỏi một cách thụ-động. Nó muốn sao phải tích-cực điều-khiển hoạt-động hoặc làm một cái gì. Tốt hơn hết là phải làm sao cho nó thích-thú trước đã, rồi nó sẽ hy-sinh dấn-thân sau.

    Nếu muốn nhận xét về một đứa trẻ SP, phải để ý đến khía cạnh trình-diễn. Muốn cho có ảnh-hưởng tới đứa trẻ SP, phải nói tới hiệu-quả của hành-động. Đứa trẻ SP thích nghĩ tốt về mình và về những người điều-khiển nó, nếu nó có được tự-do để có cơ-hội hành-động. Muốn thuyết-trình cho nó, phải nói ngắn, và nó cũng chỉ thích đọc bài ngắn. Tốt nhất là pha lẫn các cách học bài riêng với những hoạt-động mà nó thích-thú. Nên thay đổi lúc học riêng, lúc học theo nhóm nhỏ, lúc học theo nhóm lớn, như vậy sẽ giúp nó bớt những đề-kháng tự-nhiên lúc đầu. Đứa trẻ SP thích nhất là đóng kịch diễn tuồng. Nó muốn được người ta coi nó diễn-xuất, và nó lấy làm rất thích-thú. Nếu lớp học có các hoạt-cảnh xã-hội, đó là các hoạt-động nó ưa-thích hơn cả.

    Nói như thế không có nghĩa là đứa trẻ SP không nên tập-luyện tập-trung tư-tưởng hoặc phải trì-hoãn không nên va chạm với các vấn-đề phức-tạp thực-tế khó-khăn đâu. Dĩ nhiên nó cũng cần phải phát-triển các khả-năng này, và bước đầu-tiên là công-nhận các khuynh-hướng tự-nhiên của nó trước đã, đồng-thời nhìn nhận rằng mẫu trẻ con như vậy có khuynh-hướng tự-nhiên xa tránh các khía cạnh phức-tạp, bởi lẽ nó có tính cách đột-xuất bộc-trực và muốn trì-hoãn.

    Đứa trẻ SP có thể gây nên phiền-toái rắc rối trong lớp học, khi nó bị bắt buộc phải học tuyệt-đối theo kiểu SJ. Những kiểu dạy học như bắt đứa trẻ SP ngồi vào bàn học mãi, bắt nó ngồi ghế hàng đầu, chỉ cho phép nó nói chuyệïn với giáo-chức không thôi, bảo nó phải học bài, viện lý-do là ‘mai mốt lớn lên, nó sẽ cần đến kiến-thức này nọ’, hoặc bắt nó suốt ngày chỉ vật-lộn với cái tư-tưởng trừu-tượng trên giấy tờ: tất cả chỉ là uổng công vô-ích mà thôi. Làm như vậy không thích-hợp chút nào với nhóm SP, để rồi nó sẽ chán học, bỏ lớp, hoặc cùng lắm chỉ ngồi đó có xác mà không có hồn, bỏ đi sớm chừng nào hay chừng nấy. Thế mà trung-bình mỗi lớp học có chừng 40% học-sinh là SP. Đó là lý-do tạo sao mẫu tính tình này có khuynh-hướng học xong trung-học là thôi, ít khi học tiếp lên đại-học, hoặc cùng lắm là đi dự một vài khóa hội-học chuyên-môn thôi.

    Kiểu-cách SP học-tập không thích chủ-trương ‘ngày nay học-tập, ngày mai giúp đời’. Đứa trẻ SP chỉ muốn được tự-do để sống theo cảm-hứng hiện-tại, muốn tự-do dấn-thân làm các việc tay chân thể xác, muốn học tập trong bầu-khí phấn-khởi có liều-lĩnh , mạo-hiểm và ganh đua, có mầu sắc âm-thanh và ánh-sáng, cử-động thật nhiều. Thực ra có niều khi chỉ có một lý-do độc-nhất giữ chân đứa trẻ SP ở lại trong trường đó là cơ-hội chơi một nhạc-cụ. Các đứa trẻ SP thích học nhạc có lẽ vì nhiều tác-động và thính-giả làm cho nó vươn lên.

    Cách-thức đứa trẻ SP học tập hình như không đúng với cách-thức giảng-huấn trong đa-số các lớp học. Hơn nữa đa-số các giáo-chức lại là SJ nên dĩ nhiên họ giảng-dạy theo đường lối SJ nhiều hơn. Như vậy giáo-chức SJ giảng-dạy học-sinh SP phải hướng tới các mục-đích xa vời, phải học tập ngày nay vì đây là cách tốt nhất chuẩn-bị hy-vọng học cao hơn, phải tiết-kiệm từng xu nhỏ để bảo-đảm tương-lai mai ngày, phải đặt kế-hoạch mới có thể tiến-thân, mới có hòa-đồng với xã-hội, như thế mới mong có được một chỗ đứng. Tất cả những mục-đích đó chẳng có nghĩa-lý gì đối với đứa trẻ SP cả. Đối với nó, chuẩn-bị cho tương-lai có nghĩa là phải quên đi hiện-tại. Nó muốn sống theo cảm-hứng và phấn-khởi của ngày hôm nay: ngày mai hãy để cho ngày mai lo.

    Xin hãy coi thử một trường-hợp này: một học-sinh SP được giáo-chức nhắc nhở: ngồi yên trong lớp, nhìn lên phía trước, làm bài ở nhà trước, tập thói quen học-hành đàng-hoàng, phải giữ kỷ-luật, học trước chơi sau, chỉ được chơi trong những giờ rảnh rỗi không có chi làm, hãy chờ-đợi, hãy đứng sắp hàng. Tất nhiên đứa trẻ SP sẽ đứng sắp hàng chờ đợi, ép mình theo thói quen, làm việc cho ngày mai, trong khi nó rất nôn nóng chỉ mong đến giờ ra chơi, đi nghỉ. Tất cả những hoạt-động trên chẳng có gì là hấp-dẫn đối với đứa trẻ SP: nó có ép mình học trong lớp đó, nhưng rồi mỗi ngày một cảm thấy ít hấp-dẫn thích-thu. Hậu-quả là có ít người SP học trên trình-độ cao. Trẻ em SP không học được đúng khả-năng trong trường đâu. Giáo-chức khuyên nhủ: phải học để tìm thấy cái thú học tập, nhưng khốn nỗi học-sinh SP không thực sự lĩnh-hội được ý-nghĩa câu nói đó. Học-sinh SP sẽ làm cho giáo-chức bực mình, cha mẹ không hiểu nổi. Dĩ nhiên cha mẹ cũng như giáo-chức chỉ muốn ‘suy bụng ta ra bụng người’, muốn cho con em mình cũng được thành-đạt theo mơ ước của mình. Nhưng trẻ em đâu có muốn như vậy. Tính-tình chịu chơi SP phát-hiện rất sớm trong thời thơ-ấu và khó mà tan-biến đi.

    2.- trẻ em chịu trận (siêng làm) SJ
    Đứa trẻ SJ dễ làm cho liên-hệ gia-đình bị tổn-thương sứt mẻ hơn các mẫu tính tình khác. Nó cần được cha mẹ tỏ ra hòa-hợp, cương-quyết và bình-thản. Nếu cha mẹ một người nghiêm-nhặt một người dễ dàng thì sẽ gây tai-hại rất nhiều cho đứa trẻ. Nó cần phải biết chắc chắn rằng hôm nay thế nào ngày mai cũng sẽ vậy. Chẳn hạn như thay đổi chỗ ở thường-xuyên sẽ làm cho đứa trẻ SJ bất-ổn, trong khi đó đứa trẻ SP, NT hoặc NF có thể đáp-ứng dễ dàng hơn, cho dù cách đáp-ứng của mỗi mẫu tính tình có khác nhau. Đứa trẻ SJ cần phải được lớn lên và giáo-dục cùng với bạn bè trong xóm, trong làng, cùng môi-sinh cộng-đồng. Nó cảm thấy sống thoải-mái với đại-gia-đình ông bà nội-ngoại chú bác cô dì, họ hàng thân-thuộc đủ mọi tầng lớp. Nó thích nghe kể những câu chuyện gia-đình và nhớ mãi những câu chuyện đó mai ngày khi lớn lên. Đứa trẻ SJ sống thoải-mái trong gia-đình đông con, và càng nhiều anh chị em càng thích, trong khi đó đối với các mẫu tính tình khác thì không quan-hệ gì.

    Đứa trẻ SJ có khuynh-hướng thích các tập-quán thói quen và thường chu-toàn nhiệm-vụ được trao phó một cách rõ ràng chi-tiết, t.d. đổ rác, quét nhà, lau bàn, dọn phòng. Dĩ nhiên nó chỉ có thể chu-toàn những nhiệm-vụ mà nó có khả-năng thực-hiện. Nó được vui mừng nhất là khi nào được người lớn tán-thưởng khen ngợi. Đứa trẻ SJ rất cần nhận được những lời chỉ-giáo. Nếu như người lớn không tiếp-tục nói cho biết nó làm ăn ra sao, chẳng mấy chốc nó sẽ chán nản chẳng tha-thiết với nhiệm-vụ được trao phó nữa. Đứa trẻ SJ cũng biết đáp-ứng lại lời phê-bình chỉ-trích để rồi sẽ cố-gắng cải-tiến hơn nhiều. Đứa trẻ SJ chịu nhận chuyện sửa phạt thể xác như là cách-thức sửa sai dạy dỗ. Khi đi học đứa trẻ SJ thích-ứng dễ dàng với lớp học và nhà trường, với kỷ-luật và thói quen, cho dù lúc đầu đứa trẻ SJ hướng-nội có tỏ ra nhút nhát. Đứa trẻ SJ phát-triển tốt đẹp với các phương-pháp giáo-dục công-thức kỹ-thuật như làm bài đã ra, lặp đi lặp lại, thực-tập, học thuộc lòng, trả lời các câu hỏi của giáo-chức.

    Đứa trẻ SJ thích cố-gắng đủ mọi cách để làm vui lòng giáo-chức và thường không hỏi lý-do tại sao lại có bài học bài làm như đứa trẻ NT sẽ hỏi. Chỉ nguyên một lý-do là vì giáo-chức đã ra chỉ-thị, thường đã đủ để nó vâng-lời. Dĩ nhiên đứa trẻ SJ khó mà phát-triển mỗi lần bị thất-bại, nhưng có lẽ nó sẽ dễ chấp-nhận thất-bại do nó nhận-định ra hơn là do giáo-chức giám-định, nhất là khi việc giáo-chức giám-định là tiêu-cực và khi đứa trẻ ít có được thành-công khi làm vừa lòng người khác. Đứa trẻ SJ có khuynh-hướng ghi-niệm quý giá các bài được khen tặng, các thành-tích vẻ vang, các chiến-công được tuyên-dương, các bảng tưởng-thưởng. Nó thích-thú được vinh-dự làm đầu nêu lên bảng, đúng xếp hàng đầu, làm trưởng lớp, làm chủ-tịch hội. Những vinh-dự đó có nghĩa là nó được thầy yêu bạn quý và cha mẹ thương.

    Đứa trẻ SJ hình như thích-thú thực-tập các năng-khiếu văn-phòng như tính toán, đọc lớn tiếng và đánh vần. Nó cảm thấy hấp-dẫn tất cả các khía-cạnh thực-tế của khoa-học, địa-dư và lịch-sử. Khi trẻ SJ học tới trung-học, nó có khuynh-hướng chọn ngành dịch-vụ doanh-thương. Ngôn-từ mỗi ngày một trở nên dụng-cụ cần-thiết để làm việc. Tuy nhiên nó sẽ bớt chú ý đến văn-chương và viết lách sáng-tạo , và có khuynh-hướng xa tránh các khoa-học và toán cấp cao. Nó thường không thích kịch-nghệ hoặc tranh-luận bao nhiêu. Lên đại-học, sinh-viên SJ đa-số chọn ngành kinh-doanh, kế-toán, dạy học, y-tá và các ngành phục-dịch khác.

    Trẻ em SJ thường thích đi theo cha mẹ viếng thăm bạn bè, và chúng vui hưởng các ngày lễ cổ-truyền như lễ Tạ ơn lễ Giáng-sinh ở Hoa-kỳ, hoặc ngày Tết nhất đình đám ở Việt-nam. Chúng vui mừng thích-ứng với thói quen cố-định chính-xác, trong khi đó chúng cảm thấy khó chịu bực mình khi có thay đổi, lộn xộn và khủng-hoảng. Thay đổi giáo-chức giữa năm sẽ tạo nên mối bất-ổn với học-sinh SJ, trong khi đó học-sinh SP lại có cơ-hội phát-triển. Đứa trẻ SJ có khuynh-hướng gìn giữ trật-tự trong tủ áo, và bàn học có ngăn nắp gọn gàng, quần áo gấp phẳng phiu đâu vào đó. Ngay đồ chơi cũng được sắp đặt thứ-tự từng ngăn ô.

    Đứa trẻ SJ sẽ học có kết-quả tiến-bộ hơn nếu nó được chỉ-dẫn từng bước mới một, được có dịp chứng-tỏ nó hiểu biết từng giai-đoạn nhỏ một. Bắt đứa trẻ SJ tự mình tìm ra cách-thức học, hoặc chỉ cho nó những lời chỉ-dẫn mung lung mơ-hồ, sẽ không giúp nó phấn-khởi được như trường-hợp đứa trẻ NT. Đứa trẻ SJ cần biết người ta muốn nó làm gì và cần biết chắc chắn những cách-thức để chu-toàn nhiệm-vụ. Nó phát-triển thoải-mái khi có chương-trình rõ ràng cố-định

    Đứa trẻ SJ thích làm những tiểu-xảo ở nhà. Nó thích dùng gỗ, vải, len để làm các đồ-vật linh-tinh cũng như trẻ SP, nhưng đứa trẻ SJ chăm chú để ý đến đối-tượng là đồ-vật, là sản-phẩm làm được, còn trẻ em SP thì để ý đến cách-thức làm. Tuy nhiên cách-thức để chế-tạo đồ-vật cũng phải được thi-hành đúng mức. Nếu đứa trẻ SJ có tặng ai một đồ-vật gì nó làm, đó là tặng với tất cả tâm-hồn của nó, và nó muốn được người ta biết ơn, cảm mến, nâng niu, và khoe trương phô bầy.

    Đứa trẻ SJ cần phải có người lớn luôn luôn nhắc nhở chỉ bảo xem nó làm việc thế nào. Đối với đứa trẻ SJ, việc nó làm đúng hoặc sai thật là quan-trọng, và dĩ nhiên nó chỉ muốn làm cho đúng, có nghĩa là nó muốn làm theo ý của người lớn. Đứa trẻ SJ để ý đến chi-tiết. Nó lấy làm rất quan-trọng phải thi-hành cho được các nhiệm-vụ cho mình cũng như cho người khác. Chẳng hạn như nó cảm thấy vui mừng khi tìm ra được đúng đầu đề của một bài luận, một bản văn. Điều quan-trọng là nó phải có các thói quen học tập tốt, và cách học tốt nhất là phải đúng giờ giấc. Đứa trẻ SJ muốn sắp đặt mọi công việc của nó một cách chi-tiết cẩn-thận, chương-trình rõ ràng và thi-hành đúng mức.Đứa trẻ SJ dễ đáp-ứng lại những lời khuyến-khích và cần được người ta cho biết là nó làm việc tốt. Thông-thường trẻ em SJ lớn lên và phát-triển thoải-mái. Thống-kê cho biết ít ra cha hoặc mẹ cũng là SJ, và đứa trẻ dễ thích-ứng với cha mẹ NF hoặc NT. Trong trường-hợp cả hai cha mẹ là SP với tính tình khó lường trước được, có thể nó sẽ gặp một ít khó khăn. Đứa trẻ SJ hình như cần và thích làm vui lòng người khác, và nó có khuynh-hướng đáp-ứng đúng mức những đòi hỏi của những người dạy dỗ nếu như họ tỏ ra chính-xác rõ ràng. Những đòi hỏi đó không cần phải hoàn toàn có lý hoặc nhất-mực, nhưng chỉ cần phải rõ ràng về những gì người khác muốn. Đứa trẻ SJ đáp-ứng rất đúng những lời khen ngợi như ‘con ngoan lắm! tốt lắm! con làm đúng y như Ba Má/thầy cô muốn. con làm khéo quá! chữ con viết đẹp ghê!’

    Khuynh-hướng tự-nhiên của giáo-chức SJ khi giảng dạy dĩ nhiên đáp-ứng nhu-cầu của học-sinh SJ. Cả giáo-chức lẫn học-sinh SJ đều thích những cách như chủ-tâm tới trách-nhiệm, làm sao để có thói quen học tốt, phát-triển các thái-dộ xã-giao, chu-toàn những nhiệm-vụ có tổ-chức đàng-hoàng theo cách-thức đã được công-nhận. Học-sinh SJ thu-thập được kiến-thức qua việc cần-mẫn tìm kiếm các sự kiện, xem đi xem lại các bài vở, các bài đọc thêm, các tài-liệu giảng dạy phương-pháp cổ-truyền, qua các sách giáo-khoa và sách làm bài tập. Các tài-liệu giảng dạy được soạn sẵn chứng-tỏ rất hữu-ích cho giáo-chức, và hình như họ thích-thú và đáp-ứng mau lẹ các cách trình-bày từng bước một theo thứ-tự tiệm-tiến. Những tài-liệu học hỏi được sắp đặt thành hệ-thống hình như có sức lôi cuốn học-sinh SJ hơn học-sinh SP, NF và NT. Học-sinh SP muốn có hoạt-dộng nhiều hơn, học-sinh NF muốn trong lớp có liên-hệ đối-đáp với nhau hơn, và học-sinh NT không thích bài lặp đi lặp lại. Học-sinh SJ phát-triển thoải-mái trong một lớp học có tôn-ti trật-tự ngăn nắp đâu vào đó theo thói quen lề lối hằng ngày ít thay đổi. Học-sinh SJ phát-triển trong lớp học được tổ-chức đàng-hoàng, yên lặng, gọn gàng, và không cảm thấy khó chịu khi suốt giờ học chỉ là đối-thoại giữa thầy cô và trò. Học-sinh SJ thích những thực-tập, học thuộc lòng như con vẹt, lối hỏi thưa vấn-đáp, và những bài thuyết-trình có nhiều dẫn chứng cụ-thể thực-tế. Cũng có khi nó đáp-ứng lại những lời từ-chối, lời châm-biếm, lời trêu chọc miễn là những lời tiêu-cực này không phải là do người lớn khuyên nên nói. Đứa trẻ SJ dễ lo lắng về bài vở, và nó có lương-tâm đàng-hoàng chỉ muốn sao để làm vừa lòng giáo-chức thôi.

    3.- trẻ em nghiêm-túc (năng tiến) NT
    Đứa trẻ NT có lẽ coi bộ nghiêm-trang và rất dễ gây thắc-mắc cho những người sống chung quanh, nếu như họ không phải là NT. Nó coi bộ khôn lớn sớm, nói sớm, và biết đọc trước khi đi học nhà trường. Khó có trường-hợp cha mẹ NT mà lại có con NT, vì chỉ có 12% người thuộc loại NT. Đứa trẻ NT cũng cảm thấy bị bỏ rơi như đứa trẻ SP, nhưng đứa trẻ SP cảm thấy như vậy khi bắt đầu đi học và từ lớp này lên lớp khác. Đứa trẻ NT cảm thấy bị bỏ rơi sớm hơn. Hầu như đứa trẻ NT nào cũng cảm thấy một kinh-nghiệm giống nhau về thời-kỳ nhỏ bé với những lời phát-biểu tương-tự như sau: ‘Tôi cứ tưởng rằng trên thế-gian này không có ai giống tôi gì cả. Khi lớn lên tôi thấy không ai có quan-niệm giống tôi. Khi vào đại-học, bỗng dưng có nhiều người giống tôi. Tôi không còn đơn-đôïc nữa.’

    Đứa trẻ NT thường có khuynh-hướng hỏi cha mẹ những câu hỏi ‘tại sao?’ như tại sao mặt trời lại mọc ở phía đông mà không mọc ở phía tây? tại sao tôi lại không có thể bay bổng được như chim? tại sao tôi không được ăn bánh trái trước khi ăn cơm, vì trước sau gì tôi cũng ăn tất cả vào bụng mà? Thông-thường đứa trẻ NT thích tự-lập, nên dễ có tính cách bất-khuất, cho dù nó có khuynh-hướng tỏ ra vâng lời và tuân-phục trong các vấn-đề nó không quan-tâm đến.

    Cũng như đứa trẻ SP theo đuổi ham muốn hoạt-động, đứa trẻ NT cũng say mê tính tò mò hiếu-kỳ với câu hỏi như ‘giả-dụ như… thì sao đây?’ Và nó tìm cách để trả lời câu hỏi đó, cho dù người phụ-trách nó đồng-ý hay không cũng vậy thôi. Giả-dụ như tôi thò tay vào lỗ cắm điện thì sẽ ra sao đây? Giả-dụ như tôi thả bánh vào bình nước thì sẽ ra sao đây?’ Dĩ nhiên những câu hỏi đó không làm cho người lớn phải điên cái đầu để tìm ra một lời giải-đáp thỏa-đáng , nhưng mục-đích chính là để đứa trẻ NT thỏa-mãn tính hiếu-kỳ muốn khám-phá xem có gì không. Ít khi nó tạo nên mâu-thuẫn với những người chung quanh nó, cho dù nếu vì tò mò tìm hiểu mà xẩy ra có mâu-thuẫn, nó có khuynh-hướng chấp-nhận hậu-quả một cách vô-tư. Nó thường tạo nên khó chịu cho những người hướng-dẫn nó, bởi lẽ nó có khuynh-hướng tảng lờ bỏ qua, không để ý đến những lời quở mắng. Đứa trẻ NT dễ mất lòng kính-trọng đối với những người quở mắng nó mà không có lý-sự đàng-hoàng, hoặc ra những lệnh-truyền mà không có lý-do chính-đáng.

    Đối với đứa trẻ NT, hình-phạt thể-xác là một vi-phạm trầm-trọng. Cho dù thể xác của nó cũng như thế-giới của nó là nguồn gốc tính hiếu-kỳ, nhưng con người của nó không giống như thể xác trong các mẫu tính tình khác. Nó phản-ứng lại các hành-hạ thể xác một cách có thể nói là nhấn mạnh quá đáng, coi các hình-phạt này là xâm-phạm bản-tính nhân-vị của nó. Tư-cách con người là một giá-trị quan-trọng đối với trẻø em NT, và nó thường được mô-tả là có tư-cách, hiên-ngang của trẻ em NT là thách-thức trêu chọc, làm cho xẩy ra vấn-đề có sự căng thẳng, thách-đố giữa trẻ em NT và những người chung quanh rồi dĩ nhiên họ sẽ bắt trẻ em NT phải xuống nước.

    Cha mẹ của trẻ em NT phải có thái-độ thả lỏng để cho nhiều tự-do. Đứa trẻ NT cần phải có thật nhiều cơ-hội để thí-nghiệm, tìm kiếm, đạt được câu trả lời. Nếu không cho trẻ em NT có môi-trường thử-nghiệm thực-tập, dĩ nhiên sẽ tạo cho nó có cơ-hội không vâng-lời và phá phách công-khai hoặc thầm lén. Cha mẹ của trẻ em NT nên cho nó có nhiều đồ chơi khác nhau, nhưng chỉ nên đưa cho nó mỗi lần một vài đồ chơi, thay vì đưa cùng lúc tất cả một loạt các đồ chơi. Đứa trẻ NT cũng như nhiều đứa trẻ khác dễ bị kích-động thái-quá. Riêng trẻ em NT khôn sớm hơn, nên cha mẹ dễ có khuynh-hướng cho các đồ chơi hợp với tuổi của các mẫu tính tình khác, nhưng lại không thích hợp với tuổi và mức-độ của tuổi NT. Thông thường trẻ em NT thích đọc sách và nghe kể chuyện đâu đâu gì khác. Nó có khuynh-hướng hám một đồ chơi mới, chơi đồ chơi đó một vài giờ, tìm hiểu ngắm nghía các đặc-biệt của đồ chơi đó, rồi bỏ đi chẳng thèm nhòm ngó gì tới nữa. Một khi trẻ em NT hiểu được đồ chơi đó rồi, nó không còn hứng-thú gì nữa, Nó thích được người lớn đọc sách cho nghe, có lẽ là vì tính hiếu-kỳ, và qua các câu chuyệïn nó nghe người lớn đọc, nó có thể khám-phá thêm các chi-tiết phức-tạp mà tự nó đọc, nó không tìm hiểu ra nổi, và nhờ đó nó cảm thấy thích-thú. Nó có thể tỏ ra nôn nóng không kiên-nhẫn đủ với nội-dung của các sách vỡ lòng và có thể vì thế mà không thích-thú chịu khó tập đọc gì cả làm cho giáo-chức phải ngạc-nhiên. Tuy nhiên đó chỉ là trường-hợp ngoại-lệ đặc-biệt của đứa trẻ NT.

    Những trêu chọc châm-biếm trào-phúng ngụ-ý về khả-năng của đứa trẻ NT sẽ có một ảnh-hưởng tai-hại kinh-khủng đối với nó. Nó có khuynh-hướng tự hoài-nghi chính mình hơn các mẫu tính tình khác, và dĩ nhiên nó rất cần nhiều cơ-hội để thành-công. Nó rất dễ bị thương-tổn về vấn-đề này. Vì ngay từ đầu nó thích máy móc kỹ-thuật, nếu cha mẹ và giáo-chức tận-tâm cứ đòi hỏi nó phải cố-gắng làm hơn khả-năng của nó, để rồi một khi thất-bại, nó sẽ rút lui vào bóng tối một mình. Ít khi đứa trẻ NT có thể đối-đáp khả-đáng được với những lời phê-bình chỉ-trích. Muốn cho đứa trẻ NT lớn lên với nhu-cầu nó muốn trở nên thành-thạo và khát-vọng nó được hiểu nhiều biết rộng, phải giúp đỡ nó khi cần, trả lời đủ mọi thứ câu hỏi nó đặt ra dường như vô-tận, cung-ứng cho nó các đồ chơi thích-hợp đủ số, cho nó có chỗ để cho nó tự tìm câu trả lời trong thế-giới nhỏ bé của nó.

    Trong vấn-đề giao-tế xã-hội, đứa trẻ NT có vẻ như chậm chạp, cho dù về trí khôn nó lại triển-nở rất sớm. Đứa trẻ NF phát-triển các liên-hệ tình-nghĩa xã-giao một cách rất hồn-nhiên, trong khi đó đứa trẻ NT cho đây là một mầu-nhiệm khó hiểu. Ít khi nó nghĩ đến các cử-chỉ lịch-thiệp giao-tế, và nó hay quên đi cách liên-hệ với người khác. Vì thế thường thường đứa trẻ NT không phát-triển được khả-năng đắc-nhân-tâm như thường thấy ở đứa trẻ NF, SJ và SP, cho dù mỗi tính tình một khác. SP vui vẻ cười cười nói nói, SJ cử-chỉ suy-tư phục-vụ nhiều khi có tính cách bất-ngờ, NF với tính cách vừa người lớn vừa trẻ con. Đứa trẻ NT hướng-nội không có một nét nào giống như mấy mẫu tính tình vừa tả. Đứa trẻ INT có nhiều khi không thể hoặc chỉ miễn-cưỡng biểu-lộ tình-cảm, rút lui vào bóng tối qua cách biểu-lộ bề ngoài của người khác, và thường có một lớp hàng rào ngăn chặn – đó là hàng rào tự hoài-nghi chính mình.

    Muốn giúp đứa trẻ NT, phải làm sao cho nó có niều cơ-hội thành-công, tạo nên nhiều khuyến-khích trí óc, dùng nhiều lời khuyến-khích và cổ-võ các khả-năng giao-tế xã-hội. Nếu chỉ phô-trương đứa trẻ NT thôi, hoặc để cho nó trở thành nhà trí-thức ‘rởm’ (dổm), cho phép nó khinh-khi người khác, vì có lẽ họ không thông-minh bằng, cho họ là kém thua, thì thực ra không giúp ích gì cho nó cả. Thường thường trẻ em NT học giỏi ở trường, và nó không tìm cách bỏ các môn học khó như khoa-học và toán. Càng học, học-sinh NT càng thích dấn mình vào các bộ-môn đó, và hậu-quả là không thích tham-dự vào các hoạt-động giải-trí, xã-hội trong trường. Cách riêng là đứa trẻ INT có thể cảm thấy đơn độc trong lớp, khá tự-lập, và có khuynh-hướng thích theo đường lối riêng tư của mình để theo đuổi các sở-thích của mình. Đứa trẻ ENT có thể trở nên một người lãnh-đạo xuất-sắc, đôi khi ngược lại với đường-hướng do giáo-chức đề-xướng, và như vậy là có vấn-đề tranh-chấp ảnh-hưởng. Đứa trẻ ENT dễ ngoan-cố liều-lĩnh để làm sao mọi thủ-tục cách-thức phải đứng đắn, còn đứa trẻ INT lại ngoan-cố liều-lĩnh để làm sao mọi ngôn-từ tư-tưởng phải thật chính-xác.

    Đứa trẻ NT vì đói khát thèm muốn khả-năng, sẽ mau có những tiêu-chuẩn nội-tại để cải-thiện. Nó phải theo đúng các tiêu-chuẩn đó, cho dù có quá cỡ đi chăng nữa. Một trong những nhiệm-vụ trong đời nó là phải chấp-nhận một thực-tế là nó không thể biết hết mọi sự được, nên nó phải đặt ra hệ-thống thứ-tự các ưu-tiên. Phụ-huynh cũng như giáo-chức có thể giúp trẻ em NT sắp đặt thứ-tự các ưu-tiên này.

    Trẻ em NT thường có khuynh-hướng thành-công vẻ vang trong vấn-đề học-hành, và thường tìm cách học hỏi theo các nguyên-tắc tìm kiếm hiểu biết. Trẻ em NT thích lối trình-bày khúc-triết lý-luận. Nó thường thích đường lối giảng bài nếu giáo-chức giảng bài hay, và thường không thích những phương-pháp thảo-luận bàn-cãi. Thực-tế cho biết đôi khi nó tỏ ra bất-nhẫn và cộc cằn khi phải chê bỏ những tư-tưởng và ý-kiến của người khác, nhất là của những người mà nó coi là không thông-minh bằng nó.

    Bởi vì đứa trẻ NT thích quan-trọng-hóa vấn-đề, muốn rằng người khác phải nhìn nhận nó là thông-thạo, nên nó dễ bị các điểm xấu của thành-tích-biểu (sổ điểm) tạo nên ảnh-hưởng tiêu-cực. Một khi nó có được điểm cao, lúc đó nó có thể tin rằng cũng có lúc nó không thành-thạo khi bị điểm xấu. Theo đuổi loại phần thưởng như vậy dĩ nhiên là vô-lý và không khôn-ngoan, bởi vì đứa trẻ NT sẽ không bao giờ tìm ra được thời-giờ để sinh-hoạt gì cả ngoài việc học-hành.

    Xét về trí khôn, đứa trẻ NT có thể giống như con cá lớn trong một cái ao nhỏ là trường học. Khi nó lên đại-học, nó sẽ nhận thấy việc tranh-đua có phần khác hơn. Tới điểm này, đứa trẻ NT có thể phản-ứng lại bằng cách bỏ hết các cố-gắng trong sách vở, hoặc chỉ chú-ý một cách sai lầm tới việc học, để rồi có thể giỏi về một bộ môn trong khi lại dở về các bộ môn khác. Phụ-huynh và giáo-chức hãy tạo nên nhiều cơ-hội đầy đủ và kinh-nghiệm khác nhau cho đứa trẻ, cho dù không phải tất cả là sở-trường của nó, điều đó cũng khó có thể xẩy ra, vì đứa trẻ NT có điều-kiện để thay đổi từ việc đua tranh đáng sợ trở nên một viễn-tượng có thể chấp-nhận được.

    Đứa trẻ INT thường không cảm thấy thích-thú mấy các lễ-nghi cung-cách trong gia-đình, bởi vì nó đòi hỏi làm việc gì cũng phải có lý-do đàng-hoàng, và có lẽ nó cần phải có người giải-thích cho nó biết lý-do tại sao những nghi-lễ và cung-cách đó lại rất quan-trọng trong sinh-hoạt gia-đình và của người khác. Đứa trẻ NT có thể rất kỳ-cục lầm-lẫn về cách thức gìn giữ phòng bè quần áo. Có lúc nó rất thứ-tự gọn gàng, rồi có lúc nó lại để bụi bặm hoặc lộn xộn mà không để ý gì cả. Thường thường phòng bè của nó coi bộ lộn xộn, nhưng đứa trẻ NT chắc chắn sẽ biết đồ vật nào để ở đâu. Nó có khuynh-hướng nhặt nhạnh thu-tích đủ mọi thứ: đất đá, hình loài vật, tiền nong, tem thư, bươm bướm v.v…Nó muốn thu-tích và sắp loại những cái gì cần sắp đặt phân-loại.

    Đứa trẻ NT muốn được người ta cho biết chỉ-thị hoặc nội-dung chỉ một lần thôi, và tỏ ra bất-nhẫn khi có ai lặp đi lặp lại, khác với đứa trẻ SJ có khuynh-hướng muốn có những chỉ-thị rõ ràng và thường không khiếu-nại gì khi người ta lặp đi lặp lại nội-dung. Đứa trẻ SP không thích chú-ý quá nhiều đến các chỉ-thị cho dù rõ ràng hay không: ít nhất nó cũng kiểm-điểm lại công-tác nhiệm-vụ trước khi thi-hành. Đứa trẻ NF có khuynh-hướng bỏ qua các chi-tiết của lời chỉ-thị, nên cần phải có chỉ-thị bằng miệng và bằng giấy viết.

    Học-sinh NT cần phải nhận được ý-kiến nhận xét về phẩm-chất của công việc nó làm, và nó thường định-giá phẩm-chất của một công việc qua hai khía-cạnh có lý và có hiệu-quả. Nó có thể được hướng-dẫn để tự học riêng được và có thể được tín-nhiệm để theo đuổi việc học đó mà không cần lời khuyến-khích hoặc chỉ-dẫn bao nhiêu của phụ-huynh hoặc giáo-chức. Nó rất thích phát-triển kho-tàng ngữ-vựng của nó, và có khi dùng những ngôn-từ phong-phú này để tranh-luận nới người khác. Đứa trẻ NT có điểm đặc-biệt này là nó hay tỏ ra không chấp-nhận được khi thấy người khác có vấn-đề khó-khăn phức-tạp. Phụ-huynh và giáo-chức có thể giúp cho đứa trẻ NT hiểu biết ảnh-hưởng của thái-độ đó.

    4.- trẻ em nhân-fẩm NF
    Ngay từ thuở nhỏ đứa trẻ NF đã tỏ ra có khiếu về sinh-ngữ. Nó có khuynh-hướng nói sớm, và đứa trẻ ENF hình như nói luôn miệng không bao giờ yên lặng được. Đứa trẻ NF có một nét duyên-dáng dễ thương làm cho ai cũng thích ở gần nó. Nó có khuynh-hướng thiên-khiếu xã-giao giỏi, đối với bạn bè cũng như đối với người lớn, cho dù đứa trẻ INF hơi khó truyền-cảm thông-đạt hơn, nhất là khi ra khỏi nhà. Đứa trẻ NF cần và muốn tìm mọi cách để được người ta chú-ý, nhìn nhận, để được những người chung quanh quý mến, và cần được như vậy mỗi ngày.

    Đứa trẻ NF có thể bịa chuyêïn và kể chuyện với hình ảnh thật sống động. Có khi nó bị buộc tội nói dối, trong khi thực ra nó chỉ sử-dụng trí tưởng-tượng mà thôi. Đứa trẻ NF nhất là INF rất dễ mơ mộng tưởng-tượng rất nhiều. Nó rất dễ nhậy cảm khi bị từ-chối hoặc bị có mâu-thuẫn. Nếu đứa trẻ NF lớn lên trong gia-đình cha mẹ hay cãi nhau, nó rất dễ bị co quặp, nhút nhát và thiếu bình-an. Nó cần phải được những người chung quanh sơáng an-hòa để nó có thể phát-triển con người kiên-trì của nó.

    Đứa trẻ NF muốn tìm hiểu bản-lĩnh tư-cách con người của mình, nên nó thường thích-thú được ví mình y như các nhân-vật trong truyện nhất là truyện thần-thoại cổ-tích. Đứa trẻ NF có khuynh-hướng coi các nhân-vật công-chúa hoàng-tử y như người thật, và các mơ mộng hão-huyền đưa nó vào các cuộc chinh-phục công-phạt y như vua chúa. Các câu chuyện ‘chưởng’, võ-thuật luôn làm mê-hoặc tâm-trí của trẻ em NF. Do đó cần phải để ý cẩn-thận xem trẻ em NF thích đọc các loại sách báo gì, vì nó dễ bị mê-hoặc bởi các chuyệïn thần-thoại ma-quái, kinh-dị, phù-thủy, giết chóc v.v…

    Trẻ em NF cũng như các trẻ em khác đều thích được người lớn như cha mẹ, giáo-chức đọc cho nghe các chuyện vượt qua mức-độ tập đọc của nó, vì các chuyện đó kích-thích trí tưởng-tượng . Cũng giống như trẻ em NT, trẻ em NF thích được nghe đọc các chuyện đó nhiều lần. Nó cũng thích các tranh vẽ phức-tạp nhiều chi-tiết và các tranh hoạt-hoạ nhiều mầu. Trẻ em NF có khuynh-hướng thích-thú các đồ chơi về người, các búp-bê, các con vật, vì nó có thể đồng-hóa mình với các đồ chơi đó. Trẻ em NF coi việc mất các đồ chơi là một thảm-họa đáng kể và đáng tiếc. Các mẫu tính tình khác không hiểu được tại sao trẻ em NF lại có thể coi các đồ chơi y như người thật. Cũng như các trẻ em khác, trẻ em NF có khả-năng dùng các đồ chơi như các đồ vật tưởng-tượng, nhưng thay vì tìm hiểu các câu chuyện đó, nó lại thêu dệt thêm chi-tiết cho câu chuyện đó. Không hiểu tại sao từ thuở nhỏ, trẻ em NF lại có khuynh-hướng kiếm một người bạn đường không chân-dung: có phải đây là đặc-tính của NF hay là của bất cứ mẫu tính tình nào? Dĩ nhiên, nếu trẻ em NF bị người lớn chỉ-trích bài-bác việc kiếm tìm người bạn đường không chân-dung, nó sẽ bị ảnh-hưởng tai-hại sau này.

    Trẻ em NF không thích thi-đua cạnh-tranh như các mẫu tính tình khác. Trẻ em NF có khuynh-hướng rất nhậy cảm đối với tâm-tình ý-nghĩ của người khác. Nó cũng sẽ đau khổ với người thua kẻ bại, và cho dù nó là kẻ chiến-thắng, nó cũng thấy tội-nghiệp cho người thua. Trẻ em NF thích những trò chơi hoặc thi đua cho chính mình nó hơn.

    Mặc dầu tất cả các trẻ em đều có khuynh-hướng ghen tị giữa anh chị em với nhau, và dễ cảm thấy bị bỏ rơi khi có thêm một phần-tử (em bé) mới trong gia-đình, nhưng cha mẹ phải cẩn-thận nhiều hơn đối với trẻ em NF trong giai-đoạn chuyển-tiếp đó, bởi lẽ nó luôn luôn tìm cách để nhận-diện chính mình, để tìm ra giá-trị con người của mình, để hiểu ý-nghĩa cuộc đời và chỗ đứng của nó trong thế-giới. Trẻ em NF có khuynh-hướng có cùng một cảm-nghiệm như trẻ em NT khi đi học: nó thấy mình khác với các mẫu tính tình khác, khó mà hòa-đồng. Nó cảm thấy mình hơi khác người làm sao đó, và hầu như lúc nào cũng thấy mình về phe thiểu-số cho đến khi lên đại-học.

    Trẻ em INF thường nhút nhát mắc-cỡ và rất nhậy cảm đối với một cử-chỉ không vồn vã, một lời nói không chấp-nhận của giáo-chức. Nó có khuynh-hướng thần-tượng-hóa giáo-chức. Nếu bị chối-từ hoặc khinh-khi, nó có thể giận ghét giáo-chức một cách kinh-khủng. Trẻ em NF phát-triển thăng-tiến nếu được chú-ý tiêng biệt, và không thay đổi gì nếu bị đánh đập. Nó cần có những thói quen đàng-hoàng cẩn-thận đặt trên nền-tảng liên-hệ giao-tiếp giữa người lớn và trẻ em. Ảnh-hưởng bạn bè đối với trẻ em NF không đáng kể, cho dù nó có thể đau khổ vì nhận thấy người khác làm hại bạn bè nó. Trẻ em NF, nhất là loại hướng-nội thiếu khả-năng để tự bảo-vệ chống lại các hành-động xẩy đến mà các mẫu tính tình khác có thể đối-phó dễ dàng.

    Trong lớp học, trẻ em NF có khuynh-hướng hấp-thụ được nhiều nhất, khi học-sinh được sắp đặt để liên-hệ tiếp-xúc với nhau, hơn là mỗi đứa ngồi yên một chỗ quay lên trên. Trẻ em NF cần và thích được thảo-luận về nội-dung bài học. Nó thích học và tỏ ra nhậy cảm đối với các bài vở thuộc về lãnh-vực tình-cảm, dễ thích-hợp với ngôn-từ thi-phú, và như đã nói trước, nó có khiếu ăn nói. Khi bàn cãi thảo-luận, nó không nổi nóng bất-nhẫn, cho dù nó thấy bàn cãi thảo-luận chỉ là lặp đi lặp lại những lời nói dông dài không cần-thiết.

    Đứa trẻ NF dễ bị chán-nản nếu nó gặp phải giáo-chức trêu chọc nó hoặc có vẻ như coi thường bỏ bê nó. Thực ra đứa trẻ NF tỏ ra bực mình khó chịu nếu bạn bè cùng lớp tẩy chay, và nó dễ tỏ ra thông-cảm với những đau khổ và lúng túng của người khác, có khi còn hơn chính người bị đau khổ hoặc lúng túng nữa. Lời hứa đối với đứa trẻ NF rất là quan-trọng. Nếu lời hứa đó không được tôn-trọng, đứa trẻ NF cảm thấy bị bỏ rơi trầm-trọng và coi cá-nhân mình như bị coi thường. Nếu tình-trạng này xẩy ra thường-xuyên, đứa trẻ NF có thể có những triệu-chứng thể-lý như trong vấn-đề ăn uống tiêu-hóa. Những mâu-thuẫn gây gỗ ở gia-đình hay nhà trường cũng tạo nên những bực tức khó chịu. Nó phát-triển thăng-tiến trong môi-trường thuận-tiện yêu thương.

    Trẻ em NF thường học giỏi về ngôn-ngữ và có tài ăn nói. Nó có sở-trường của nó, và nó thường tập đọc sách vở rất dễ dàng, cũng như viết và nó lưu-loát, và rất thích các phương-tiện truyền-thông. Nó thích làm việc trong các nhóm nhỏ, và phát-triển thăng-tiến trong các lớp học có kiểu-cách dân-chủ. Nó có khuynh-hướng ép mình vào khuôn phép và ước-vọng của người lớn, nếu như nó tin rằng người lớn thích nó. Đứa trẻ NF thường tỏ ra dễ tính dễ chơi, và nó muốn làm vui lòng người khác. Nó cần phải được người khác cho biết người ta quý mến nó. Khi có một sáng-kiến gì, nó đem hết tất cả tâm-hồn ra để thực-hiện sáng-kiến đó: trong trường-hợp này chỉ cần một chút chê bai là đã đủ làm cho nó cảm thấy bị bỏ rơi. Trẻ em NF không cảm thấy thoải-mái trong đám đông với những lời giảng-dạy tổng-quát chung chung không lưu-ý tới từng người, hoặc trong trường-hợp giáo-chức quá tỉ mỉ để ý cách riêng tới mẫu tính tình này. Trẻ em NF cần được giáo-chức cũng như cha mẹ thương yêu quý mến.

    Học-sinh NF thường thích học các bộ-môn về xã-hội cũng như sinh-ngữ, vì cả hai bộ-môn đều có liên-quan tới con người trong việc giao-tiếp. Đứa trẻ NF nhìn thế-giới với con mắt cá-nhân riêng biệt, nên nó cảm thấy hấp-dẫn thích-thú khi học hỏi về thái-độ và giá-trị con người, xem họ thích gì, phản-ứng ra sao, muốn gì, nói gì và làm gì. Nó thích thế-giới các tư-tưởng và giá-trị, nhưng luôn luôn có khuynh-hướng nhận-định mọi sự qua con người của nó coi đó như là trung-tâm-điểm.

    Trẻ em NF khó biết xử-trí với cơn nóng giận của mình cũng như của người khác, nhất là trẻ em NF hướng-nội. Nó ghê tởm cơn nóng giận vì nhận thấy đó là tật xấu, và nó bỏ đi vì khinh-khi.

    Trẻ em NF nhận-thức qua các hình-ảnh và ấn-tượng. Nó có khuynh-hướng bằng lòng với lối học tổng-quát chung chung. Nếu nó thu-nhận được một kiến-thức tổng-quát về vấn-đề mà bỏ qua đi các chi-tiết lặt vặt, nó vẫn tin rằng nó đã nắm vững đủ vấn-đề. Ngược lại, đứa trẻ NT lại muốn hiểu biết từng chi-tiết của một vấn-đề thật chính-xác và hầu như có tật ham học quá đáng. Đứa trẻ NF muốn và khát khao được biết mình là ai, và một trong các cách nó biết được như vậy là khi được người khác để ý riêng tư. Đứa trẻ NF thường dễ cảm thấy được yêu thương quý mến thân-tình qua các gần gũi thể-lý như sờ mó, đụng chạm, vuốt ve. Điều làm nó thích nhất là được người khác nói với nó: ‘Em (bạn) rất tốt (quan-trọng) đối với tôi. Tôi cảm-phục em (bạn)’.

  10. CHƯƠNG 4

    tính tình
    nơi trẻ em

    III. ĐƯỜNG LỐI HỌC HỎI
    Sau đây là 4 đường lối học hỏi tùy theo như những khác biệt của 4 mẫu tính tình: kỹ-thuật giáo-huấn, nội-dung chương-trình, và cách mỗi loại đáp-ứng lại giáo-chức.

    1.- trẻ em chịu chơi (sống phê) SP
    Đứa trẻ khao khát mong mỏi có hoạt-dộng và thường biểu-lộ hành-dộng dễ dàng. Học-sinh SP thường được mô-tả là thích biểu-diễn, thích chơi, ưa mạo-hiểm, hoạt-động, vui tính, tự-nhiên, không bị gò bó. Đứa trẻ SP thích cuộc sống vui hiện-tại, tức khắc, tại chỗ, bộc-trực, vui đùa thích-thú.

    Trong đám học-sinh ở trường, đường lối SP dễ bị hiểu lầm và bị chê bai hơn cả, thế mà SP lại chiếm tới 38% tổng-số học-sinh trong lớp. Mẫu SP khó học lên cao và có khuynh-hướng không phản-ảnh trung-thực khả-năng học-vấn với điểm kết-quả thu-lượm được. Rất tiếc phải nói một cách chung rằng lớp học trong trường không phù-hợp với đường lối học của đứa trẻ SP.

    Đứa trẻ SP cần học hỏi bằng tiếp-xúc thể-lý. Nó thích học bằng sờ mó đụng chạm. Nó cần có các hoạt-động. Nó thích tranh đua thi tài. Nó ưa mạo-hiểm. Nó lấy làm thích-thú được biểu-diễn. Nó học rất nhiều qua các phương-tiện truyền-thông. Nó mê làm trò mua vui và được mua vui.

    Nếu như có một cuộc thi đua nào, đứa trẻ SP sẽ là một bạn đồng-đội rất tốt. Nó có bộ-điệu thân-tình dễ thương, và sẽ tỏ ra rất trung-tín với bạn bè đồng-đội, và nó không có bộ-điệu oai-phong trịch-thượng. Nó có thể tỏ ra rất bình-đẳng bình-dân. Do đó nó không thích ai làm bố người ta, và nó có khuynh-hướng phản-đối các cách người trên dòm ngó giám-sát. Nó coi những lời chỉ-dẫn như cơ-hội thách-đố nó phải vượt qua. Nó vui thích đối-thoại với người khác để tường-trình về các tiến-bộ, nhưng lại không thích dùng nhóm họp dân-chủ để đi tới một quyết-định như trẻ NF. Lúc nào nó cũng muốn thay đổi bầu-khí, đường lối, kiểu cách. Bắt học-sinh SP phải theo một thói quen ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, cũng đồng-nghĩa với việc khuyến-khích nó bỏ học hoặc tỏ ra lộn xộn trong lớp.

    Đứa trẻ SP say mê âm-nhạc, kịch-nghệ, nghệ-thuật, thủ-công-nghệ, máy móc, xây cất, hoặc bất cứ cái gì có vẻ hoạt-động, trong khi đứa trẻ SJ thích học về doanh-thương và văn-phòng, đứa trẻ NT thích toán và khoa-học, còn trẻ NF thích các khoa-học nhân-văn và xã-hội. Đứa trẻ SP mê man với các hoạt-động, và khát-vọng của nó được thoả-mãn khi có dịp chơi với các đồ-vật. Do đó, nó cảm thấy hấp-dẫn quyến rũ khi được cầm trong tay các vật liệu. Nếu nó không có các hoạt-động hoặc các đồ-vật đó một cách chính-thức, nó sẽ tìm lối thoát bằng cách phá ngang như đấm đá bàn ghế, trêu chọc bạn bè, khua múa chân tay.

    Đứa trẻ SP không cảm thấy đường lối giáo-huấn cổ-truyền là thích-thú bao nhiêu, nên khi nào có dịp là nó bỏ học để đi tìm nơi nào có nhiều hoạt-động. Đứa trẻ SP thường đem lại vui nhộn phấn-khởi cho lớp học, cho dù đôi khi giáo-chức cũng phải khó chịu. Tuy nhiên, nếu nó biết người ta thích nó thành-thạo, nó lại tỏ ra hợp-tác dễ chịu.

    Các học-sinh khác hâm-mộ đứa trẻ SP vì nó chịu chơi và thích làm giặc trong lớp. Nếu đứa trẻ SP thích âm-nhạc, nguyên chuyện đó cũng đủ làm cho nó học xong trung-học. Đứa trẻ SP hay nhẩy rào và có thói cứ bỏ lớp này qua lớp khác: ghi-danh cho nhiều mà học cho xong chẳng được bao nhiêu. Đứa trẻ SP chán các việc học bằng giấy bút đến chết được. Nó thích các bài học bằng lời nói hoặc tranh-ảnh, và khi đó mới tỏ ra thích-thú và chịu học hỏi. Nó không thích các lối giảng bài, thuyết-trình, vạên hỏi, bài thực-tập, coi bài giải-đáp ở cuối sách v.v…Cho đứa trẻ SP đem bài về nhà làm chỉ là mất công vô-ích mà lại tạo nên mâu-thuẫn nhiều hơn giữa giáo-chức, cha mẹ và học-sinh SP.

    2.- trẻ em chịu (siêng) làm SJ
    Đứa trẻ SJ chỉ khao khát làm sao được thuộc về một phe nhóm nào đó như gia-đình, nhà trường, lớp học. Học-sinh SJ có tinh-thần trách-nhiệm, đáng tin cậy, có tinh-thần phục-vụ.

    Hai phần ba (2/3) tổng-số giáo-chức là SJ nên học-sinh SJ dễ nhìn nhận lớp học cổ-truyền là nơi nó dễ liên-lạc và thông-cảm. Học-sinh SJ thường muốn làm đẹp lòng giáo-chức vì vai trò của họ là giáo-chức, có nhiệm-vụ như đứng đầu cầm quyền để người khác biết nơi mà liên-hệ. Những giá-trị giáo-chức giảng dạy được coi là giá-trị tốt: thói quen học tập tốt, làm bài ở nhà đúng giờ chỉ-định, học bài đúng cách. Đứa trẻ SJ thích-hợp với lớp học hơn tất cả các mẫu tính tình khác.

    Học-sinh SJ thường dùng các sách bài tập rất khá. Nó thích và cần có cơ-cấu tổ-chức, và tỏ ra xuất-sắc nếu các bài học được chia thành từng phần một có đầu có đuôi đàng-hoàng. Đứa trẻ SJ có lương-tâm đàng-hoàng nên sẽ cố-gắng chu-toàn nhiệm-vụ, nếu như nó được chỉ-bảo tường tận rõ ràng. Đứa trẻ SJ không thích ‘phăng’ (bịa đặt) ra tại chỗ kiểu như đứa trẻ SP và NF. Nó cảm thấy thoải-mái nhất, nếu như đã học bài và sửa soạn bài học ở nhà trước.

    Học-sinh SJ học tập tốt trong một lớp học đã được sắp xếp theo thứ-tự từng hàng từng dẫy, để rồi sinh-hoạt chính là chỗ giữa giáo-chức và học-sinh. Một phần nào đó, nó sẽ đáp lại nếu như việc nó làm chưa đúng chỉ-tiêu của giáo-chức. Học-sinh SJ không phát-triển trong các chương-trình tự-lập dài hạn như học-sinh NT. Học-sinh SJ không thích thảo-luận bàn cãi như học-sinh NF. Học-sinh SJ thích lối hỏi thưa do giáo-chức hướng-dẫn. Phương-pháp giáo-dục của Socrates Hy-lạp rất hấp-dẫn đối với trẻ em SJ và nó học tập rất tốt theo phương-pháp này.

    Cho dù đứa trẻ SJ không có tài khiếu ngôn-ngữ như đứa trẻ NF, thường thường nó trả lời đầy đủ các câu hỏi bài viết do giáo-chức chỉ-định, hoặc do bản văn đề ra. Học-sinh SJ không coi đó là uổng phí thời-giờ.

    Đứa trẻ SJ thường vâng lời và tuân theo kỷ-luật trong lớp do giáo-chức đặt ra. Đứa trẻ SJ có thể làm ngơ chịu đựng các lời châm-biếm trào-phúng hơn đứa trẻ NF hoặc NT nhiều, nhưng nó lại coi đó là quan-trọng, chứ không như đứa trẻ SP. Học-sinh SJ thích gia-nhập các hội-đoàn ở trường và tỏ ra thích-thú mấy việc hội họp. Bao lâu đề-tài học hỏi là về các sự-kiện và phương-pháp, học-sinh SJ sẽ luôn cảm thấy thoải-mái, nhưng nếu đòi hỏi nó phải suy-nghĩ, tìm tòi, sáng-kiến, đột-xuất, có thể nó sẽ hết chuyên-cần học hỏi.

    Học-sinh SJ coi học-bạ thành-tích-biểu khá quan-trọng. Học-sinh SP có thể quên không đem học-bạ thành-tích-biểu về nhà, học-sinh NT thích tò mò coi học-bạ thành-tích-biểu xem sao (bởi lẽ nó luôn tự phán-đoán thành-quả của nó), và học-sinh NF coi học-bạ thành-tích-biểu như là một nhận-định về nó, nhưng học-sinh SJ mới là mẫu người coi học-bạ thành-tích-biểu là quan-trọng hơn cả và đáng giá rất nhiều.

    Học-sinh SJ triển-nở khi có sự bền-vững. Nó có tinh-thần trách-nhiệm cao. Nó học hỏi tốt theo kỹ-thuật giáo-huấn cổ-truyền, kể cả lối chứng-minh. Thường thường nó thích đi học và cảm thấy thoải-mái nếu giáo-chức tỏ ra hợp-lý và kiên-trì.

    3.- trẻ em nghiêm-túc (năng tiến) NT.
    Trẻ em nghiêm-túc NT khát-khao được trở nên chuyên-viên thành-thạo. Nó phải biết hết những gì nên biết và danh-sách những điều nó nên biết thật là vô-tận. Trẻ em NT thích xây dựng, kiến-trúc, khám phá, và chỉ-huy. Nó tìm tất cả những gì giúp cho nó hiểu biết, giải-thích tiên-đoán và kiểm-soát. Nó là một khoa-học-gia nhỏ bé.

    Trẻ em NT có khuynh-hướng thu lượm các luật-lệ và nguyên-tắc cũng như thích đưa ra cơ-cấu thế-giới nhận-thức hiểu biết của nó. Nó thích-thú dò dẫm ý-tưởng của người khác và phát-triển ý-tưởng riêng của nó. Nó muốn tìm hiểu xem ý-tưởng đó đã được phôi-thai như thế nào và được sắp đặt lại như thế nào, có gì mâu-thuẫn không, có vấn-đề gì chưa được trả lời, tại sao lại có như vậy. Nó thường có đầy tính hiếu-kỳ muốn học hỏi và sẽ chủ-tâm về kỹ-thuật từ lúc còn nhỏ nếu là con trai, còn con gái NT thường hướng về những vấn-đề của nữ-giới.

    Trẻ em NT có khuynh-hướng tự học và thích theo đưổi những cảm-hứng riêng, theo đuổi đầy đủ các tin tức cho đến khi nó hiểu mọi chi-tiết. Điều đó có thể thỉnh thoảng làm cho nó chểnh mảng các môn học khác để rồi bị điểm xấu.

    Học-sinh NT cảm thấy thoải mái học về các vấn-đề có trình bày lý-luận khúc-chiết mạch lạc và thường có thể tự-động đọc sách tìm hiểu tiếp. Nó không có tài-khiếu viết văn như học-sinh NF và có thể quên hoặc trì-hoãn không ghi lại các khám phá của mình trên giấy tờ, bởi lẽ nó thích theo đuổi tiếp các ý-tưởng mới hơn là mất công cho giáo-chức biết những gì nó đã biết. Vì thế nó có thể quên không làm trọn bài ở nhà.

    Trong lớp học, đứa trẻ NT có thể bị cô-dơn, nhất là mẫu hướng-nội. Đứa trẻ NT hướng-nội có khuynh-hướng bị cô-đơn một phần vì nó không thấy ai giống nó ở trường, bởi lẽ trung-bình mỗi lớp chỉ có một INT trong số 20-25 học-sinh. Tuy nhiên đứa trẻ NT muốn chia sẻ những ý-tưởng của nó với những người nó kính-trọng hoặc coi là bạn đồng-tâm đồng-ý với nó. Nó thường tìm lối thông-đạt ý-tưởng như vậy với giáo-chức, nên chi nó lại càng bị cô-lập-hóa ra khỏi bạn bè. Trên mức-độ trí-thức cao, học-sinh NT có thể tỏ ra là một nhà trí-thức, một cây thông-thái xanh rờn, và nó cần phải biết quý trọng các sở-trường khác ngoài khả-năng trí-thức, chẳng hạn như khả-năng xã-giao. Đứa trẻ NT không phát-triển khả-năng xã-giao bao nhiêu và cần phải được tập-luyện thêm về vấn-đề này. Ít khi nó bị tình-cảm chi-phối nên nó khó hiểu tại sao có người lại dễ để lộ tình-cảm tâm-tư của họ ra. Vì nó không để ý đến tình-cảm tâm-tư của người khác, nên có thể dễ làm mất lòng người khác.

    Học-sinh NT cần được trợ giúp để thiết-lập thứ-tự ưu-tiên. Nó khao khát muốn biết hết mọi sự nên nó khó bằng lòng với thái-độ coi như phải bằng lòng vì thực ra không thể biết hết mọi sự được. Nó có thể lo dùi mài kinh-sử mà quên không có giờ phát-triển khả-năng giải-trí. Học-sinh NT coi chơi dỡn là phí-phạm thời-giờ vì nó chỉ muốn học mà thôi.

    Học-sinh NT có khuynh-hướng tự-lập dễ dàng nhưng nó cũng đáp-ứng lại những nhận xét về chiều-hướng khả-năng và thành-công của nó. Nó không thích các lời khen tặng giả-tạo. Nói chung nó có tính cách đứng đắn. Nếu bị thất-bại nhiều lần, tính tự-ái của nó có thể bị thương-tổn trầm-trọng. Bản-tính của NT là tự nghi ngờ chính mình, nên nó cần phải có nhiều thành-công liên-tục để phá tan các nghi-ngờ đó. Đứa trẻ NT phải cố-gắng vươn lên trên các thành-công thường-xuyên, nên nó có khuynh-hướng thúc đẩy mình làm việc hơn mức-độ bình-thường, hơn trình-độ mà nó đã thấu-đáo. Mỗi ngày nó có thể gắng vượt chỉ-tiêu nó đã đặt ra.

    Trẻ em NT có vẻ như xây dựng nên một bức tường thành tâm-lý chung quanh nó, nên nó coi bộ lạnh nhạt và không có cảm-tình. Hình-phạt thể-xác đối với trẻ em NT là không khôn-ngoan chút nào cả. Một đàng nó rất nhậy cảm đối với chuyện gì là công-bình phải lẽ, một đàng nó cảm thấy nhu-cầu phải kiểm-soát và chế-ngự. Nếu người lớn đánh đập nó, nó sẽ mất đi ý-thức về công-bình phải lẽ và làm cho nó không còn kiểm-soát được nữa. Nó rất có thể cảm thấy bực tức vì bất-công đó, ít là theo nhận xét của nó, trong một thời-gian thật lâu. Trẻ em NT đáp-ứng dễ dàng qua đối-thoại bằng lời nói, bằng luận-lý và suy-tư mạch-lạc. Một khi nó hiểu lý-do, nó sẽ chấp-nhận dễ dàng và thích-ứng theo khả-năng của nó.

    4.- trẻ em nhân fẩm NF
    Trẻ em với khuynh-hướng NF luôn luôn đói khát đi tìm hiểu ý-nghĩa về chính mình. Nó bắt đầu tìm hiểu từ khi còn nhỏ và suốt đời vẫn còn tìm hiểu. Nó muốn thực sự là ‘chính mình’ mà cũng lại muốn là ‘ai đó’ nữa. Trong nhóm này có nhóm thiên-phú, thiện-cảm, lý-tưởng, hứng-khởi, luôn luôn tìm cách phát-hiện con người thực của mình để được cảm thấy trọn vẹn, không phân-chia.

    Đứa trẻ NF hình như bẩm-sinh đã muốn giao-thiệp thông-cảm với người khác một cách riêng tư. Nó rất nhậy cảm khi có mâu-thuẫn và chống-đối thù-nghịch, đôi khi bị đau yếu chỉ vì phải đối-phó với các nghịch-cảnh đó. Trêu chọc nhạo cười trẻ em NF chỉ là một hành-động độc-ác và thiếu khôn-ngoan. Nó phát-triển thăng-tiến nếu được người khác công-nhận, lo-lắng, săn-sóc, chú-ý, đối-thoại, liên-hệ hai chiều, và nhất là nhìn nhận khía cạnh tình-cảm của nó.

    Một điểm quan-trọng đối với trẻ em NF là giáo-chức phải biết tên nó, phải hiểu rằng nó cần được người khác công-nhận, hiểu biết và tri-ân. Nó cần được giáo-chức cho biết ý-kiến riêng về bài vở nó làm, và lời phê trên bài vở của nó có thể là một phương-pháp khích-lệ hữu-hiệu, miễn sao đó là những lời tích-cực. Một phản-ứng tiêu-cực có thể làm cho trẻ em NF nổi loạn hoặc trở nên ù lì bất-động.

    Học-sinh NF thích phản-ứng liên-hệ tới người khác. Nó làm việc hiệu-quả nếu lớp học có bầu-khí dân-chủ và hăng hái tham-gia vào các cuộc bàn cãi thảo-luận theo từng nhóm. Thỉnh thoảng nó cũng một mình làm việc tự-lập được, nhưng nếu có đối-thoại đều đều, việc làm của nó sẽ tốt hơn. Học-sinh NF thích học qua các phương-pháp thảo-luận, đóng kịch, diễn tuồng và giả-tưởng. Trẻ em NF thường tỏ ra có năng-khiếu sớm về phương-tiện truyền-thông đại-chúng. Nó thích đọc sách nhất là loại khoa-học giả-tưởng, truyện thần-thoại ma-quái. Ngôn-từ của trẻ em NF sử-dụng thường vượt quá khả-năng tư-tưởng của nó trên giấy trắng mực đen. Thông thường những sáng-tác của trẻ em ghi lại bằng giấy tỏ ra nó giầu tưởng-tượng về sáng-tác và nội-dung thật nhiều.

    Trẻ em NF hướng-nội, (ít nhất mỗi lớp cũng có một em), thường nhút nhát đáng thương, và nó cần được người lớn khuyến-khích để giao-tiếp với bạn bè trong lớp. Vì tính nó rất nhậy cảm nếu bị chối-từ, nên nó dễ rút lui, ẩn-danh, không tham-gia, cô-đơn và xa cách nếu không được giúp đỡ để phát-triển liên-hệ tình-nghĩa bạn bè. Đa-số trẻ em NF thường có khuynh-hướng giầu trí óc tưởng-tượng nên có thể dễ bị kích-thích quá cỡ bởi các chuyện bạo-lực, ma-quái rùng rợn. Nó có khuynh-hướng giữ lại các hình ảnh đó trong đầu óc và dễ bị các cơn ác-mộng ám-ảnh.

    Trẻ em NF thích cộng-tác hơn là tranh đua. Nó rất dễ đồng-hóa với người khác, nên có thể nó đau niềm đau của người chiến-bại, cho dù đồng-thời chính nó trong khi đó lại là người chiến-thắng. Trẻ em NF tự tranh đua với chính mình, và các cơ-hội giúp nó thành-công và thăng-tiến cũng đủ làm cho nó phấn-khởi và hăng say, vì nó luôn cần có lời khuyến-khích sau những cố-gắng của nó.

    Trẻ em NF thích những đề-tài liên-hệ tới người ta hơn là những đề-tài trừu-tượng như khoa-học, doanh-thương. Nó có khuynh-hướng chọn ngành học nhân-văn hơn là khoa-học và kỹ-thuật. Trẻ em NF học hỏi qua cách đối-thoại trực-diện, thích thú tham-dự vào những quyết-định theo lề-lối dân-chủ trong lớp, muốn làm đẹp lòng người khác, dễ nhậy cảm đối với tình-cảm của mình cũng như tình-cảm của người khác, và luôn suy-tư theo chiều-hướng liên-hệ xã-giao với người. Tự bẩm-sinh nó muốn cải-thiện xã-hội, làm cho xã-hội an-vui phong-phú hơn. Nó muốn cải-thiện chính mình và cũng muốn xã-hội chung quanh nó phải cải-tiến nữa, ở nhà cũng như ở trong lớp.

    Trẻ em NF rất dễ đáp-ứng với các giáo-chức ôn-tồn vồn-vã, ân-cần cởi-mở, biết dùng lời nói để công-nhận các tâm-tình trẻ em, biết thích-ứng lời giảng-dạy cho cá-nhân học-sinh, biết dùng các nhóm hội-thảo nhỏ, biết đáp-ứng lại các ý-kiến đề-nghị của từng học-sinh, và nhất là biết tránh các lời dèm pha châm-biếm như một kỷ-luật kiểm-soát lớp học.

  11. CHƯƠNG 5

    tính tình
    nơi người lãnh đạo

    Lãnh-tụ chỉ có thể lãnh-đạo bao lâu còn có người dưới quyền, có người tin theo. Nếu ta muốn người tùy-thuộc làm một việc gì mà người ta không chịu làm, như vậy trên thực-tế ta không còn lãnh-đạo được người ta nữa. Cũng thế, nếu ta muốn nhiệm-vụ của ta là thực-hiện được một việc gì qua một ai đó, nhưng rồi không biết người ta làm sao mà không đạt được việc, ta cũng mất đi tài lãnh-đạo. Bây giờ chúng ta hiểu rằng chỉ có hai cách để lãnh-đạo: hoặc ta muốn có một hành-động nào đó, hoặc ta muốn có một thành-quả nào đó. Tài lãnh-đạo của ta tùy thuộc mức-độ ta đạt được điều chúng ta muốn.

    Kẻ bề dưới là người tùy-thuộc vào điều mà lãnh-tụ muốn để được vừa lòng. Dù thuộc mẫu tính-tình nào chăng nữa, chúng ta cũng là những con người sống trong xã-hội, do đó chúng ta muốn làm vừa lòng người, nhất là vừa lòng người lãnh-tụ, hoặc đôi khi làm bực lòng người. Thật khó mà ở trung-lập trong vấn-đề này. Làm việc gì hầu như chúng ta cũng làm vì kẻ bề trên. Chúng ta chiến-thắng vì người khuyến-khích nâng đỡ, như ông bà ‘bầu’. Ngay cả người tỏ ra tự-lập nhất đi chăng nữa, cũng làm việc theo ý người chủ, và nếu người chủ quên hai chữ ‘cám ơn’ thì thật là thiếu tế-nhị và khôn-ngoan.

    Phải chăng tiền lương và niềm vui làm việc đàng-hoàng chưa đủ cho người làm việc sao? – Thưa: hình như chưa đủ. Như thế không có nghĩa là tiền lương và niềm vui tự-tin không quan-trọng lắm đâu, dĩ nhiên là quan-trọng rồi, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Tất cả chúng ta ai cũng muốn được lời khen tặng cảm ơn, và lời nói đó phải phát-xuất từ người chủ. Chẳng những chúng ta muốn được cảm ơn khen tặng, mà còn muốn lời cảm ơn đó phải tương-xứng với công việc chúng ta đã thực-hiện.

    Xin hãy thử quan-sát một người có óc sáng-tạo. Họ làm công-tác của họ. Nếu người chủ không biết tinh-ý nhận xét để ý đến họ, họ sẽ đi kiếm một người nào đó biết để ý đến họ, cho dù người đó chỉ là một người trùm chăn trong tổ-chức của họ. Người đó tỏ ra có những khích-lệ an-ủi vỗ-về cần-thiết, đúng như quan-niệm của họ về thành-công. Thế là họ được thỏa-mãn thoải-mái. Họ trở lại làm việc với đầy đủ nghị-lực bồi-dưỡng.

    Xin hãy thử quan-sát một người làm việc thành-công mà chủ quên không biết khen tặng, đồng-thời họ cũng không có ai để ý đến riêng tư. Chẳng bao lâu họ sẽ bỏ công việc đó để đi tìm một nơi nào cần và quý họ.

    Lãnh-đạo là làm sao cho có người làm công việc mình muốn làm hoặc cần làm, và thành-công luôn tạo nên lòng thèm khát được người chủ khen tặng quý mến, nên chi nhiệm-vụ quan-trọng đầu-tiên của người chủ là phải biết khen tặng quý mến. Những nhiệm-vụ khác của người lãnh-đạo chỉ là tùy thuộc vào nhiệm-vụ quan-trọng tiên-quyết này. Người lãnh-đạo phải học biết để nhìn nhận các việc làm thành-quả của người bề dưới, và biết cảm ơn thực sự những người đã làm được việc.

    Hãy thử tưởng-tượng mà xem! Phải cảm ơn người bề dưới vì họ đã làm việc mà nhiệm-vụ của họ đòi hỏi sao? Nhưng chính đó mới là then chốt của vấn-đề. Người lãnh-đạo phải biết đem ra thực-hành áp-dụng điều căn-bản đó. Nếu không, nhóm của mình sẽ bị thua thiệt tan rã, và ban giám-đốc phải đi tìm người lãnh-đạo mới

    Trong trường-hợp người lãnh-đạo phải ngậm đắng nuốt cay để thực-hành như trên, cũng còn có một vấn-đề nữa đó là mỗi người một khác. Món ăn vừa miệng người này có thể không vừa miệng người kia, và trong lãnh-vực khen tặng biết ơn cũng vậy. Nếu vô-ý cảm ơn một người về một công việc mà họ coi như không phải là thành-công, có thể họ sẽ hiểu lầm coi đó như xỉ-vả họ không bằng. Chính đây là vấn-đề: tâm-tính của người lãnh-đạo có thể giúp cho họ ý-thức được những công việc thành-công mà họ quý mến, trong khi lại quên không để ý đến các thành-công mà các mẫu tính tình khác dễ nhận ra. Chính vì thế, cho dù người lãnh-đạo biết rằng nhiệm-vụ chính-yếu của lãnh-đạo là khen tặng biết ơn, có khi họ cũng theo tính tình của mình mà khen tặng biết ơn không đúng việc, không đúng lúc, như cảm ơn những việc mà người khác chẳng coi là quan-trọng chút nào cả.

    Chính vì thế, nếu người lãnh-đạo nhìn nhận rằng nhiệm-vụ chính-yếu là phải biết khen tặng cảm ơn, trước hết phải học biết tính tình của mình và của người khác. Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu xem mỗi mẫu tính tình thích những lời khen tặng cảm ơn như thế nào.

    I.- KHEN TẶNG CẢM ƠN

    a.- người chịu chơi (sống phê) SP
    Người SP thường thích được người khác ca-ngợi đường lối họ làm việc khéo léo và dễ dàng. Họ quan-tâm đến duyên-dáng và tinh-tế của công việc hơn là trọng-tâm của công việc. Người SP chuyên chăm về đường lối phương-thức làm việc hơn là thành-quả của công việc. Nếu công việc đòi hỏi phải mạo-hiểm và phiêu-lưu, họ cần phải được nhắn nhở về khía cạnh đó. Nếu phiêu-lưu mạo-hiểm thành-công, họ cần có bạn bè để ăn mừng kết-quả. Nếu thất-bại, họ cần có người ủy-lạo nâng-đỡ tinh-thần, khuyến-khích nhắn nhủ rằng đây chỉ là giai-đoạn tạm bợ. Người SP hãnh-diện với những đức-tính can-đảm, kiên-gan, bền-chí, khéo léo, thích-ứng, đúng lúc và nếu được người lãnh-đạo khen ngợi như vậy thì thật là đáng quý.

    b.- người chịu (siêng) làm SJ
    Người SJ chuyên chăm đến kết-quả, nên họ có những đức-tính thận-trọng, ý-tứ, suy-tư, chính-xác. Người SJ thích được khen ngợi về thành-quả công việc họ làm, nhất là khi đạt được hoặc vượt quá mức chỉ-tiêu. Họ muốn được khen là có tinh-thần trách-nhiệm, trung-thành, tận-tụy, chịu khó, vì đó là đặc-tính thông thường của những người SJ. Người SJ cần được khen tặng biết ơn thật nhiều, cho dù họ khó mà diễn tả cách biết ghi nhận những lời khen tặng đó.

    c.- người nghiêm-túc (năng tiến) NT
    Người NT muốn được khen tặng biết ơn vì những tư-tưởng của họ. Họ muốn có người lắng nghe thông-minh để cố-gắng theo dõi đường lối suy-tư khúc-chiết phức-tạp của họ. Ít khi người NT thích nghe lời khen tặng về tư-cách bản-tính con người của họ, tuy nhiên họ muốn được người khác để ý đến những khả-năng của họ. Nếu người lãnh-đạo chỉ khen người NT về công việc hằng ngày, đường lối thường-xuyên, chẳng những người NT không thích mà còn nghi-ngờ chính thiện-chí của người lãnh-đạo nữa.

    Đối với người NT, tư-cách phẩm-giá của người khen tặng họ mới là chính-yếu. Nếu người lãnh-đạo chỉ có chức-vụ mà không có tài-năng tương-ứng, lời khen đó đối với người NT chẳng có giá-trị gì bao nhiêu. Người NT tỏ ra khó biết dùng lời nói mà khen tặng người khác, và cũng như người SJ, khó biết ghi nhận lời khen tặng.

    d.- người nhân-fẩm NF
    Người NF quý-trọng những cách-thức biểu-lộ lời khen tặng biết ơn có tính cách cá-biệt hơn là người NT. Người NF muốn được nhìn nhận là con người độc-nhất vô-nhị trên đời: cá-nhân họ muốn đóng góp đặc-biệt. Họ cần phải biết người trên kẻ dưới cũng như bạn bè đồng-nghiệp nhìn nhận đúng vai trò của họ đóng góp như vậy. Ba mẫu tính tình SP, SJ và NT có thể đối-phó với những lời chỉ-trích chê bai dễ hơn là người NF, vì người NF dễ bị chán nản, ‘án binh bất-động’, không làm gì được nữa khi bị chỉ-trích chê bai. Người NF cho là quan-trọng nếu họ được người khác hiểu tâm-tình và biết ý-nghĩ tư-tưởng của họ: lúc nào họ cũng muốn được người khác hiểu như vậy cho họ.

    II.- CÁCH LÀM VIỆC
    Mỗi mẫu tính tình có một đường lối kiểu cách làm việc, nên khi làm việc, các mẫu tính tình làm việc chung sẽ dễ làm cho nhau khó chịu. Người SP bực mình khi có lệnh chỉ cho họ cách-thức làm việc. Họ chỉ muốn tự-do tùy cơ ứng-biến. Họ thiếu kiên-nhẫn và nôn nóng khi phải theo các thủ-tục thông-thường, tiêu-chuẩn sẵn có.

    Ngược lại người SJ lại tỏ ra khó chịu vì những mẫu tính tình khác không chịu tuân theo chỉ-thị đường lối bình-thường. Người SJ quý-trọng trật-tự và không thể hiểu tại sao các mẫu tính tình khác lại không chịu tuân theo kỷ-luật và nguyên-tắc đã ấn-định. Người SJ coi hạn cuối cùng (chót) là quan-trọng, nên họ tỏ ra mất kiên-nhẫn khi người khác không chịu giữ đúng giờ giấc đúng hẹn đàng-hoàng.

    Người NT tỏ vẻ khó chịu khi phải làm một công việc coi bộ vô-lý, không đúng với nguyên-tắc, luận-lý. Họ nhấn-mạnh tới điểm phải làm sao được hiệu-năng tối-đa và tổn-sức tối-thiểu, và họ khó chịu khi thấy họ bị cản trở vì luật-lệ thủ-tục và thiên-kiến này nọ.

    Người NF tỏ vẻ khó chịu khi bị coi y như mọi người khác, hoặc bị coi như là chỉ cần vì công việc, dự-án. Họ không muốn che giấu con người của họ sau bộ đồng-phục, và càng không muốn bị gò bó trong khuôn khổ bộ đồng-phục đó. Bất cứ làm việc gì, họ cũng làm với tất cả con người cá-biệt của họ, chứ không phải vì văn-phòng, chức-vụ, tước-hiệu, hoặc để người khác dòm ngó.

    Nơi sở làm cũng có thể suy đoán được các mẫu tính tình đó khó chịu nhau. Chẳng hạn như người SP rất dễ làm các mẫu tính tình khác khó chịu, vì họ chẳng chịu tuân theo các điều đã quy-ước với nhau, và cũng chẳng thèm thông-báo cho người khác biết họ đã không giữ lời. Họ cũng dễ tỏ ra cẩu-thả, không để ý đến chi-tiết và như vậy dễ làm cho các mẫu tính tình khác khó chịu không ít.

    Người SP có thể chẳng chịu chuẩn-bị gì cả, khi mà công việc đòi hỏi phải chuẩn-bị, và có thể có những lời khen tặng quá mức khi thực ra chẳng có công lênh gì, và có thể nổi hứng bất-tử với bạn đồng-nghiệp. Đôi khi họ hứa thay cho người khác mà chẳng chịu hỏi han gì người đó, dĩ nhiên như vậy làm cho người ta bực mình.

    Người SJ có thể làm mọi người khó chịu vì họ thường nói tới những trường-hợp bi-quan đen tối, và không chịu ăn nói một cách lạc-quan tích-cực. Người SJ cũng có thể làm người khác bực mình vì những lời phê-bình gay gắt và châm-biếm trào-phúng, có khi bông đùa cợt nhả nữa. Có khi họ chỉ biết khen tặng những gì thật là xuất-sắc mà không để ý gì đến những đóng góp nhỏ mọn của mỗi người. Người SJ có thể quên nụ cười để rồi tỏ ra cho người khác thấy mình có thái-độ mệt nhọc, ưu-tư, một thái-độ rất dễ lây.

    Người NT cũng có thể làm cho người khác mất lòng vì châm-biếm trào-phúng và bông đùa cợt nhả, và nguồn gốc là vì họ nghi ngờ không biết người khác có khả-năng lĩnh-hội hiểu biết không. Người NT cũng có thể làm cho người khác bực bội khi họ có thái-độ bới móc, soi mói mọi khía cạnh của vấn-đề khi không cần-thiết làm cho người ta quên cả vấn-đề chính. Người NT thường dùng những ngôn-từ mà người khác cho là kiêu-sa đài-các.

    Người NF có thể làm cho người khác bực mình vì thái-độ vị-nể thiên-tư, hôm nay thích người này, mai lại ưa người khác, mà chẳng chịu cho biết lý-do. Người NF có thể gây khó chịu khi họ chỉ chú-ý nói về những tâm-tình cảm-xúc trong khi đáng lý ra phải lưu-tâm tới những ý-nghĩ nhận-định. Họ có thể đứng về phe yếu thua, và trong trường-hợp như thế họ ám-chỉ rằng có những người quá cứng rắn, không thông-cảm với những nhu-cầu của người khác. Người NF cũng có khi tỏ ra quá sốt sắng giúp đỡ người trong khi chưa chắc người khác đã cần hoặc đã muốn.

    Người lãnh-đạo khen tặng cảm ơn và hiểu biết tính tình của người thuộc-hạ không cũng chưa đủ, mà họ còn cần phải biết rằng chính mẫu tính tình mình cũng có ảnh-hưởng tới cách-thức họ lãnh-đạo nữa.

    Những trang tiếp theo đây sẽ mô-tả bốn phương-thức lãnh-đạo dựa theo những tầm-kích (khuynh-hươớng) đã được đề-cập trong các chương trước: hình ảnh của người lãnh-đạo SP, SJ, NT và NF với những sở-trường, sở-đoản, điểm yếu điểm mạnh, các cách đặc-thù trong khi đối-xử với đồng-nghiệp, những ‘cú chiêu’ chuyên-môn, cách lãnh-đạo đồng-đội, cách sắp đặt tổ-chức, cách sử-dụng thời-giờ, những thiếu sót trong hệ-thống tổ-chức nếu như không có mẫu người lãnh-đạo đó.

    1.- người lãnh-đạo chịu chơi (sống phê) SP
    Trong các mẫu tính tình, người SP là mẫu tính tình người lãnh-đạo có tài thương-thảo dễ dàng nhất, và hiểu nhu-cầu thực-tế hơn cả. Họ là nhà thương-thảo tài-ba, nên có thể được mang danh-hiệu nhà ngoại-giao, tay kinh-bang tế-thế, nhân-vật cứu-nhân độ-thế. Họ có biệt-tài trấn-an, dẹp loạn, giải-quyết các tình-trạng khủng-hoảng mà các mẫu tính tình khác khó có tài nào địch lại được mà không phải cố-gắng đáng kể. Nhờ cậy vào mẫu tính tình này thật là thuận-tiện: bất cứ việc gì cần-thiết để giải-quyết một vấn-đề cũng đều được thực-hiện đàng-hoàng. Họ khai-triển những liên-hệ với quá-khứ cũng như tương-lai.

    Nhiều xí-nghiệp lớn biết lợi-dụng tài-năng của mẫu tính tình này khi họ mua lại công-ti đang làm ăn lỗ lãi, với hy-vọng sẽ được trừ thuế đầu-tư, hoặc có lợi về bản-quyền. Các xí-nghiệp lớn sai-phái một người SP cứu-vãn tình-hình tới một công-ty nhỏ với chỉ-thị sửa sai tình-trạng và điều-chỉnh sao đó để công-ty nhỏ tháp-nhập vào xí-nghiệp lớn. Nhân-vật cứu-tế này có quyền quyết-định làm tất cả những gì cần-thiết, miễn làm sao để công-ty nhỏ này trở thành một phần của xí-nghiệp lớn. Chuyện đó diễn-tiến thật mau lẹ, vì người lãnh-đạo SP có biệt-tài thu hút người khác cộng-tác với họ và với mọi người, vì mọi người nhìn thấy điều-kiện thuận-lợi. Mọi người cảm thấy một thái-độ chắc chắn và chỉ muốn làm sao cho công việc diễn-tiến thật mau chóng, nên những quyết-định và chỉ-thị của nhà thương-thảo được thực-hiện dễ dàng. Cho dù người lãnh-đạo với tính tình này có nghi-ngờ chuyện gì đi chăng nữa, họ cũng không để cho người chung quanh biết.

    Sở dĩ người lãnh-đạo SP có được niềm tin như vậy là nhờ họ có óc thực-tế rất mạnh. Mẫu tính tình này tự-nhiên có óc thực-tế hơn các mẫu tính tình khác, vì các mẫu tính tình khác hình như đã đeo sẵn một loại kính mầu đối với một hoàn-cảnh: các mẫu tính tình khác nhận-định tình hình qua lăng kính chủ-trương, đường lối, tập-tục truyền-thống, luật-lệ, mê-tín cực-đoan, qua lăng kính đòi hỏi họ phải chu-toàn sứ-mệnh vì bắt buộc phải hiện-diện, hoặc qua lăng kính hệ-thống tin rằng chuyện gì đã xẩy ra năm xửa năm xưa thì cũng sẽ xẩy ra nữa. Những lăng kính như thế làm cho các mẫu tính tình khác không thể nhìn rõ những gì đang diễn-tiến ngay đây và lúc này. Người SP không nhìn qua các lăng-kính như vậy. Họ đi tới một hoàn-cảnh như chó sói vào rừng, mũi rất thính biết đánh hơi xem có cơ-hội nào chăng. Họ không đem theo những luật-lệ, chủ-trương, tập-tục, giao-kèo, khế-ước. Đối với họ, việc gì cũng có thể thảo-luận, người nào cũng có thể thương-thuyết.

    Khi nhà thương-thảo đi vào một trường-hợp để điều-đình với các phe phái, họ không nghĩ như các phe phái rằng mình phải có những điều không thể nhượng-bộ được. Dĩ nhiên mỗi phe đều tin rằng lập-trường chủ-trương của họ là bất-di bất-dịch không thể thay đổi. Tuy nhiên họ sẵn sàng ngồi vào bàn đối-thoại và chỉ có ý thương-thuyết điều-đình một chút thôi. Họ chỉ chịu nhượng-bộ một tí để hy-vọng họ cũng đạt được một điều gì.

    Tuy nhiên nhà điều-đình nhìn vào trong nhà mà nói: ‘kìa! cứ nhìn vào cả một đống vàng nằm chình ình trong nhà đó, để như vậy mãi nào có ích gí? Mình hãy thử đem một ít ra để thương-lượng chứ!’ Ý-thức thực-tế vượt mức đó giúp cho mẫu tính tình này có lợi-thế hơn các mẫu tính tình khác. Họ làm cho mẫu tính tình khác hành-động như trò đùa trẻ con, trong khi họ là người lớn thành-thạo việc thương-thuyết.

    Nhà thương-thuyết này cũng làm cho người khác có cảm-tưởng chỉ làm trò hề trong việc giải-quyết các khó khăn rắc rối. Hãy thử coi nhiệm-vụ dẹp loạn của họ khi có một cuộc chiến gây cấn. Họ là người lãnh-đạo đi tiên-phong đổ-bộ một hòn đảo hay một lục-địa. Trên bờ biển có sẵn bao nhiêu người và sự vật. Người có nhiệm-vụ dẹp loạn được toàn-quyền giữ lại trên bờ hoặc vất xuống biển bất cứ thứ gì. Không ai có quyền bảo họ phải giữ hoặc vất thứ gì. Mục-tiêu của họ thật rõ ràng: làm sao cho mọi người rời bờ biển mà chui vào trong bụi. Người dẹp loạn chỉ có một giây phút để quyết-định, phải có óc phán-đoán tức-khắc tại chỗ để bỏ những gì xuống hố, vất xuống biển hoặc chôn sâu dưới đất. Do đó nếu vị chỉ-huy có sai người tới bờ biển, phải sai-phái người có tài dẹp loạn, chứ không nên sai người chỉ biết câu-nệ với tập-tục, hoặc người chỉ đoán trước cho tương-lai, hoặc lo sợ hình-phạt nếu bị thất-bại, hoặc người chỉ lo sợ có người sẽ bị tổn-thương. Chỉ có một vấn-đề thật quan-trọng, đó là sống còn, và tất cả những chuyện khác chỉ là phụ-thuộc. Trên bãi biển đó, chẳng có gì quan-trọng đáng kể nữa ngoài việc rời bỏ mà vào trong bụi để còn sống mà tấn-công và bảo-đảm cho mục-tiêu.

    Kiểu lãnh-đạo dẹp loạn không phải chỉ dành cho chiến-tranh mà thôi. Kiểu lãnh-đạo dẹp loạn này sẽ xuất-hiện thật xuất-sắc trong bất cứ một trường-hợp khẩn-cấp nào. Có một người SP có khả-năng dẹp loạn rất hữu-hiệu được sai đến để giúp một trường trung-học đã bị kiệt-quệ lâu năm. Trường này nổi tiếng là mồ chôn của nhiều hiệu-trưởng: chỉ cần vài tháng là trường và ban giảng-huấn đã có thể làm ma một vị hiệu-trưởng mới rồi. Ban giảng-huấn chia thành hai phe chống-đối nhau kịch-liệt, và mỗi phe đều biết cách đưa hiệu-trưởng xuống mồ, và họ cứ thay phiên nhau làm như vậy. Không ai có thể đối-phó với tình-trạng đó, và càng ngày càng tệ hơn. Ban giảng-huấn càng ngày càng chống-đối nhau nhiều hơn, học-sinh thụ-huấn được ít hơn, phụ-huynh cũng chia phe chống-đối nhau. Cuối cùng vị giám-đốc học-chính bảo vị phụ-tá: ‘hãy tới đó mà dẹp loạn cho yên đi!’ Chỉ cần có ba tháng là loạn đã được dẹp yên, trường-học trở về hòa-hợp tốt đẹp. Dĩ nhiên không cần phải nói, ai cũng hiểu đó là nhờ công của người phụ-tá SP, và người phụ-tá SP này có trực-giác thật đúng để kết-nạp nhân-viên giúp họ cộng-tác với nhau và với mình. Cho dù ban giảng-huấn có khác đi chăng nữa, người SP cũng sẽ biết điều-động để đạt được kết-quả mong muốn. Mẫu người SP này có óc thực-tế, không lệ-thuộc vào quá-khứ, nên họ biết nhìn cơ-hội hiện-tại trong mỗi trường-hợp.

    Mẫu người lãnh-đạo này không đủ kiên-nhẫn đối với các lý-thuyết , quan-niệm, chủ-đích, tuyên-ngôn, triết-lý. Họ coi những chuyện đó là phù-phiếm mất giờ. Sức sống chính-yếu của họ là uyển-chuyển, đối với chính mình cũng như đối với người khác. Họ có óc thực-tế mở rộng, nên rất dễ thay đổi thích-ứng lập-trường. Họ thích phiêu-lưu mạo-hiểm, thích đánh cuộc thách-đố, giải-quyết các vấn-đề khó khăn. Khi nhà thương-thuyết thành-công trong việc dẹp loạn ở trường học, cứu-vãn một công-ti vỡ nợ, làm quân-bình dịch-vụ một xí-nghiệp, họ cảm thấy phấn-khởi thích-thú.

    Nhưng bây giờ hãy xem xét trường-hợp nhà thương-thuyết cứu-thế được chỉ-định ở lại để củng-cố trường-học, xí-nghiệp hoặc doanh-thương, t.d. muốn cho công-ti làm ăn vừa phải được phát-triển. Chẳng hạn xin họ bảo-toàn một tổ-chức, thiết-lập một hệ-thống tổ-chức nhân-sự và sự-kiện. Thử hỏi: họ sẽ làm gì? Xin thưa ngay: họ sẽ vấp phải lỗi lầm. Họ sẽ đi tìm kiếm những hoạt-động họ ưa-thích để làm theo ý họ. Họ sẽ tìm cách kiếm chuyện, nại cớ này cớ nọ để tạo nên những cuộc chiến nho nhỏ, ngõ hầu họ sẽ ra tay cứu-độ giảng-hòa. Chính đó là lỗi lầm khi muốn một người thương-thảo cứu-tế trở thành một nhà bảo-trì phát-triển. Họ không cảm thấy khoái-chí gì khi phải bảo-trì hoặc phát-triển. Họ tự cảm thấy không xứng với tài-cán của họ, vì họ không có gì đáng giá để làm, nên họ dễ chán-nản, và lại đi tìm kiếm những lộn xộn để ra tay cứu-giúp. Mục-đích của câu chuyện này là bất cứ tổ-chức nào chăng nữa cũng cần phải có nhà thương-thảo để giải-quyết các vấn-đề khủng-hoảng, nhưng một khi đã giải-quyết xong, không nên giữ họ lại làm gì. Nếu không, chỉ làm khổ cho nhà thương-thảo và làm hại cho tổ-chức. Mẫu người lãnh-đạo SP chỉ nên cho lưu-động để được dùng vào các trường-hợp như vừa kể trên.

    a.) sở-trường (điểm mạnh) của người lãnh-đạo SP
    Người lãnh-đạo SP có óc thực-tế thật đúng nghĩa. Họ biết thương-thuyết thảo-luận đối-phó với các vấn-đề một cách thật mau chóng. Họ có thể quan-sát một hệ-thống để biết xem hệ-thống đó làm việc như thế nào, có thể tìm ra chỗ nào hư hỏng, sai lỗi, và biết cách sửa chữa một cách mau chóng. Người lãnh-đạo SP có biệt-tài thay đổi thật dễ dàng, vì họ dễ thích-ứng với những hoàn-cảnh mới. Họ hoan-nghênh và tìm kiếm các đổi thay. Với vai-trò lãnh-đạo, người SP sẽ biết mọi diễn-tiến của một tổ-chức hơn các mẫu tính tình khác, vì họ có óc nhận xét tinh-vi đối với một môi-trường. Người SP lãnh-đạo làm cho mọi việc xẩy ra mà không cần phải có nhiều động-tác. Người SP không chống lại một hệ-thống nhưng biết dùng những gì có sẵn đó để giải-quyết những tình-trạng khó khăn. Họ không dùng nghị-lực một cách phí-phạm để lo thay đổi những gì không thể thay đổi được. Những gì có thể thay đổi được về nhân-sự, thể-thức, chính-sách v.v… đều được người lãnh-đạo SP điều-đình trong cơn khủng-hoảng.

    b.) sở-đoản (điểm yếu) của ngưởi lãnh-đạo SP
    Người lãnh-đạo SP có thể không muốn lưu-ý tới lý-thuyết và tỏ ra khó chịu với những gì trừu-tượng. Họ không thích những gì họ chưa quen thuộc và có thể phản-ứng tiêu-cực đối với những thay đổi không do chính họ tạo nên. Họ chỉ biết sống cho hiện-tại nên khó nhớ những quyết-tâm và dự-định của quá-khứ. Ngày hôm qua diễn ra thật mau và cũng chóng được lãng quên. Vì họ chỉ lo cho nhu-cầu hiện-tại nên họ quên hết mọi sự khác. Chính vì lý-do này mà người lãnh-đạo dễ sa vào một tư-thế không thể lường trước được đối với đồng-nghiệp hoặc thuộc-hạ. Khi không có vấn-đề khó khăn gì để giải-quyết, người thương-thảo SP có thể trở nên cứng nhắc.

    c.- đường lối đặc-biệt đối-xử với đồng-nghiệp
    Người lãnh-đạo SP rất dễ đáp-ứng với những ý-tưởng của người khác, nếu đó là những ý-tưởng cụ-thể rõ ràng. Họ tỏ ra uyển-chuyển, kiên-nhẫn, cởi mở, và thích-nghi để làm việc với người khác, và trong trường-hợp này, người SP tỏ ra vui vẻ dễ sống. Họ không sợ mình hoặc người khác bị thất-bại, và họ thích phiêu-lưu mạo-hiểm cũng như khuyến-khích người khác làm như vậy. Họ thay đổi lập-trường dễ dàng tùy theo những sự kiện mới, hoàn-cảnh mới, và ít khi coi việc thay đổi lập-trường là dấu chỉ thiếu tự-tin. Họ chấp-nhận mệnh-lệnh của cấp trên và không có ý chống lại cấp trên, cho dù đôi khi họ không tuân theo mọi chỉ-thị. Người lãnh-đạo SP chấp-nhận thực-tại mọi sự và không mơ ước viển-vông để được thế này hoặc thế khác. Họ không uổng công đi tìm ẩn-ý sâu xa của các hành-động hoặc sự việc. Người lãnh-đạo SP có tài diễn-tả bằng lời nói thật dễ dàng để cảm ơn khen tặng, và đôi khi ngỏ lời khen ngợi trước khi công việc hoàn-tất để khuyến-khích người khác.

    d.) phần đóng góp vào tinh-thần đồng-đội
    Người lãnh-đạo SP đóng góp rất nhiều vào việc cổ-võ tinh-thần đồng-đội hơn các mẫu tính tình khác. Khi nào có mẫu tính tình này trong một sinh-hoạt, thế nào cũng có thành-quả thực-tế. Có lẽ người SP thành-công nhất trong việc dùng lời nói để diển-tả kế-hoạch và đưa ra một quyết-định mà có lẽ họ không thích hoặc không có tài-khiếu viết nên một văn-kiện. Họ dễ nhận ra những khó khăn nhỏ bé trong nội-bộ một tổ-chức để khỏi trở thành to lớn vì không có ai để ý đến. Nếu có người SP trong ban tổ-chức, tổ-chức đó sẽ điều-hành êm xuôi, vì họ có tài phát-giác ra những dấu-chỉ khó-khăn lúc còn phôi-thai. Năng-lực sản-xuất thường khá cao, và người SP thường ý-thức được thái-độ và điều-kiện làm việc của nhân-viên. Người lãnh-đạo SP thường khó có thể làm ngơ trước điều-kiện không thuận-lợi cho nhân-viên mà không lên tiếng.

    Người lãnh-đạo SP cần được sự nâng-đỡ ủng-hộ của toàn bộ nhân-viên có tổ-chức đàng-hoàng để nhắc nhở người lãnh-đạo về chương-trình các buổi họp, nhắc khéo cả những buổi họp có vấn-đề gây cấn, để người SP đưa ra một giải-pháp dứt-khoát cho các vấn-đề còn lòng thòng. Họ cần có những dịch-vụ giúp cho họ đặt kế-hoạch sắp loại ưu-tiên và như thế có một nhận-định tổng-quát về thứ-tự các dựï-án tuần-tự như tiến để sau này có dịp xem xét lại.

    2.- người lãnh-đạo chịu (siêng) làm SJ
    Người lãnh-đạo SJ có thể được gọi là người bảo-thủ, bảo-trì, bảo-vệ, kết-hợp. Họ đặt trọng-tâm vào cơ-cấu tổ-chức như một toàn-bộ, và nuôi dưỡng săn sóc cho cơ-cấu xã-hội đó. Khả-năng của người lãnh-đạo SJ là thiết-lập chính-sách, luật-lệ, thời-biểu, tập-quán, quy-tắc và phẩm-trật thứ-tự lớp lang đâu vào đó. Họ khéo léo trong việc liên-hệ thông-cảm và làm đến nơi đến chốn. Họ rất nhẫn-nại, thông suốt, bền vững, đáng tin, trật-tự. Họ quý giá những chính-sách, giao-kèo và quy-tắc hành-động tổng-quát. Mẫu người lãnh-đạo này được tín-nhiệm để đem lại bầu-khí tốt đẹp giúp cho một tổ-chức được bền vững. Họ thích cách thức làm sao cho một tổ-chức được bền vững, cảm thấy mình hữu-ích nhất khi làm được như vậy, và dĩ nhiên coi đó như mình xứng-đáng đồng tiền bát gạo. Ai dưới quyền của người SJ lãnh-đạo cũng biết rằng họ có thể tin-tưởng nơi người SJ khi người SJ ra tay làm việc. Ai cũng biết khi có người SJ lãnh-đạo, mọi sự sẽ đâu vào đó, dụng-cụ cũng như nhân-viên thật đầy đủ. Mọi sự được đàng-hoàng và tổ-chức được bền vững.

    Người SJ lãnh-đạo bảo-thủ, sống đúng như tên họ được gọi, cẩn-tắc duy-trì các truyền-thống của tổ-chức, biết rằng những truyền-thống đó đem lại an-vui hồn-nhiên, ý-thức tập-thể, và ý-thức bền vững cho nhân-viên cũng như thân-chủ. Nếu như tổ-chức chưa có truyền-thống, người lãnh-đạo SJ chắc chắn sẽ tạo lập nên. Chắc chắn họ sẽ hành-động thật mau để thiết-lập một căn-bản cho các nghi-thức, lễ bái, cung cách, với niềm tin-tưởng rằng nhiệm-vụ của các truyền-thống đó là làm sao cho cơ-cấu xã-hội được bền-vững. Khi nào người lãnh-đạo SJ tổ-chức một cơ-sở, hình như lúc nào cũng có một yếu-tố tình-cảm được biểu-lộ. Thí-dụ điển-hình: một nhân-viên thất tuần về hưu được tặng một chiếc đồng-hồ mạ vàng, nghi-thức chính-thức tiếp đón một nhân-viên mới, tiệc mừng lễ Giáng-sinh, bữa họp mặt ngoài trời dịp lễ Quốc-khánh mùa hè dành cho nhân-viên và toàn-bộ gia-đình.

    Người lãnh-đạo SJ có một ý-thức xã-hội rất đặc-biệt. Họ muốn biết rõ nhiệm-vụ của họ là gì và mau mắn thi-hành. Người SJ muốn tỏ ra luôn luôn bận bịu thi-hành nghĩa-vụ. Đó cũng là điều mà người SJ quý giá nơi các nhân-viên tùy-thuộc, nơi các cộng-sự-viên, nơi các cấp trên. Người SJ khâm-phục những ai chịu khó làm việc.

    Trong đời sống của bất cứ một tổ-chức nào cũng cần phải có giai-đoạn bền vững, nhưng khuynh-hướng này sau một thời-gian lại dễ đi quá mức. Trong tất cả các mẫu tính tình lãnh-đạo, người SJ dễ vấp phải luật Parkinsons hơn cả, luật chủ-trương phương-tiện cần hơn cứu-cánh. Luật này ám-chỉ rằng sau một thời-gian trong bất cứ một tổ-chức nào, phí-tổn về hành-chánh hình-thức cũng lớn hơn thành-quả. Người lãnh-đạo rất dễ bị trở nên nạn-nhân của lề-luật, chỉ vì muốn bảo-toàn trọn vẹn một tổ-chức. Người lãnh-đạo SJ có thể tự mình tìm ra những phương-cách mới chỉ với một mục-đích là bảo-toàn các phương-pháp cũ. Họ có thể thấy rằng họ tạo nên phương-tiện để tạo nên các phương-tiện khác nữa. Họ có thể nhận thấy rằng họ đã dùng thêm nhân-viên, thêm tài-nguyên mà vẫn không biết được kết-quả sẽ ra sao mặc dầu có thêm nhân-viên và tài-nguyên. Cơ-cấu tổ-chức sẽ mau trở thành bất-động vì các thủ-tục hành-chánh câu-nệ rườm rà vì có quá nhiều luật phải giữ, quá nhiều nguyên-tắc phải theo. Như thế tổ-chức sẽ đến một lúc không có gì thay đổi được nữa vì nhiều người làm việc chỉ vì từ trước đến nay họ vẫn làm thế. Người lãnh-đạo dễ trở thành nạn-nhân của tật coi phương-tiện hơn cứu-cánh mà chính họ không ý-thức được.

    Người lãnh-đạo SJ có khuynh-hướng chống lại các thay đổi nên họ phải coi chừng hành-vi của chính họ kẻo rồi vì quá hăng say lo chính-sách, quy-luật, phương-pháp, họ trở nên quá bảo-thủ. Nếu họ trở nên quá bảo-thủ, vô-tình họ đã cản đường tiến-bộ và phát-triển của một tổ-chức, làm phí công tốn sức của mình và của người khác nữa. Nhân-viên của họ sẽ chỉ làm việc một cách uể oải chỉ vì năm trước họ đã làm như vậy và họ cũng cố-ý làm y như năm trước thôi. Chẳng hạn một khoản dự-chi được chấp-nhận chỉ vì đã có trong ngân-sách năm ngoái. Mặc dầu họ xem xét kỹ-lưỡng chi-phí cho dự-án một công việc hữu-ích, nhưng họ lại ít khi xem kỹ-lưỡng chi-phí cho một kết-quả. Dĩ nhiên bệnh hành-chánh này không phải chỉ giới-hạn trong những người lãnh-đạo SJ, nhưng người bảo-thủ dễ bị bệnh nặng hơn. Vì thế họ nên theo một chu-kỳ để nghiên-cứu thành-quả của các thủ-tục trong tổ-chức của họ, để loại bỏ những hoạt-động nào không đem lại lợi-ích mà vẫn còn được thi-hành chỉ vì đã có từ lâu trong sách thủ-tục, nghi-lễ, truyền-thống. Người lãnh-đạo SJ có thể nuôi-dưỡng và bảo-trì tổ-chức một cách thật tuyệt-vời, nếu như họ có mắt tinh-anh để ý đến những nguy-hiểm của căn bệnh hành-chánh.

    Chúng ta đã nói rằng công-cụ chính-yếu của việc lãnh-đạo điều-khiển là khen tặng cảm ơn. Vậy người lãnh-đạo SJ xử-sự thế nào trong việc khen tặng và cảm ơn? Họ xoay xở ra sao? Làm sao để họ thông-đạt cảm-nghĩ của họ cho nhân-viên và cho cấp trên khi họ nhận biết việc người khác làm và biết được người khác đã có phần đóng góp? Ở đây chúng ta có thể quan-sát một hiện-tượng xuất-hiện từ tâm-tính của người SJ. Họ thèm muốn phục-vụ, được người khác cần đến, được chu-toàn nhiệm-vụ. Họ cảm thấy ý-thức nhiệm-vụ đòi buộc, vì họ tin rằng họ phải sống xứng đáng đồng tiền bát gạo của họ mỗi ngày. Một cách nào đó, họ cảm thấy họ có duyên-nợ với xã-hội và phải luôn luôn làm việc để trả món nợ đó. Họ có khuynh-hướng khuyến-khích người khác cũng cảm thấy nhu-cầu đó nữa, và kết-quả là chỉ có người nào xứng-đáng nhất mới đáng được khen thưởng. Vì ai cũng phải có làm mới có ăn, có công mới đáng được thưởng, nên chỉ có những người nào có công lắm mới được tưởng-thưởng. Chỉ có kẻ chiến-thắng mới đáng được lĩnh huy-chương. Nếu không, ý-hướng tiềm-thức sẽ chỉ-huy điều-khiển và nhân-viên sẽ bớt hiệu-năng. Khen nơi ít đáng khen sẽ giảm bớt hiệu-năng và gây nên khó khăn trong tác-phong lãnh-đạo. Do đó chỉ có kẻ chiến-thắng thực sự mới được lĩnh phần thưởng chung-kết. Những người thứ hai thứ ba may ra nên được một chút phần thưởng an-ủi khích-lệ, còn những người khác không nên được gì cả. Nếu muốn hiệu-nghiệm, người lãnh-đạo SJ phải tự huấn-luyện để biết chú-ý tới những việc ít thành-công, và phải đềâu đặn tưởng-thưởng những công việc đã hoàn-thành chỉ vì lý-do được hoàn-thành là đủ rồi. Người lãnh-đạo SJ nào có khả-năng tối-thiểu để bảo-thủ, nên tự xét lại xem phải chăng chỉ nên khen tặng và cảm ơn những người thực sự xứng đáng , và dĩ nhiên số đó quá ít ỏi. Họ nên tìm cách làm sao để họ có thể tìm ra một lý-do nào đó dù tầm-thường để khen tặng và cảm ơn nhân-viên đã đóng góp.

    a.) sở-trường (điểm mạnh) của người lãnh-đạo SJ
    Người lãnh-đạo SJ dễ làm việc có tính cách giúp cho một hệ-thống bền-vững. Họ tỏ ra cương-quyết, và thích tham-dự vào cách đi đến một quyết-định. Họ hiểu biết những giá-trị riêng biệt của một tổ-chức và cố-gắng duy-trì những giá-trị đó. Họ hiểu biết chính-sách đường lối của một tổ-chức và tôn-trọng chính-sách đường lối đó. Họ kiên-trì, nhẫn-nại, làm việc chuyên chăm với một ý-nghĩ thực-tế, dự-tính thời-gian cần-thiết cho xong công việc, ít khi đưa ra những sự kiện sai lầm, tỏ ra chính xác vượt bực, và đáng được tin cậy để làm xong việc. Trước khi hành-động, họ sẽ cân-nhắc các hậu-quả và sẽ cố-gắng nhìn trước các hậu-quả thực-tế của việc họ quyết-định. Họ tỏ ra có lương-tri và cảm-phục lương-tri nơi người khác. Họ có thứ-tự ngăn nắp và cảm-phục người nào có đức-tính đó. Họ đúng giờ đúng chương-trình.

    Người lãnh-đạo SJ tỏ ra xuất-sắc nhất khi họ đặt kế-hoạch cho công việc họ làm và đi theo kế-hoạch đó cho đến khi xong. Họ thích làm cho mọi vấn-đề được sáng tỏ, ổn-định và kết-thúc gọn gàng. Họ có thể tỏ ra bồn-chồn lo lắng cho đến khi nào đi tới được một quyết-định về nhân-sự, vật-liệu cũng như diễn-tiến sắp tới. Ai làm việc với họ cũng biết quan-điểm của họ về mỗi vấn-đề. Người lãnh-đạo bảo-thủ là một nhà tư-tưởng thực-tế và muốn cho tổ-chức phải được hoạt-động tựa trên các sự kiện chắc chắn. Họ có thể hấp-thụ, ghi nhớ, sử-dụng và điều-động khá nhiều chi-tiết trong một hệ-thống tổ-chức. Họ là một nhà lãnh-đạo rất đáng tin cậy, làm việc chuyên chăm cần-mẫn một cách phi-thường. Người lãnh-đạo SJ tin rằng một ngày tiền công phải xứng-đáng một ngày làm việc. Cấp trên của người lãnh-đạo SJ có thể tin-tưởng nơi họ, cũng như cấp dưới của họ có thể hiểu biết, kính-trọng và tuân theo luật-lệ vì biết rằng ai cũng đều làm như vậy.

    Người lãnh-đạo SJ chủ-tọa phiên họp một cách hữu-hiệu, cảm thấy thoải-mái khi có một chương-trình nghị-sự rõ ràng. Họ sẽ thiết-lập một đường lối chính-thức, tổng-quát để đối-phó với các đồng-nghiệp cho đến khi họ làm quen được nhau. Họ thích có những tập-quán cố-định và chịu khó làm việc kiên-trì. Người lãnh-đạo SJ hiểu rành rẽ các dịch-vụ của một tổ-chức, trung-thành với mục-đích và nhân-sự, và thường hiểu biết từng chi-tiết.

    b.) sở-đoản (điểm yếu) của người lãnh-đạo SJ
    Người lãnh-đạo SJ có khi tỏ ra không kiên-nhẫn đủ khi một dự-án bị chậm trễ vì lý-do có những rắc rối trở-ngại bất-ngờ. Họ có khuynh-hướng quyết-định các vấn-đề một cách mau chóng, và thỉnh thoảng không nhận diện được những việc mới cần phải làm. Họ tỏ ra xuất-sắc trong việc duy-trì những thể-thức hữu-hiệu của một tổ-chức, nhưng cũng có khi lại chỉ là duy-trì những quy-tắc luật-lệ đã lỗi thời không còn hữu-hiệu nữa vì họ không dùng thời-giờ để xem xét thành-quả. Có thể họ không đáp-ứng được những thay đổi cần-thiết cho một tổ-chức nhất là trong những thời-kỳ thay đổi của tổ-chức.

    Người lãnh-đạo SJ có khuynh-hướng cho một số người là tốt một số người là xấu, và dĩ nhiên người xấu nên bị phạt. Vì thái-độ đó, người lãnh-đạo SJ dễ rơi vào tình-trạng những liên-hệ tạo nên căng thẳng, bởi vì có khi họ tỏ ra tiêu-cực, thỉnh-thoảng chỉ-trích hoặc hạ bệ người khác. Họ có thể quá để ý đến những yếu-tố tiêu-cực của người khác, nhất là khi họ quá mệt nhọc hoặc bị nhiều áp-lực mọi phía. Nếu không để ý và cố-gắng, họ có thể suy-luận một cách võ-đoán từ nhận-định việc này xấu đi đến kết-luận vì việc này xấu nên người làm việc này cũng xấu.

    Một điểm tế-nhị của người truyền-thống là họ quá quan-tâm đến những rủi ro có thể xẩy đến. Dẫu sao chính họ là người sáng-chế ra định-luật Murphy (định-luật này khẳng-định rằng cái gì có thể hư hỏng thì trước sau gì cũng sẽ hư hỏng). Có thể họ quá nhấn-mạnh về những chuyện rủi ro có thể xẩy ra, nên lại dành nghị-lực để đối-phó với những khủng-hoảng có thể không bao giờ xẩy ra. Một yếu-tố khác nữa trong hệ-thống tin-tưởng của người truyền-thống là họ quan-niệm rằng ai cũng có thể làm nên chuyện nếu chịu khó và chuyên chăm làm việc. Điều này có thể làm áp-lực cho người SJ phải cạnh-tranh thật nhiều và phải dùng nghị-lực để theo đuổi tổ-chức toàn-hảo. Như vậy là đặt họ vào thế đi tới thất-bại.

    c.) đường lối đặc-biệt đối-xử với đồng-nghiệp
    Người lãnh-đạo SJ muốn các đồng-nghiệp phải hướng tới một đích-điểm và phải gắn bó với đích-điểm đó. Họ muốn có những sự kiện và ưa thích những ai đáng tin, có lý và vững chắc. Họ tin mình là người có óc thực-tế và sự thực họ có đầu óc như vậy khi phải đối-phó với những sự kiện và hệ-thống này nọ. Tuy nhiên khi họ đối-phó với hệ-thống con người, không phải lúc nào họ cũng nhận-định chính-xác về các liên-hệ xã-giao. Người lãnh-đạo SJ tỏ ra rất mực rõ ràng ngay thẳng khi đối-xử với các đồng-nghiệp, và nếu họ cảm thấy rằng người ta không tuân giữ các phương-thức và chính-sách đã đồng-ý quy-định, họ sẽ lên tiếng cảnh-cáo: họ có thể lên tiếng công-khai trước mặt mọi người hơn là một cách kín-đáo riêng tư, và có thể dám dùng lời nói chỉ-trích ngặt nghèo một cách không cần-thiết. Họ có thể cảm thấy dễ góp ý về nhược-điểm của chính mình cũng như của người khác hơn là về ưu-điểm, coi y như thể không cần phải góp ý gì thêm về ưu-điểm của mình hoặc của người mà họ coi là lẽ đương-nhiên.

    Người lãnh-đạo bảo-thủ có thể chờ-đợi không đả-kích gì trừ khi họ tin rằng họ có đủ lý để làm như thế, và có thể họ cảm thấy khó chấp-nhận người khác đả-kích họ. Như vậy họ đã tỏ ra một thái-độ khước-từ cho dù họ không cố ý như vậy. Người lãnh-đạo SJ có thể nhận thấy rằng những việc ban-phát tượng-trưng như bảng danh-dự, huy-chương, thăng-quan tiến-chức, chức-tước danh-hiệu v.v… là những việc làm có ý-nghĩa hơn là những lời nói khen tặng suông hoặc những liên-lạc giới-thiệu.

    d.) những đóng góp cho tinh-thần đồng-đội.
    Người lãnh-đạo bảo-thủ quân-bình bổ-túc cho người lãnh-đạo NF một cách đặc-biệt, vì người NF chú-ý mạnh đến liên-hệ giữa người với người, trong khi người lãnh-đạo SJ giúp cho hệ-thống vận-chuyển điều-hòa và hữu-hiệu. Người lãnh-đạo SJ có biệt-tài thực-thi kế-hoạch và hoạt-động tổ-chức hữu-hiệu. Họ có thể duy-trì một hệ-thống sự kiện trong ngoài rất trật-tự, để những người chung quanh họ đả-thông tư-tưởng một cách rõ ràng. Nếu một tổ-chức không có một người lãnh-đạo SJ, có thể tổ-chức thiếu-sót các chi-tiết quan-trọng, và cơ-sở không được sử-dụng tối-đa, như không đủ kiểm-soát nhân-tài vật-lực, hoặc có những quyết-định quan-trọng không đúng tầm mức do những nhân-viên thiếu khả-năng, để rồi sẽ phí phạm thời-giờ và vật-liệu mà người lãnh-đạo không hay biết gì cả. Một hệ-thống không có người lãnh-đạo bảo-thủ SJ sẽ rơi vào tình-trạng thay đổi luôn luôn mà không có quy-chế và luật-lệ căn-bản.

  12. CHƯƠNG 5

    tính tình
    nơi người lãnh đạo

    3.- người lãnh-đạo nghiêm-túc (năng tiến) NT
    Người lãnh-đạo bảo-thủ SJ cảm thấy thoải-mái khi họ được dịp sắp đặt luật-lệ, quy-ước, thủ-tục, và họ cảm thấy xứng-đáng đồng tiền bát gạo vì giúp ích cho tổ-chức của họ. Người lãnh-đạo giải-tỏa SP cảm thấy thoải-mái khi họ được dịp dẹp loạn chữa lửa, và cảm thấy mặc-cảm tội lỗi khi lỡ cơ-hội. Người lãnh-đạo NT phải nghĩ ra một nguyên-cớ nào đó để cảm thấy an-vui thoải-mái về nhiệm-vụ của mình trong tổ-chức. Họ phải suy-nghĩ tưởng-tượng nên họ được mệnh-danh là người lãnh-đạo kỳ-vọng. Họ sẽ cảm thấy đầy hứng-thú phấn-khởi và nghị-lực khi được trao phó công việc về lãnh-vực thiết-kế, đồ-án, kỹ-thuật. Chỉ khi đó họ mới cảm thấy xứng đáng dồng tiền bát gạo của họ. Họ tự-hào về kiến-thức kỹ-thuật, kể cả kỹ-thuật điều-hành, và muốn dùng trí óc để suy-diễn ra các chi-tiết phức-tạp, để vẽ ra các kiểu mẫu trên giấy tờ, để đạt tới các thách-đố về kiểu mẫu để thăng-tiến hiệu-lực và khả-năng. Người lãnh-đạo NT hăng-hái lăn mình vào làm việc khi được yêu-cầu để phác-họa một dự-án. Nếu được yêu-cầu để phác-họa dự-án kiểu mẫu đầu-tiên, họ lại càng mừng hơn nữa, vì họ sẽ được vinh-dự làm một việc thật xứng-đáng. Họ không thích làm công việc duy-trì bảo-vệ, và họ kinh-tởm những bề bộn chồng chất. Họ không hiểu tại sao lại có lý-do để khủng-hoảng xẩy ra nữa, và đối với người kỳ-vọng, mỗi việc phải có một lý-do. Người lãnh-đạo này rất có thể ngoan-cố và với bất cứ giá nào cũng phải bảo-vệ nguyên-tắc chống lại mọi người phản-đối. Họ không thể nào chấp-nhận để cho mình hoặc người khác phạm lỗi tới lần thứ hai được. Một khi một lỗi lầm đã được tha-thứ, họ không thể tưởng-tượng được cũng một lỗi lầm tái-phạm lần thứ hai. Người lãnh-đạo khải-đạo đi tìm kiếm và ưa-thích phức-tạp, họ tránh những lặp đi lặp lại. Họ kỳ-vọng rất nhiều nơi chính mình và kỳ-vọng nơi người khác cũng không ít gì.

    Cho dù người lãnh-đạo khải-đạo có thể nghĩ tưởng ra tình-trạng của tổ-chức trong 10 năm tới và phác-họa ra chương-trình thập-niên, họ khó có thể diễn-tả biểu-lộ những chi-tiết về mục-đích và kế-hoạch để thực-hiện. Người ta đi theo người lãnh-đạo này vì họ nhận thấy hướng đi của người lãnh-đạo có sức hấp-dẫn lôi kéo, nhưng đôi khi người ta cũng cảm thấy lạc-lõng, vì người lãnh-đạo có khuynh-hướng tránh lặp đi lặp lại. Người NT không muốn nói tới một điều gì hai lần vì nghĩ rằng ai cũng đã hiểu, có nghĩa là hiểu ngầm, hiểu mò, hiểu suy-đoán cũng được. Người NT không tin là cần-thiết phải nói huỵch toẹt ra trên giấy trắng mực đen những gì họ ám-chỉ hiểu ngầm. Họ tiết-kiệm lời nói thông-cảm, không muốn nói đến những gì kể như thanh-thiên bạch-nhật, sợ rằng bị coi là ‘quê’, ‘ngu’, hoặc coi thường người nghe. Vì thế người chỉ-đạo, người kiến-trúc các hệ-thống, hay có vấn-đề khó khăn trong vấn-đề thông-cảm. Mặc dầu họ có khả-năng suy-nghĩ truyền-thông các kiểu mẫu của họ, họ có khuynh-hướng quá kỹ-thuật và tầm thường trong cách họ nói năng, có thể đưa ra những ý-tưởng quá nhiều chi-tiết , và có thể đề ra một vấn-đề quá phức tạp trong môït thời-gian quá ngắn ngủi. Vì thế nhiều khi người nghe lạc mất ý-nghĩa, không hiểu một vấn-đề bao la như rừng rậm, trong khi họ chỉ cố-gắng tìm hiểu một cây nho nhỏ. Người lãnh-đạo khải-đạo không biết ghi nhận công ơn một cách tự-nhiên được, và một phần lý-do của vấn-đề thiếu tế-nhị ghi ơn là vì họ không muốn nói tới những gì đã rõ ràng minh-bạch. Dĩ nhiên họ cho rằng một người chu-toàn việc bổn-phận đàng-hoàng là một sự thật hiển-nhiên đâu có cần phải ai để ý đến nói năng làm gì nữa. Nếu họ nói ra, người chu-toàn bổn-phận vừa được khen vừa được dịp để nghĩ thêm rằng ‘tại sao người chủ/xếp lại nói như vậy? phải chăng mình không chu-toàn bổn-phận thường-xuyên sao?’ Do đó người lãnh-đạo kỳ-vọng ngại phát-biểu ghi nhận công ơn của ai, sợ rằng sẽ bị người khác lèo lái. Ít ra đó cũng là lối lý-luận của họ. Rất có thể sự thật là chính mình họ đã có lần bị ‘ốt dột’ (nhột , chọc quê) vì có ai đó đã ghi nhận công ơn khi thực sự họ chỉ chu-toàn việc bổn-phận, nên họ cũng lại cảm thấy ngượng ngùng khi ghi nhận công ơn người khác. Với lối suy-luận đó, người nghe sẽ tìm cách lèo lái: họ có khuynh-hướng không nói năng gì hết về những cố-gắng và thành-quả đạt được của người trên kẻ dưới cho những người này nghe.

    Tuy nhiên trong đầu óc họ nắm vững vấn-đề, họ biết rõ cách thức tương-giao liên-hệ giữa người với người, họ hiểu nguyên-tắc được trình-bày chi-tiết trong phong-trào điều-trị theo từng nhóm nhỏ: nếu không nói rõ ràng công-khai cho biết mình quý-trọng ai, người ta sẽ kết-luận ngược lại. Nói chung ai cũng vậy và bất cứ mẫu người nào cũng thế thôi: không ai tự nhận mình được quý mến ghi ơn, nếu như không có người nói rõ cho người ta nghe biết. Nếu một người làm chu-toàn được một công việc gì, cho dù nhỏ mấy đi chăng nữa, người lãnh-đạo cũng cần phải nói cho họ nghe biết rằng văn-phòng, tổ-chức đã công-nhận ghi ơn công việc đó. Chẳng có gì có thể thay thế được lời nói quan-trọng đó. Xin đừng vin cớ vô-vị rằng người làm đã được trả công đàng hoàng rồi! Trả công là một chuyện, mà ghi ơn là một chuyện khác. Nếu muốn mọi người dấn thân trọn vẹn, một tổ-chức phải sẵn sàng trả công một cách nào khác nữa, hơn là chỉ có đồng tiền bát gạo, tuy theo nhu-cầu căn-bản của mỗi người. Điều cần-thiết được nhấn mạnh ở đây là chỉ có người lãnh-đạo mới có thể và có quyền nhân-danh tổ-chức để ghi nhận cám ơn nhân-viên trực-thuộc. Nói một cách khác, nguyên-lý điều-hành này có nghĩa là chỉ có người lãnh-đạo mới đóng đúng vai-trò nhận-định ghi ơn được thôi. Như vậy có nghĩa là nếu một nhân-viên được biết hãng hoặc tổ-chức ghi nhận cám ơn những cố-gắng và thành-quả của mình, tiếng nói đó phải phát-xuất từ văn-phòng giám-đốc quản-trị. Chỉ có người lãnh-đạo mới có thể chính-thức tác-động guồng máy thành-công, Người lãnh-đạo khải-đạo có thể cảm thấy khó thực-hiện điều này, do đó nên học hỏi hành-động của người lãnh-đạo NF trong lãnh-vực này.

    a.) ưu-điểm (điểm mạnh) của người lãnh-đạo NT
    Người lãnh-đạo chỉ-đạo là kiến-trúc-sư tạo nên thay đổi. Họ chú ý đến những nguyên-lý xây dựng nên cơ-cấu tổ-chức. Nếu như người SJ là bi-quan, thì người NT là nghi-ngờ. Họ điều-tra vặn hỏi mọi sự mọi lẽ, và chỉ trả lời căn cứ trên luật-lệ và nguyên-tắc. Họ có thể nhìn thấy đủ mọi chiều kích, tầm thước của hệ-thống y như họ có kính hiển-vi vậy, để rồi họ có thể đặt kế-hoạch và xây dựng. Cách riêng, họ có thể nhìn thấy những nhu-cầu hiện-tại của hệ-thống họ điều-khiển cũng có liên-hệ với toàn bộ hệ-thống khác trong tổ-chức. Họ nhìn thấy những liên-hệ của hệ-thống cũng như những hậu-quả dài hạn ngắn hạn sẽ xẩy đến và những hành-vi cử-chỉ thiên-hạ sẽ đáp lại. Người lãnh-đạo NT chú tâm đến những gì có thể xẩy ra. Những gì đang xẩy ra trong hiện-tại có thể sẽ thay đổi và nên thay đổi vì hiện-tại chỉ là tàn dư của quá-khứ. Khi họ gia-nhập một tổ-chức, họ có thói nhận-định ra ngay cơ-cấu tổ-chức hành-chánh và trung-tâm quyền-hành, và dĩ nhiên là từ một quan-điểm thật vô-tư. Mẫu người lãnh-đạo này thường là những nhân-tài về trí óc và có thể khám-phá những lãnh-vực kỹ-thuật và hành-chánh.

    b.) khuyết-điểm (điểm yếu) của người lãnh-đạo NT
    Khi người lãnh-đạo kỳ-vọng ở trong giai-đoạn sáng-tạo, họ có rất nhiều nghị-lực kinh-khủng, nhưng một khi lâu-đài đã vẽ xong, họ chỉ muốn một người khác đem dự-án ra thực-hiện và xây-dựng mà thôi. Hâïu-quả là họ có thể nhận thấy kiểu mẫu và kế-hoạch không được thực-hiện như họ mong muốn. Ít khi họ phê-bình ai khác hơn là chỉ-trích chính mình, nhưng rồi họ lại có khuynh-hướng lặp đi lặp lại cũng một lỗi lầm để rồi dễ mất hứng trong dự-án kế-tiếp. Điều này thật đúng với mẫu người NTP. Người NTJ cũng có khuynh-hướng tương-tự nhưng thường ở vào giai-đoạn trễ hơn.

    Vì lẽ người lãnh-đạo kỳ-vọng chỉ chú-tâm tới nguyên-lý, nên có khi họ tỏ ra không ý-thức được tình-cảm của người khác, và vì thế, thường không để ý đến niềm vui nỗi buồn của người khác. Chính vì vậy ai cũng cho rằng người lãnh-đạo như vậy lạnh lùng xa cách và khó có thể để cho người khác dễ dàng lui tới. Các cộng-sự-viên cũng có thể cảm thấy khó chịu không dám góp ý-kiến gì trong các công việc xẩy ra thường ngày trong cuộc sống, và vì thế mà người lãnh-đạo NT có thể bi cô-lập, không còn liên-hệ gì với người khác ngoài công ăn việc làm. Hậu-quả là người lãnh-đạo NT không biết ăn nói cư-xử làm sao trong mấy dịp xã-giao nho nhỏ cũng như những câu chuyện nhàn-đàm hàm-tiếu.

    Người lãnh-đạo NT có khuynh-hướng trí-thức và có thể vô-tình truyền-đạt một thái-độ coi thường những người trên kẻ dưới không thông-minh như họ. Họ có thể khó thông-cảm với người khác vì họ muốn người khác cũng phải thông thạo, có khả-năng, thành-công trong mọi lãnh-vực như họ. Người lãnh-đạo kỳ-vọng mong muốn rất nhiều nơi chính mình cũng như nơi người khác, và có khi nhiều hơn là thực-tế, nên họ cần phải được nhắc nhở rằng những ai có nhiều ưu-điểm, tất nhiên cũng phải có những khuyết-điểm nữa. Bởi lẽ người lãnh-đạo NT có khuynh-hướng đặt mục-tiêu tiệm-tiến cho mình cũng như cho người khác, họ hay tỏ ra nôn nao và không bao giờ vừa ý. Tính nôn nao này đôi khi được biểu-lộ qua hình-thức không kiên-nhẫn đủ qua lời nói, khi người lãnh-đạo NT sai lầm khiếm-khuyết hoặc trì-trệ, và cũng có khi qua việc thảo-luận lui tới cùng một vấn-đề đă qua.

    c.) cách đặc-biệt giao-thiệp với đồng-nghiệp
    Người lãnh-đạo NT có biệt-tài theo dõi và suy-diễn đường lối lý-luận và cách-thức suy-tư của người khác một cách dễ dàng, và họ thích làm như vậy. Họ đáp-ứng lại các tư-tưởng mới của đồng-nghiệp, và lấy làm phấn-khởi về các tư-tưởng của mình. Họ lấy làm thích-thú được giải-quyết vấn-đề khúc-mắc , và khi đồng-nghiệp có một vấn-đề gì, họ cảm thấy được vấn-đề đó làm cho hăng-hái hơn là bị đè bẹp. Họ có đủ can-đảm để chứng-minh những gì họ tin-tưởng, và sẵn sàng một mình ‘đứng mũi chịu sào’ chống lại tất cả đám đông, nếu như họ tin rằng chính mình họ có lý.

    Người kỳ-vọng, kiến-trúc-sư xây-dựng thích có những quyết-định, đặc-biệt là người NTJ, tuy nhiên cộng-sự-viên chỉ biết được lập-trường của người kỳ-vọng với điều-kiện phải hỏi han họ. Người NT cho rằng lập-trường của họ thật rõ ràng minh-bạch, do đó đâu có cần chi phải nói cho thành lời: nhưng nếu họ được hỏi ý-kiến, ta có thể tin được lời nói của họ là thành-thật. Nếu có ai khác nói về lập-trường của họ thay cho họ, họ sẽ tỏ ra khó chịu bên trong, cho dù họ không tỏ gì ra bên ngoài. Thông thường ai phát-biểu dùm cho họ, thường đoán mò một cách sai lầm lập-trường của họ.

    Thỉnh thoảng người lãnh-đạo NT tỏ ra khác người, không theo quần-chúng, đi trước dư-luận, nên khó được công-chúng ủng-hộ, và ít khi có được một nhóm đệ-tử dấn-thân đi theo. Họ có khuynh-hướng ở phía trước mũi tên tiến-tới, nên ít khi ngoảnh lại sau lưng xem có ai theo kịp mình hay không. Họ tự-lực cánh-sinh, nên họ không cần phải so sánh chèn ép ai. Ít khi người NT tin rằng họ phải tiến lên để người khác phải thua thiệt. Ít khi họ chứng tỏ cần phải tỏ ra nhu-cầu coi thường phần đóng góp của đồng-nghiệp.

    Người lãnh-đạo kỳ-vọng là một người có biệt-tài quyết-định cũng như ghi nhớ và tôn-trọng các quyết-định cho dù bị áp-lực nặng nề. Trong một tổ-chức, người kỳ-vọng là người phác-họa ra các ý-tưởng . Bởi lẽ họ có thể tưởng-tượng phác-họa ra các hậu-quả do các nhân-viên đề-nghị đóng góp, họ cảm thấy thoải mái làm việc trong một hệ-thống quản-trị chủ-tâm đến kết-quả hơn là phương-thức. Người lãnh-đạo NT , giám-đốc hay sản-xuất, có thể rời khỏi tổ-chức trên thực-tế hoặc trong tâm-tư, nếu tài-năng của họ không được sử-dụng đúng mức.

    d.) phần đóng góp trong ban lãnh-đạo
    Nếu như ban giám-đốc quản-trị không có một người kỳ-vọng kiến-trúc xây-dựng, ít khi tổ-chức có gì thay đổi và trước sau gì cũng sẽ bị sa sút. Tình-trạng dậm chân tại cho sẽ đưa tới tình-trạng lỗi thời. Người lãnh-đạo NT có thể đóng góp cơ-cấu tổ-chức lý-thuyết và phát-triển các mô-thức hữu-dụng để hành-động đúng mức. Các cơ-cấu tổ-chức do người lãnh-đạo NT phát-hiện thường thích-hợp để tạo nên lợi-ích cho toàn bộ hệ-thống cũng như hệ-thống trực-tiếp liên-hệ. Họ có thể vừa ủng-hộ vừa thích-thú các ý-tưởng của người khác cũng như của chính mình, và thông thường, họ có thể lãnh-đạo cũng như đi theo tùy như hoàn-cảnh tạo nên. Một phần-tử NT trong ban giám-đốc quản-trị có thể muốn dành quá nhiều thời-giờ để đặt kế-hoạch mà không chịu thực-hiện, nhưng một phần-tử SP có thể cung-cấp một tác-động thích-hợp.

    4.- người lãnh-đạo nhân-fẩm NF
    Mẫu cuối cùng của người lãnh-đạo là một người xúc-tác vì biệt-tài của họ là dễ thương dễ mến. Người lãnh-đạo NF có khả-năng phát-hiện các ưu-điểm của mỗi người, và họ luôn luôn có khuynh-hướng chú-trọng tới nhân-vị con người. Chủ-tâm của họ không phải là tổ-chức này nọ, vì tổ-chức chỉ là dụng-cụ đối với người NT và SJ, và chỉ là tạm-thời đối với người SP. Có nghĩa là họ chủ-tâm tới từng cá-nhân một trong tổ-chức. Họ tỏ ra thân-tình cẩn-mật trong cách giao-tiếp giữa người với người, và có khuynh-hướng muốn dấn-thân thật nhiều để giúp cho những người xung quanh được tiến-bộ, và lúc nào họ cũng ý-thức được các khả-năng nghề-nghiệp của người khác, và muốn cho mỗi người phát-triển và thăng-tiến. Nói như vậy họ giống như một chất xúc-tác hóa-học, có công-dụng làm môi-giới cho các hóa-chất khác được phản-ứng với nhau. Mỗi cá-nhân khi gặp được người lãnh-đạo như vậy, cảm thấy như mình bị thu-hút, hấp-dẫn để rồi phát-hiện ra các khả-năng của mình.

    Khi người lãnh–đạo NF có người khác chung quanh mình, họ chứng-tỏ họ muốn giúp người khác phát-triển khả-năng, và như thế họ chủ-tâm phát-hiện khả-năng của các nhân-viên, và coi cơ-cấu tổ-chức như tùy thuộc. Người NF là người lãnh-đạo tất-nhiên của một tổ-chức dân-chủ, và đương nhiên họ luôn là thành-phần tham-dự. Ưu-điểm của họ là có một đường lối êm đềm theo tình người, mà các văn-kiện sự việc chỉ là hậu-quả tất-hữu hơn là mục-tiêu phải có. Người lãnh-đạo xúc-tác cảm thấy thoải-mái làm việc trong bầu-khí dân-chủ, và dễ cảm-thông với mọi người, sẵn sàng chịu khó lắng tai nghe người khác tâm-sự các rắc rối của cuộc sống, và thành-thật muốn quan-tâm đến các vấn-đề của người khác. Thỉnh thoảng người lãnh-đạo xúc-tác nhận thấy rằng việc ‘ăn cơm nhà, vác ngà voi’ này chỉ làm cho họ mất hết nghị-lực. Đúng là ‘việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng’!

    Người lãnh-đạo NF có tài ăn nói lưu-loát hoạt-bát, nên có thể là phát-ngôn-viên hữu-hiệu cho tổ-chức của mình. Họ là người có biệt-tài xuất-sắc trong việc ghi nhận biết ơn người khác. Họ luôn luôn lúc nào cũng tìm thấy cái hay cái tốt của người khác để đáp-ứng theo đó và truyền-đạt cho người khác biết họ đã nhìn nhận ra ưu-điểm của người ta. Người NF xúc-tác lắng nghe cẩn-thận, chú-ý và dùng lời nói ngôn-từ cũng như cử-điệu rất nhiều để người nghe ý-thức được rằng họ có giá-trị vì họ đáng được quan-tâm cẩn-thận và đầy đủ. Người NF xúc-tác có biệt-tài về khoa ăn nói, hình như biết rõ lúc nào nên nói lúc nào không, nên chi họ dùng đúng dịp để biểu-lộ tâm-tình thích-hợp của họ.

    Người lãnh-đạo xúc-tác NF chủ-tâm đến việc con người phát-triển, nên lấy làm quý-trọng những lời khen tặng chấp-thuận cho chính mình cũng như cho đơn-vị việc làm của mình. Theo diễn-tiến đó, họ sẵn sàng nhường ý-kiến sở-thích của mình để theo ý-kiến sở-thích của người, đến độ đôi khi họ chẳng còn gì cho mình bao nhiêu: giá-trị và ưu-tiên của người khác hầu như xóa tan giá-trị và ưu-tiên của họ rồi vậy. Ưu-tiên của người khác rất dễ vượt lên trên ưu-tiên của người lãnh-đạo xúc-tác NF, bởi lẽ chính khuynh-hướng của họ là đặt nhu-cầu của người khác trước nhu-cầu của chính mình. Cũng giống như người lãnh-đạo SJ, người lãnh-đạo NF rất dễ bị thấm mệt đến độ ít khi họ cảm nhận được một phần thưởng nhỏ mọn nào cho công việc họ đã làm. Dĩ nhiên chỉ có một cách để tránh điều không hay, đó là thỉnh thoảng người lãnh-đạo NF phải kiểm-điểm lại chủ-đích, ưu-tiên, mục-tiêu và lý-do của mình để xem mình có tiến-hành theo đúng chiều-hướng không.

    Người lãnh-đạo NF bao gồm người ENFJ nhà giáo là mẫu người lãnh-đạo tự-nhiên nhất của nhóm này, và cả người ENFP nhà báo, INFP nhà chinh-phục, còn INFJ tác-giả phải hành-động cam go hơn để đóng đúng vai-trò lãnh-đạo. Việc chính-yếu họ thèm khát là tìm kiếm con người thực của mình qua việc nhận-diện được con người mình và hoàn-thành toàn-thân. Họ có điều đặc-biệt là thích lý-tưởng, có khả-năng thu-hút hấp-dẫn và rất mực hòa-đồng thông-cảm, và cũng có tài bi-kịch-hóa một sự kiện sinh-hoạt bình-thường trở thành một điều đặc-biệt phi-thường.

    a.) ưu-điểm (điểm mạnh) của người lãnh-đạo NF
    Đường lối lãnh-đạo và quản-trị của người xúc-tác NF có tính cách đặc-biệt là do khả-năng hấp-dẫn cá-nhân và do thái-độ dấn-thân cho những người họ muốn lãnh-đạo. Họ thường có mồm có miệng uốn nắn 3 tấc lưỡi dẻo như bún, và dùng lời nói để chứng-tỏ họ săn sóc chăm-chú. Thỉnh-thoảng họ tỏ ra có khả-năng biết nhìn nhận ra những điều có thể thực-hiện được trong tổ-chức của họ hoặc trong những người họ phục-vu, bằng cách chỉ chú-ý đến những điểm hay điểm tốt của người. Họ có biệt-tài làm việc với người khác và qua người khác, và với tư-cách là đầu một tổ-chức dân-chủ, họ để cho mọi người trong tổ-chức được tự-do tự-nguyện đóng góp. Thông thường họ cảm thấy thoải-mái hội-họp, không quá câu-nệ hình-thức và cơ-cấu tổ-chức. Đa-số họ bén nhạy chính-xác về bầu-khí của tổ-chức. Họ có khuynh-hướng kiên-nhẫn đối với các tình-trạng phức-tạp và sẵn lòng chờ đợi cho đúng lúc mới tiến-tới. Người xúc-tác NF có thể đứng đầu một tổ-chức thật xuất-sắc, một người lãnh-đạo xứng-đáng, biết nói hay về tổ-chức của mình, nói tốt về những người trong tổ-chức. Họ thường có một nguồn năng-lực hầu như vô-tận, mặc dầu có lúc hình như chỉ có một kích-thích nhiệt-tình mới làm cho họ bộc-phát năng-lực ra. Tới độ này những dự-tính hôm qua không cần-thiết nữa.

    Vào lúc cao-điểm nhất người lãnh-đạo NF thường có tài hơn các mẫu tính tình khác để nhận ra rằng họ có thể dùng các nguy-cơ mà tạo thành cơ-hội quý-giá, đặc-biệt là khi phải đối-phó với những vấn-đề con người. Họ rất dễ quên đi các điều tiêu-cực của ngày hôm qua, các biến-cố xui xẻo, để chỉ nhớ đến những gì dễ chịu, có khuynh-hướng tỏ ra lãng-mạn trong tương-lai cũng như quá-khứ, luôn tỏ ra lạc-quan khi xuất-đầu lộ-diện nơi công-chúng. Thông thường họ che giấu những bi-quan, vì muốn cho người khác không phải chia sẻ những khó chịu do những lần xui xẻo đó gây nên.

    Người lãnh-đạo xúc-tác NF có khuynh-hướng là con người biết nhìn nhận ghi ơn hơn ai hết. Họ dùng thiện-cảm, thái-độ lắng nghe, chấp-thuận để làm việc với người khác. Bởi vì họ cho đi khá nhiều, họ cũng cần người khác cung-cấp nhu-cầu cho họ bằng cách người khác phải biết tỏ ra thiện-cảm, lắng nghe và chấp-nhận họ. Nếu họ nhận được như thế, họ sẽ tiếp-tục đóng góp nhiều hơn nữa. Nếu như họ không nhận được chút nào, hoặc giả thử họ bị chê bai, có thể họ bị mất can-đảm mà đi tìm một hình-thức nhìn nhận nào đó ngoài tổ-chức. Họ chân-nhận giá-trị lời khen tặng từ phía đồng-nghiệp, kẻ trên người dưới và thực sự quý-trọng ý-hướng của người khen, cho dù việc này chỉ đến qua người thứ ba (đệ-tam-nhân). Người lãnh-đạo xúc-tác NF dễ được kích-thích qua các lời tích-cực hơn là tiêu-cực, có khuynh-hướng nhìn thấy khía cạnh tích-cực nơi người ta cũng như các sự-kiện.

    b.) khuyết-điểm (điểm yếu) của người lãnh-đạo NF
    Người lãnh-đạo NF có thể nhận thấy rằng các ưu-điểm của người khác chiếm hết thời-gian của họ, bởi lẽ họ đáp-ứng tất cả các liên-hệ giữa người với người, và quả thực họ còn đi tìm kiếm các liên-hệ đó nữa. Người xúc-tác có khuynh-hướng hy-sinh rất nhiều thời-giờ, đến độ chểnh mảng và bỏ bê các nhiệm-vụ ngoài tổ-chức của họ, và có thể bỏ luôn cả thời-giờ cần-thiết phải giải-trí nữa. Họ rất cần phải dành dụm thời-giờ để cải-tân chính mình, nếu như họ không muốn rơi vào tình-trạng hết nghị-lực, trở nên vô-ích và bất-lực.

    Người lãnh-đạo xúc-tác NF có thể nhận thấy mình đã đưa ra những quyết-định hành-chánh chỉ tựa vào những gì cá-nhân mình thích hoặc không thích, chứ không căn-cứ vào những gì là tốt nhất cho tổ-chức. Cũng có khi họ cảm thấy bị giằng co giữa nhu-cầu của kẻ dưới và yêu-cầu của người trên, bởi lẽ họ tỏ ra nhậy cảm với nhu-cầu của kẻ dưới hơn. Có thể họ nhìn thấy mình trở nên người tranh-thủ cho cả hai nhóm đối-lập, bởi lẽ họ lắng nghe cả hai nhóm với tất cả nhiệt-tình và hiểu biết. Dĩ nhiên phe nào cũng kết-luận rằng người NF theo phe của mình, vì tưởng rằng người NF lắng nghe với thái-độ thông-cảm chấp-nhận đồng-ý. Sự thực người NF bén nhậy với tình-cảm của người khác, nên rất dễ bị hiểu lầm, vì lúc nào cũng muốn làm đẹp lòng mọi người. Nếu đơn-vị của họ bị người trên chỉ-trích hoặc có điều gì không ổn, họ có thể mất lòng tự-tin một cách dễ dàng, nghĩ rằng thất-bại của người khác cũng là thất-bại của chính mình.

    Người lãnh-đạo NF có khả-năng tạo dựng một bầu-khí thích-hợp để những người trong ban giám-đốc quản-trị được tự-do tự-lập và sáng-tạo. Dĩ nhiên bầu-khí đó làm cho đơn-vị phát-triển và thăng-tiến, nhưng đôi khi hậu-quả của tự-do, tự-lập và sáng-tạo là các mệnh-lệnh không được thi-hành đúng mức: người lãnh-đạo NF phải chấp-nhận sự thực phũ phàng đó. Điều này có nghĩa là hoàn-cảnh làm việc không thuận-lợi cho họ. Một nguy-cơ nữa đối với người lãnh-đạo NF là họ có khuynh-hướng tránh né những gì không đẹp, với hy-vọng rằng may ra những điều không đẹp sẽ tự-động không cánh mà bay, họ khỏi cần đối-phó trực-tiếp mà chỉ cần thời-giờ để chờ-đợi. Đôi khi họ nhận thấy rằng vì họ đã chọn con đường dễ dàng tạm thời chờ-đợi để rồi rút cục hậu-quả là có những vấn-đề lớn hơn, trong tổ-chức cũng như trong liên-hệ giữa người với người. Họ có thể nhận thấy mình cứu các nạn-nhân của hệ-thống, và vì thế mắc phải mâu-thuẫn với lòng chân-thành đối với tổ-chức cũng như những người trong tổ-chức. Mặc dầu họ cố-gắng hết sức để tránh điều trên, người lãnh-đạo NF cũng nhìn thấy mình tạo nên liên-hệ lệ-thuộc. Người khác sẽ tựa vào họ để được nâng đỡ và chỉ đường dẫn lối, có khi là vô-cớ, để rồi người NF mất hết nghị-lực vì chú-ý quá nhiều. Thông thường người xúc-tác NF không hiểu lý-do tại sao lại xẩy ra như vậy, và thắc mắc ngỡ ngàng không biết phải làm gì để tránh tình-trạng đó xẫy ra cho người khác.

    c.) cách cư-xử đặc-biệt đốùi với đồng-nghiệp
    Người lãnh-đạo NF đối-xử với đồng-nghiệp thật khéo léo và được nhiều đồng-nghiệp mộ mến. Họ muốn có những tiếp-xúc cá-nhân và đi tới người để được như vậy, đặc-biệt là người NF hướng-ngoại. Họ xã-giao, thích liên-hệ với nhân-viên, khi làm việc cũng như khi vui chơi. Họ tìm hiểu thường-xuyên các nhân-viên và biết thật rõ các vấn-đề như tình-cảm, sở-thích, cuộc sống của mỗi nhân-viên. Họ tìm cách liên-hệ thân-tình với đồng-nghiệp và nhận thấy công việc của họ tạo nên nguồn vui thỏa xã-giao cũng như khiến cho nơi làm có giá-trị sản-xuất.

    d.) phần đóng góp vào tinh-thần đồng-đội
    Người lãnh-đạo xúc-tác NF sẽ đóng góp khía cạnh thân-tình, liên-hệ giữa người với người vào ban giám-đốc quản-trị, và có thể nói lên các hậu-quả nhân-bản của kế-hoạch mà các mẫu tính tình khác không nói được. Nếu một tổ-chức không có một người lãnh-đạo NF trong ban giám-đốc quản-trị, các thành-viên trong tổ-chức sẽ dễ nhận thấy bầu-khí lạnh nhạt, cằn cỗi, không thân-tình, thiếu vui tươi, dễ buồn chán, và sẽ than phiền vì thiếu tình bạn. Tinh-thần đồng-đội sẽ xuống thấp và lòng phấn-khởi cũng chỉ ở mức tối-thiểu. Mặc dầu hệ-thống có đủ mọi sự kiện thật hoàn-hảo, có thể những người trong hệ-thống không được sử-dụng tới mức tối-đa. Nhiều điểm giao-động có thể được an-toàn khi có người lãnh-đạo xúc-tác cho vào một chút dầu mỡ.

    Người lãnh-đạo xúc-tác NF thật tuyệt vời khi liên-hệ giao-tế công cộng, xứng đáng là phát-ngôn-viên xuất-sắc của tổ-chức, vì họ cảm thấy thích-thú khi dùng lời ăn tiếng nói để truyền-thông. Họ làm việc hữu-hiệu với mọi mẫu người và có thể khuyến-dụ thân-chủ thích tổ-chức của họ.

    Những ai làm việc với người lãnh-đạo xúc-tác cũng thường cảm thấy an-vui thoải-mái về tổ-chức của họ và về vai-trò chỗ đứng của họ trong tổ-chức. Nếu người lãnh-đạo xúc-tác được tự-do để sáng-tạo và quản-trị, họ có thể tiến tới rất nhiều; trái lại nếu họ bị bắt buộc phải theo quá nhiều luật-lệ tiêu-chuẩn để hành-động, họ có thể sẽ bị chán-nản. Những ai sống bên cạnh người lãnh-đạo xúc-tác cũng có khuynh-hướng muốn trung-thành với họ, cho dù có khi như thế là bất-lợi cho nhu-cầu, ưu-tiên và tình-trạng của tổ-chức.

    Trong ban giám-đốc quản-trị, ai cũng thích làm việc với người NF, và nhận thấy họ dễ dàng hợp-tác và chú-ý đến quan-điểm của mình. Cũng giống như người SP, họ có điểm đặc-biệt là tạo môi-trường làm việc thành nơi vui thích.

  13. CHƯƠNG 5

    tính tình
    nơi người lãnh đạo

    III.- TRỞ-NGẠI KHÓ CHO THAY ĐỔI
    Mỗi mẫu người lãnh-đạo đều có một đóng góp độc-nhất và đặc-biệt vào tình-trạng làm việc. Người SJ có khuynh-hướng giúp cho cơ-sở vững bền và tạo niềm tin-tưởng. Người SP là những người giải-quyết vấn-đề tuyệt-vời và tạo nên thích-thú. Người NT cung-cấp hoài-bão tương-lai và các mẫu mực lý-thuyết để thay đổi. Người NF thêm dầu mỡ vào guồng máy tổ-chức để mọi sự được trơn tru, và có thể dự-đoán các hậu-quả xã-hội về các mẫu mục của người NT.

    Muốn sử-dụng ưu-điểm một cách hữu-hiệu, mỗi người phải hiểu biết đường lối quản-trị của mình. Thế nhưng đường lối quản-trị mới là một nửa phần hành-động và liên-hệ. Cách-thức người dưới liên-hệ phản-ứng cũng là một chiều-kích quan-trọng để tạo nên thành-quả tốt đẹp của người lãnh-đạo. Chương 2 đã diễn-tả đầy đủ chi-tiết về 4 cách-thức và 16 mẫu tính tình. Tuy nhiên giờ đây cũng nên nói thêm một ít chi-tiết hữu-ích nữa. Chúng ta sẽ thảo-luận về những nhận xét của ông Seeland, 1975: ông phân-tích những trở-ngại gò bó của mỗi mẫu tính tình trong vấn-đề thay đổi, cũng như ông đề-nghị chiến-thuật giúp thực-hiện việc thay đổi thích-hợp cho mỗi mẫu tính tình.

    1.- nơi người nhân-fẩm NF
    Phát-ngôn-viên trong các nhóm thuộc ban giám-đốc quản-trị thông thường là từ mẫu người NF, nhất là ENFP nhà báo và ENFJ nhà giáo: họ có biệt-tài khuyến-dụ, ăn nói khéo léo, hoạt-bát, thu-hút đồng-nghiệp qua các lập-trường đầy cảm-xúc tâm-tình. Người NF có khuynh-hướng cho mình và các đồng-nghiệp là những chuyên-viên có khả-năng, được huấn-luyện đầy đủ về khoa nhân-văn, hiểu biết nhu-cầu của nhân-loại nói chung và của các thân-chủ nói riêng. Họ thường không tỏ ra tài quản-trị theo cùng một kiểu. Tự mình định-liệu là một yếu-tố chủ-yếu trong môi-trường làm việc của người NF. Tự-lập được coi như là một giá-trị độc-nhất chứng-tỏ con người của mình. Họ tỏ ra cực-kỳ nhậy cảm, cho dù chỉ có hơi bóng gió một cơ-cấu đề-nghị, hoặc một ý-niệm độc-đoán, hoặc bất cứ một cử-chỉ nào của ban giám-đốc quản-trị mà họ coi như là xâm-phạm cá-nhân. Hình như không một tổ-chức nào có thể thay đổi được toàn-bộ nếu không có nhóm NF ủng-hộ.

    Biết rằng người NF cần được nhìn nhận với tính cách cá-biệt của họ cũng như giá-trị cá-nhân của họ, và biết rằng họ sẵn sàng dấn-thân cho các thủ-tục dân-chủ, muốn được họ ủng-hộ, chỉ có cách phải cho họ tham-gia vào các quyết-định, nhất là đường lối quản-trị tập-thể. Nếu như việc thay đổi là một việc có liên-quan đến giá-trị nhân-bản, có ảnh-hưởng đến nhu-cầu cá-nhân của nhân-viên và thân-chủ, người NF sẽ nhìn nhận nên hoặc không nên thay đổi. Họ cần phải có cơ-hội dài lâu để bàn-luận về việc thay đổi trước khi thực-thi. Người NF không bao giờ muốn thay đổi bất-thần, mà chỉ muốn thay đổi từ từ. Nguyên-tắc quản-trị vàng ngọc lâu đời ‘không có chuyện sét đánh bất-ngờ’ hoàn toàn hiệu-lực đối với người NF.

    2.- nơi người chịu (siêng) làm) SJ
    Cũng như người NF trong các nhóm đoàn-viên, người SJ có khả-năng tạo nên ảnh-hưởng rất cao. Họ có đặc-điểm ăn to nói lớn và luôn sẵn sàng phát-biểu ý-kiến cho dù khác với cách-thức phát-biểu của người NF. Người SJ có khuynh-hướng chủ-tâm đến các vấn-đề thủ-tục, các cách-thức hành-sự hơn là các giá-trị nhân-bản. Họ không tỏ ra nhậy-cảm đối với đường lối quyền-hành như người NF. Người SJ thích được vững-tâm qua quyền-hành ổn-định, và đôi khi hơi khó chịu về cách xử-sự của người NF đối với quyền-bính. Người SJ không có khuynh-hướng dàn cảnh như người NF, nên thường bị người NF gây ảnh-hưởng.

    Muốn người SJ ủng-hộ thay đổi một việc gì, trước hết phải để cho họ có trách-nhiệm và có dịp được phục-vụ, được bảo-vệ truyền-thống, và đối-phó với tình-trạng hiện thời. Cho người SJ biết những sự kiện đưa đến thay đổi sẽ làm cho họ dễ cộng-tác hơn. Ngoài ra nếu cần phải thay đổi để có được đường lối tốt đẹp hơn, kết-quả hơn, hoặc để cho thủ-tục khá hơn, người SJ sẽ chấp-thuận ngay vì nhận thấy có lý. Ngược lại với người NF thích lời nói để thảo-luận, người SJ cần có sự kiện trên giấy trắng mực đen diễn-tả sự thay đổi. Thực-tế là họ có khuynh-hướng tỏ ra không kiên-nhẫn với các cuộc tranh-luận, nhất là những cuộc tranh-luận dài dòng và lặp đi lặp lại. Nếu người SJ được tham-gia vào việc viết cuốn thủ-tục để thay đổi, họ sẽ lấy làm rất sung sướng và cũng sẽ tỏ ra khả-năng thiết-lập được một văn-kiện thấu-đáo và có lý.

    3.- nơi người nghiêm-túc (năng tiến) NT
    Thông thường người NT chỉ bao gồm một nhóm thiểu-số đoàn-viên. Thường thường họ tỏ ra không có ảnh-hưởng trông thấy trong vai trò lãnh-đạo, nhưng lại là một sức mạnh đáng kể trong hậu-thuẫn hậu-trường. Họ được đồng-nghiệp kính-nể vì họ làm chủ được khía cạnh kỹ-thuật và thực-tế của cơ-sở tổ-chức. Họ sống theo lý-luận và ít khi chống lại thay đổi nếu biết rõ những chi-tiết thực-hành. Người NT sẵn sàng đón nhận ý-kiến của người khác và nhận thấy không cần phải dài dòng bàn cãi như người NF, để thay đổi một việc gì. Người NT cũng không cảm thấy bị đe dọa hoặc được phấn-khởi bởi quyền-bính chỉ-định như người SJ. Chức-tước chẳng có nghĩa-lý gì bao nhiêu đối với họ, tuy nhiên uy-tín thực sự do khả-năng mới có giá-trị, và điều này áp-dụng đúng cho mọi người lãnh-đạo. Người NT thường tránh xa, không theo đường lối vị-trí của người NF đồng-nghiệp, và thường không tranh-đấu vì một vấn-đề gì. Họ chỉ tranh-đấu khi có vấn-đề đi ngược lại lương-tri và công-tâm.

    Muốn được người NT ủng-hộ sự thay đổi, phải hiểu nhu-cầu của họ là nhìn thấy khả-năng của mình cũng như của người. Cách tốt nhất để kêu gọi họ ủng-hộ là đề cao trí óc khả-năng của họ. Một trong các cách thực-hiện được như vậy là mời gọi họ phác-họa ra kiểu mẫu thay đổi. Những thay đổi mà người NT tra tay đề-nghị dĩ nhiên sẽ được họ ủng-hộ nhiệt-tình.

    4.- nơi người chịu chơi (sống phê) SP
    Người SP có khuynh-hướng coi thường luật-lệ của bất cứ hệ-thống nào vì họ thích tinh-thần phóng-khoáng tự-do, một mình một cõi tung-hoành. Ít khi họ muốn dấn-thân vào việc chung của tổ-chức, và vì thế ít khi họ có ảnh-hưởng gì tới việc thay đổi. Chỉ khi nào có một cơn khủng-hoảng, người SP mới chịu huy-động nghị-lực ra tay hành-động, và vì thế việc họ đóng góp vào sự thay đổi cũng chỉ là đột-xuất không có dự-tính trước. Chính vì vậy chẳng cần có chiến-lược để được người SP ủng-hộ một sự thay đổi có dự-trù; tuy nhiên kể như là có thể tin họ sẽ ủng-hộ phấn-khởi những thay đổi không có tính toán trước, và có khuynh-hướng tự mình thay đổi tùy ý tùy hứng.

    IV.- TÍNH TÌNH TRONG VIỆC GIÁO-HUẤN
    Nhiều khu học-chính ở tiểu-bang California đã cho biết việc phân-phối các mẫu tính tình trong ban giảng-huấn và quản-trị tương-đối khá đồng đều (một vài khu học-chính có hơi khác một chút khi có ban quản-trị NT):

    nhân-sự học-sinh & sai-biệt (giảng-huấn & quản-trị) quần-chúng SJ 56% 38% +18% NF 36% 12% +24% NT 6% 12% -6% SP 2% 38% -36%

    Bản thống-kê đó hình như cho biết ảnh-hưởng hành-động của mỗi cá-nhân ban giảng-huấn và quản-trị.

    Trước hết giáo-chức SJ và quản-trị SJ không cảm thấy nhu-cầu cần phải bênh-vực quan-điểm, lời giảng-huấn hoặc đường lối hành-chánh của mình, cho dù có lúc nên hành-động như vậy. Đại-đa-số giáo-chức là SJ , nên vô-tình họ đã chấp-nhận quan-điểm của họ là khuôn mẫu và rất ngạc-nhiên khi có đồng-nghiệp đặt vấn-đề với họ về căn-bản, nền tảng giáo-dục. (Nền tảng căn-bản của giáo-huấn thường là 3 chữ R bằng Anh-ngữ Reading, (w)Riting, và (a)Rithmetic: biết đọc biết viết và biết tính, có nghĩa là kỹ-thuật văn-phòng. Thỉnh thoảng có người thêm vào lãnh-vực của NT như triết-lý, luận-lý và cứu-cánh-luận). Quan-niệm của họ đều được đa-số quần-chúng công-nhận, không phải chỉ được đa-số đồng-nghiệp hoặc ban quản-trị, mà còn được đa-số phụ-huynh tán-thành. Nên nhớ rằng đa-số phụ-huynh đi họp Hội Phụ-huynh cũng lại thuộc mẫu tính tình SJ.

    Thế nhưng nhóm NF ở học-đường thì nhiều hơn nhóm NF ở trong quần-chúng, nên họ ăn nói mạnh bạo, mặc dầu họ ý-thức được như vậy, bởi lẽ nhóm NF biết được nhóm SJ chiếm đại-đa-số. Giáo-chức NF tin-tưởng rằng phải tìm kiếm nhân-vị bản-ngã của mình, và họ sẽ không bao giờ rút lui từ-bỏ mà không nói về vấn-đề đó. Dĩ nhiên thỉnh thoảng một người NF cũng bị rơi vào tình-trạng đơn-thương độc-mã một mình giữa nhóm SJ. Trong trường-hợp này, họ giữ im lặng bởi vì họ không được ai ủng-hộ quan-điểm của họ.

    Trong khi đó, cả trường mới chỉ có 1-2 người NT, nên họ đứng ngoài lề chầu rìa không dính líu gì vào việc giằng co tư-tưởng cả. Họ buồn cười, thắc mắc, nghi ngờ, không dính líu, và tự hỏi sao mấy nhóm người kia lại phải loạn-xà-ngầu xào xáo với nhau mà không chịu lo vấn-đề giáo-dục thực sự của học-sinh, nghĩa là phát-triển khả-năng trí-thức của học-sinh. Còn người SP cô-độc chỉ đứng ngoài chầu rìa vì đa-số các trường không có nổi một mống giáo-chức SP đâu. Họ chẳng hay biết gì về vụ giằng co tư-tưởng nữa. Họ chỉ biết lo việc bổn-phận của mình, quên cả luật-lệ và chương-trình học nữa.

    Cũng nên để ý rằng thỉnh thoảng khu học-chính lại theo lịch-trình trở về nền-tảng căn-bản của học-trình, có nghĩa là nhóm SJ trở nên làm đầu tầu lái và có ý sẽ đảo ngược lại các con đường nội-địa do chương-trình của nhóm NF tạo dựng để hình-thành con người toàn-diện. Cứ như thế chu-kỳ diễn-tiến:

    HỌC-ĐƯỜNG thời-gian tiếp-diễn căn-bản tự-quản 1940 1950 1960

    Giả-dụ như giáo-chức SJ của chúng ta ý-thức được lý-do tại sao họ chọn lựa học-đường của họ, bước vào một lớp học có 32 học-sinh (sĩ-số trung-bình lớp học công-lập ở Hoa-kỳ), như là một lớp học kiểu-mẫu để thay đổi (thực ra trong địa-hạt yêu thương kết bạn thành vợ chồng hoặc làm cha mẹ cũng giống như vậy). Họ muốn thay đổi các hữu-thể chưa thành hình này trở nên hình ảnh riêng của họ. Chúng ta hãy thử nhìn vào vấn-đề đã được đề-cập đến ở chương 4:

    ESFJ ESFJ ESFP ESFP ENTP INTP

    ESFJ ESFJ ESFP ESFP ENTJ

    ESFJ ESFJ ESFP ESTP ENTJ

    ESTJ ISFJ ESTP ISFP ENFP

    ESTJ ISTJ ESTP ISFP ENFP

    ESTJ ISTJ ESTP ISTP ENFJ INFJ

    Nhân tiện đây, tưởng cũng nên nhắc lại hậu-quả của cuốn sách WHO SHALL SURVIVE? (AI SẼ SỐNG SÓT?) do J.L. Moreno viết năm 1934 nói đến ảnh-hưởng đối với giáo-chức SJ tại Hoa-kỳ. Ông Moreno khám-phá ra một mực thước để đo lường ảnh-hưởng yếu-tố liên-hệ xã-hội trong lớp học: cứ chừng 20 năm người ta lại dùng mực thước đó để y như muốn trở về nền-tảng căn-bản.

    Bây giờ hãy trở lại vấn-đề của giáo-chức: làm sao để tạo những học-sinh này thành những con người chi-tiêu hoặc tiết-kiệm, đa-nghi hoặc cả tin, có nghĩa là thầy sao trò vậy đây? Chúng ta có thể chắc chắn một điều này là nếu giả-thuyết về tính tình có một chút ý-nghĩa gì, thì chỉ có mỗi một chuyệïn nên mà thôi, đó là hãy coi giả-thuyết này như sai lầm. Không thể nào giải-quyết được vấn-đề như đã đặt ra. Chúng ta không thể thay đổi tính tình của ai khác, cũng như không ai có thể đổi màu da, tàn nhang, mụn cứt ruồi. Chính đó là một điều rất đáng mừng: chúng ta không thể thay đổi được tâm-tính con người. Mục-đích của sư-phạm thực sự không phải là có thể thay đổi được tâm-tính con người, nhưng là làm sao biết sử-dụng tính tình của mình để thiết-lập và duy-trì một liên-hệ hữu-ích với các mẫu tính tình khác của học-sinh. Điều đó không phải là dễ, vì phải hiểu biết các lề lối giảng-huấn và học-tập. Chúng ta đã thảo-luận về lề lối học-tập trong chương 4. Bây giờ chúng ta hãy chú ý tới các lề lối giảng-huấn.

    1.- đường lối giáo-huấn của người SP
    Giáo-chức SP thích học-sinh phát-triển khả-năng tự-do và tự-nguyệïn. Muốn đạt được mục-đích đó, giáo-chức SP có thể nổi hứng làm điều bất-ngờ. Thật là không may vì chỉ có chừng 2% giáo-chức là SP, vì người SP thích các nghề hoạt-động hơn, do đó giáo-chức SP có một lề lối giảng-dạy độc-đáo và quý-giá. Tuy nhiên cũng dễ hiểu tại sao họ không thích đi vào ngành giáo-dục này, cho dù họ chỉ muốn có một đời sống êm đềm. Thế nhưng vì họ chủ-tâm đến những gì trực-tiếp trước mắt, muốn sống một cuộc sống tốt lành, biết vui hưởng những gì trong tầm tay, phản-ứng thích-hợp tùy nghi đối vơiù các tình-trạng mới, và dành thời-giờ để vui chơi, nên họ tỏ ra rất hấp-dẫn đối với học-sinh. Họ tỏ ra xuất-sắc trong công việc giảng dạy và những bài học của họ thì vui vẻ, giải-trí, hấp-dẫn và có tính cách thi đua trong khi giảng dạy học tập.

    Rất tiếc số người SP có khuynh-hướng bỏ việc giáo-dục khuôn mẫu chính-thức nhiều hơn là các mẫu tính tình khác. Như đã đề-cập ở chương nói về con em, học-sinh SP có khuynh-hướng tỏ ra có khác-biệt giữa các bài trắc-nghiệm khả-năng học-vấn và điểm trung-bình xếp hạng. Hình-thức học trong lớp không được tổ-chức đúng theo ý thích của học-sinh SP, do đó nó đi tìm lề lối học tập khác, mỗi khi nó có được cơ-hội. Tương-đối mà nói ít khi học-sinh SP theo đuổi việc học đến nơi đến chốn để có đủ bằng cấp giảng dạy, và thực ra nền giáo-dục nói chung cũng như những nghề đòi hỏi học tập lâu la phải thiệt thòi vì mất phần đóng góp của họ.

    Khi người SP quyết-định đi vào nghề dạy học, họ có thể trở nên những giáo-chức hấp-dẫn. Cũng có khi họ trở nên khó đoán trước được, và học-sinh không biết được những gì sẽ xẩy ra hôm nay hoặc ngày mai. Nếu bị bắt buộc tuyệt-đối, giáo-chức SP sẽ nộp dàn bài của họ, nhưng chưa chắc họ đã theo dõi cẩn-thận mà thực-thi. Họ quý-trọng tự-do của họ quá sức và muốn đáp-ứng với bất cứ việc gì xẩy ra bất cứ lúc nào ngày nào tùy như cảm thấy hứng-thú.

    Thật là kỳ-lạ khi chúng ta nhận thấy liên-hệ giữa thầy và trò của người SP cũng giống như liên-hệ thầy trò của người SJ, có nghĩa là họ chủ-tâm đến việc thầy dạy trò hơn là trò bảo trò. Người SP thích thú biểu-diễn nên họ tỏ ra xuất-sắc trong lớp, và dĩ nhiên cần phải có học-sinh nghe giảng. Tất nhiên học-sinh say sưa từng giây từng phút nghe giáo-chức SP giảng dạy. Chưa chắc học-sinh đã học được gì theo chương-trình học-vấn, nhưng có một điều chắc chắn là chúng thích học với giáo-chức SP và tỏ ra rất quý mến họ. Có thể so sánh tình nghĩa thầy trò nầy giống như tình anh chị em hơn là tình cha mẹ con cái.

    Giáo-chức SP không muốn chịu trách-nhiệm về thành-quả của học-vấn, vì ưu-điểm của họ là cung-cấp cho học-sinh nhiều kinh-nghiệm và hành-động khác nhau. Lớp học lúc nào cũng có việc này việc kia xẩy ra và thường là ồn ào rộn rã, hình như lổm cổm đủ mọi thứ đồ. Học-sinh cảm thấy thích-thú vì hết dự-án này đến dự-án kia, hết hoạt-động này tới hoạt-động khác, có việc thì đã xong, có việc còn đang dang dở. Giáo-chức SP thường giảng dạy qua việc vừa học vừa chơi, vừa làm vừa học, bắt học-sinh phải sử-dụng đồ nghề và vật-liệu. Họ thích dùng phim ảnh, hình ảnh, băng nói, băng hình để giảng dạy. Giáo-chức SP không thích bắt học-sinh trả lời những câu hỏi ở cuối một chương sách. Nếu như có bài về nhà làm, học-sinh chểnh mảng cũng không bị rầy la là bao nhiêu. Giáo-chức SP cũng không cảm thấy cần phải sửa bài đúng giờ, dù bài làm ở nhà hay ở trong lớp.

    Giáo-chức SP có phần đóng góp cho việc giảng-huấn mà đa-số các mẫu tính tình khác không thích bao nhiêu. Tuy nhiên người SP có thể không quý mến cảm-phục đồng-nghiệp bao nhiêu vì họ có khuynh-hướng giảng dạy theo hứng, không giống như dàn bài của các mẫu tính tình khác. Người SP không câu-nệ phải tin rẳng cứ học-tập là tự tạo được niềm an-vui thoải-mái, và họ cũng không cho là xấu gì khi phải dùng phần thưởng bề ngoài để kích-thích phấn-khởi việc học-vấn của học-sinh. Do đó người SP có khuynh-hướng tổ-chức việc học tập như một loại đua tranh hơn là các mẫu tính tình khác. Người SP cảm thấy họ không có thể gò bó con em không cho nó tự mạo-hiểm, chiến-đấu và cảm thấy phấn-khởi.

    2.- đường lối giáo huấn của người SJ
    Giáo-chức SJ muốn học-sinh phát-triển để trở thành con người trưởng-thành hữu-dụng và có một chỗ đứng quan-trọng trong xã-hội. Cứ 5 người giáo-chức thì có 1 người thuộc nhóm SJ, và lý-do là vì họ muốn bảo-trì và truyền-đạt di-sản văn-hóa trong các định-chế xã-hội được công-nhận. Giáo-chức SJ có khuynh-hướng tổ-chức lớp học quy-củ đàng-hoàng. Công việc của họ được tổ-chức đâu vào đó, dự-thảo từ lâu trước, có thứ-tự diễn-tiến và rõ ràng mạch lạc từ đầu đến cuối. Giáo-chức SJ thường cũng giữ kỷ-luật công-bình và nghiêm-minh, muốn học-sinh vâng lời kỷ-luật của lớp học và nhà trường. Chính giáo-chức SJ làm gương sáng về hành-vi, cử-chỉ và lời nói.

    Giáo-chức SJ ở mức trung-dung giữa nhóm NF và NT về vấn-đề giữ khoảng cách tâm-lý giữa thầy và trò. Người SJ không tỏ ra thiện-cảm đối với học-sinh như người NF, nên cũng khó bị vấp váp, và cũng không xa cách như người NT. Giáo-chức SJ có khuynh-hướng thích học-sinh nào ngoan ngoãn vâng lời, nên sẵn sàng hy-sinh dùng hết nghị-lực để giúp học-sinh học tập. Người SJ có thể tỏ ra thiếu kiên-nhẫn đối với học-sinh không tùng-phục t.d. học-sinh SP hay phá rối.

    Giáo-chức SJ thường tỏ ra xuất-sắc giảng dạy theo đường lối tra hỏi của Socrates. Có thể quan-sát thấy họ khuyến-khích đối-thoại giữa thầy với trò hơn là giữa trò với trò. Giáo-chức SJ cũng coi việc điều-khiển lớp học là nhiệm-vụ của mình, nên họ không muốn chia sẻ nhiệm-vụ cho học-sinh, trừ khi đó là mục-đích của bài học.

    Giáo-chức SJ thật thấu đáo trong việc phê-bình việc làm của học-sinh, và nói cho học-sinh biết kết-quả việc học tập. Một mặt khác, giáo-chức SJ hơi ái-ngại không muốn chỉ cho học-sinh biết những chỗ đúng. Đây là một kỹ-thuật sai lầm đối với học-sinh NF. Học-sinh NT có thể bỏ qua không để ý tới giáo-chức SJ vì tính của người NT là có thái-độ tự-lập và có khuynh-hướng theo đuổi sở-thích học-vấn của mình. Học-sinh NT một cách vô-tình dường như muốn nhắn nhủ giáo-chức SJ rằng nó chẳng cần họ. Sự thực là học-sinh NT rất cần người SJ làm giáo-chức giảng dạy cho nó, nhưng phải là trong cách thức kỳ-cục đặc-biệt của nó. Nó không biểu-lộ rõ ràng nhu-cầu đó cho giáo-chức SJ (hoặc NF , SP cũng vậy).

    Giáo-chức SJ còn bị học-sinh SP coi thường hơn nữa, vì học-sinh SP chỉ ưa thích hành-động và mạo-hiểm thôi, và không muốn thực tập để có thói quen học tốt trong kho tàng hiểu biết của mình. Học-sinh SP phản-ứng lại lời từ-chối bằng cách hành-động ngược lại, và như vậy làm cho giáo-chức phải từ-chối nữa, Cứ như vậy mà tạo nên cái vòng lẩn quẩn không đem lại lợi-ích gì cho ai cả. Cuối cùng học-sinh SP bị thiệt thòi và mất cơ-hội để học cao hơn, bởi lẽ thường học-sinh SP giải-quyết vấn-đề bằng cách bỏ học khi có cơ-hội. Học-sinh NF có thể quá tùy thuộc vào giáo-chức SJ đến độ phiền-hà khó chịu, lúc nào cũng muốn được giúp đỡ, nên có thể làm cho giáo-chức bực mình, nhất là khi học-sinh NF chỉ lo xin giúp đỡ mà không chịu tự mình làm bài học bài gì cả.

    38% học-sinh SJ có khuynh-hướng sống hòa-hợp với 56% giáo-chức SJ trong bầu-khí giáo-chức tạo nên, có nghĩa là làm bài đúng giờ đúng cách. Giáo-chức SJ làm việc tốt trong ban giám-đốc quản-trị nhà trường và khu học-chính, nhưng họ tỏ ra trung-thành và ủng-hộ nhà trường khi có lực-lượng bên ngoài tấn-công. Giáo-chức SJ hiểu biết và khuyến-khích lòng trung-thành đối với hệ-thống học-chính, làm việc thích hợp với hoạt-động học-đường và ban đại-diện học-sinh. Họ thường ủng-hộ các chương-trình thểâ-thao và giải-trí, cũng như nâng đỡ hội phụ-huynh học-sinh. Người SJ giúp cho nhà trường được bền vững và mong muốn học-sinh cũng như đồng-nghiệp cũng phải hành-sử như vậy.

    3.- đường lối giáo huấn của người NT
    Giáo-chức NT muốn phát-triển trí tuệ con người. Họ đi tìm câu trả lời cho những bí-ẩn thiên-nhiên và khuyến-khích học-sinh cũng làm như vậy. Họ chủ-tâm tới các liên-hệ và các thành-tố phức-tạp và cố-gắng hướng-dẫn học-sinh làm như vậy. Giáo-chức NT có khuynh-hướng vô-tư trong việc tiếp-xúc với học-sinh, hiểu ngầm cho rằng học-sinh đều muốn học tập. Đôi khi giáo-chức NT có thể quên đi mất bầu-khí tình-cảm của lớp học, mà cứ tiếp-tục giảng dạy bài học như đã dự-tính, trong khi có thể có lợi cho học-sinh vì cần được một thứ kinh-nghiệm khác. Giáo-chức NT được mô-tả như có khuynh-hướng chủ-tâm tới đề-tài học hỏi.

    Giáo-chức NT thường thích-thú phác-họa và thiết-lập một chương-trình mới, cho dù họ không luôn luôn chịu dấn-thân vào việc thực-thi các tư-tưởng mới, nhất là khi có những chi-tiết thuộc hành-chánh văn-phòng. Giáo-chức NT không muốn giảng dạy mãi cùng một chất-liệu nên thường tìm những kỹ-thuật phương-pháp mới khi phải đối-phó với cùng một nội-dung. Mẫu giáo-chức này có thể hết hứng-thú một khi đã hiểu biết nội-dung đề-tài, và không phải là tình cờ mà đa-số các giáo-chức NT đi vào lãnh-vực giáo-dục cao-cấp, vì theo nguyên-tắc lãnh-vực đó đòi hỏi trí óc nhiều nhất. Ở bậc trung-học, giáo-chức NT thường dạy các bộ môn khoa-học và toán, ít người chịu dạy kinh-doanh, kỹ-nghệ-họa hoặc khoa nhân-văn. Giáo-chức NT cẩn-thận truy-nguyên hệ-thống tư-tưởng của các học-sinh, nhất là những học-sinh muốn phát-triển thăng-tiến về trí-thức. Nếu có dịp tranh-luận, giáo-chức NT rất mực hài-lòng. Họ thích được chia sẻ những khám-phá trí-thức của học-sinh của họ và khuyến-khích học-sinh phải cố-gắng mở mang trí-tuệ thêm nữa. Nếu có học-sinh nào tiếp-tục tò mò tìm hiểu thêm, giáo-chức NT thường tỏ ra khích-lệ, miễn là dự-án có tính cách suy-tư lý-luận. Có thể suy ra rằng giáo-chức NT thật có khiếu giảng-dạy bằng phương-pháp thảo-luận một vấn-đề, cho dù họ có thể không kiên-nhẫn khi lớp hội-thảo đi ra ngoài vấn-đề hoặc khi cách-thức học-tập diễn-tiến quá chậm.

    Giáo-chức NT có thể phải tự kiềm-chế chính mình để giới-thiệu việc học-tập bằng cách lặp đi lặp lại có thể như không cần-thiết, phải phấn-đấu với chiều-hướng cho rằng chỉ cần lập-luận một lần, đưa ra một sự kiện là học-sinh phải thu-thập được kiến-thức đó ngay. Vì họ sợ làm cho học-sinh phải nhàm chán, nên giáo-chức NT có khuynh-hướng đi quá mau đối với đa-số. Giáo-chức NT có năng-khiếu giảng dạy về kỹ-thuật hơn là hành-chánh văn-phòng, lịch-sử hoặc mỹ-thuật. Thường họ không chú ý đến những học-sinh chậm trí, và họ dễ cảm thấy thoải-mái với các học-sinh mau trí.

    Với những tiêu-chuẩn cao cho học-sinh, giáo-chức NT có khuynh-hướng gia-tăng tiêu-chuẩn đòi hỏi, và một lớp học xuất-sắc có thể là mẫu mựïc mà họ muốn tất cả các lớp khác phải bắt chước và đua theo. Như thế, học-sinh trong lớp của giáo-chức NT có thể không đủ kinh-nghiệm thành-công so-sánh với kinh-nghiệm thất-bại. Giáo-chức NT thường quý-trọng giá-trị kiến-thức hiểu biết một vấn-đề, như là phương-tiện phát-triển trí-tuệ, hơn là phát-triển các năng-khiếu về xã-giao và thẩm-mỹ, ngược hẳn lại với giáo-chức NF.

    Học-sinh của một giáo-chức NT thường biết rõ lập-trường của thầy cô mình về vấn-đề kỷ-luật cũng như mức-độ học-vấn phải đạt được. Ít khi giáo-chức NT thay đổi lập-trường vì yếu-tố tình-cảm, bởi lẽ họ tin rằng lập-trường của họ là hợp-lý và công-bình. Chẳng hạn như giáo-chức NT không chịu nghe lời ban giám-đốc quản-trị, hoặc phụ-huynh để cho học-sinh làm bài lại và phê điểm lại, vì họ tin rằng bài làm sao được điểm làm vậy. Người NT có trở-ngại khó truyền-đạt cho học-sinh hiểu được rằng học-sinh có những cố-gắng đáng khen, mặc dầu đối với họ là quá rõ ràng minh-bạch, nhưng đối với học-sinh lại chưa chính-xác đủ. Học-sinh thường tin rằng giáo-chức NT phán-đoán về chúng không chính-xác, trong khi các bài làm đều được chu-toàn thỏa-đáng. Trong môi-trường giảng dạy cũng như các môi-trường khác, người NT cần phải nói thành lời những đóng góp cố-gắng của học-sinh trong việc học-tập. Giáo-chức NT có thể phải làm việc khó nhọc để tạo nên bầu-khí tích-cực trong lớp học, bởi lẽ họ hay quên không nhìn thấy nhu-cầu của người khác cũng cần phải được khen tặng, đồng-thời khuynh-hướng của người NT là chỉ nhìn thấy một thiểu-số học-sinh làm việc đúng chỉ-tiêu, còn đa-số là lè phè, tồi tệ. Thế mà trong các mẫu tính tình, người NT lại có năng-khiếu nhất để phân-chia công-tác cho mỗi học-sinh tiến theo đà phát-triển của mình. Bởi vì sứ-mệnh chính-yếu của giáo-chức NT là phát-triển trí-tuệ nơi mỗi học-sinh, nên họ có năng-khiếu nhìn nhận những khác-biệt về trí-tuệ giữa học-sinh với nhau, hoặc trong cùng một học-sinh. Ít khi họ mắc phải lầm lẫn của người khác cứ tưởng rằng một đứa trẻ làm một việc dở hoặc hay, là sẽ làm việc gì cũng dở hoặc cũng hay luôn mãi. Giáo-chức NT cũng bén nhậy hơn các mẫu tính tình khác khi để ý-thức được khả-năng và lãnh-vực chuyên-môn của học-sinh. Bởi lẽ họ luôn bắt mạch tâm-trí thật đúng, nên người NT có thể nhìn thấy quan-điểm của đứa trẻ về khả-năng trí-tuệ.

    Trong ban giảng-huấn, một người NT luôn làm việc tốt với một người NT nữa, nhưng đưa một người NF vào có thể có lợi vì thêm được yếu-tố mà người NT không có. Giáo-chức NF có năng-khiếu tỏ ra nhậy cảm đối với bầu-khí tình-cảm trong lớp học mà các mẫu tính tình khác không có. Nói chung, người NT tỏ ra ủng-hộ cơ-sở tổ-chức, ủng-hộ đồng-nghiệp, nhưng họ đòi hỏi một mức-độ thông-thạo khá cao nơi các giáo-chức khác cũng như nơi ban giám-đốc quản-trị. Còn ban giám-đốc quản-trị nhận thấy nhóm NT ít đủ kiên-nhẫn đối với các giấy tờ thừa thãi vô-ích và các buổi họp vô-bổ. Người NT có khuynh-hướng mất hứng-thú khi phải đi họp, vì thấy nội-dung buổi họp trên giấy tờ hay hơn.

    Người NT có khuynh-hướng tiếp-tục cải-tiến khả-năng chuyên-môn của họ, và nhóm NT nói chung có khá nhiều bằng-cấp này nọ. Họ thường chịu khó đọc sách báo chuyên-môn và đầu-tư vào sách vở chuyên-biệt. Nhóm NT thường được coi là lên tiếng ủng-hộ tiêu-chuẩn khắt khe cho học-trình, và ít khi họ theo lập-trường vui học, học tùy ý. Chính họ quý chuộng những cơ-hội học hỏi tu-nghiệp nếu như có liên-quan tới nội-dung học-vấn khắt khe.

    4.- đường lối giáo huấn của người NF
    Đường lối giảng dạy của người NF được ghi dấu đặc-biệt bởi những đặc-ân cá-nhân và sự dấn-thân cho học-sinh họ giảng dạy. Giáo-chức NF ưu-tư đích-thực về mọi phương-diện tốt của học-sinh, phương-diện xã-hội cũng như phát-triển trí-tuệ. Họ có khuynh-hướng liên-hệ riêng tư với từng học-sinh một và thường có ý muốn dạy riêng từng em một. Dưới sự lãnh-đạo hướng-dẫn của người NF, học-sinh thường nhận-định ra những tài-năng mà trước kia họ không nhìn thấy.

    Giáo-chức NF cũng thường có khuynh-hướng dạy theo một lớp học dân-chủ. Họ muốn học-sinh tham-dự vào thể-thức hoàn-thành một quyết-định và sẵn sàng sống theo quyết-định đó. Họ cũng muốn cho học-sinh liên-hệ phản-ứng với nhau hơn là các mẫu tính tình khác mong muốn, và không tự coi mình là nguồn gốc mọi khôn-ngoan, là đỉnh cao trí tuệ loài người. Giáo-chức NF cũng thường có can-đảm cho phép học-sinh sai lỗi đôi khi và họ có mặt đó để khuyến-khích khi cần-thiết.

    Giáo-chức NF trực-tiếp nhận biết bầu-khí lớp học và sẵn sàng thay đổi một bài học đã soạn nếu như học-sinh cần phải có kinh-nghiệm khác vào lúc đó. Giáo-chức NF có thể tổ-chức và điều-hành một lúc 3 màn tuồng kịch khác nhau, vì họ có tài chịu đựng nhiều sinh-hoạt cùng một lúc miễn là hữu-ích. Họ dùng hình-thức nhóm lớn, nhóm nhỏ, giảng chung dạy riêng và kiểu nào cũng làm cho họ thoải mái, tuy nhiên họ ngại dùng sách giáo-khoa, nhưng lại có tài biến-chế những bài làm, dự-án theo như tài-liệu riêng tư có được.

    Người NF có thể không theo quy-ước trong việc giảng dạy và có thể điều-khiển các học-sinh ngoài quy-ước. Giáo-chức NF biết sử-dụng các tài-liệu giảng dạy thích hợp với chương-trình học để giúp phát-triển chiều-hướng xã-hội. Họ thường thích các chương-trình và kinh-nghiệm về các giá-trị này nọ.

    Người NF cũng giao-tiếp liên-hệ với từng học-sinh một trong lớp: thỉnh thoảng có trường-hợp cảm-xúc quá dồi-dào vì các giáo-chức này bình-thường đã tỏ ra thiện-cảm và ý-thức được cảm-xúc của người khác cũng như tình-cảm của chính mình. Như vậy họ dễ bị vấp váp khi có phản-ứng tích-cực cũng như tiêu-cực. Liên-hệ với 100 học-sinh trong nhiều lớp khác nhau có thể làm tiêu-hao nhu-cầu tình-cảm của người NF, và dĩ nhiên họ cần phải có giờ nghỉ-ngơi thỏa-đáng.

    Một giáo-chức NF có thể mất bớt hiệu-lực nếu như cứ tin rằng mình phải lo cho tất cả những học-sinh mình giảng dạy và chúng cũng phải liên-hệ với mình. Nếu họ không thích một học-sinh nào đó, họ sẽ phải đau-khổ cho đến khi nào suy-đoán ra được lý-do tại sao họ không thích, cho dù người khác nhận xét như vậy là đúng. Người NF có thể coi nhân-viên ban giám-đốc quản-trị như một vai trò uy-quyền và phóng-diễn vào đó phản-ứng cũ của họ trong liên-hệ sơ-khởi trong dĩ-vãng, chẳng hạn như liên-hệ với cha mẹ. Đôi khi người NF cảm thấy thật khó chấp-nhận những người trên nói chung cũng như chấp-nhận học-sinh và giáo-chức đồng-nghiệp. Điều đó có thể dễ hiểu, vì người NF có tính cách thèm khát muốn mọi sự được trọn-hảo và mỗi việc là độc-nhất vô-nhị, nhưng như vậy lại dễ làm tổn-thương đến liên-hệ làm việc.

    Giáo-chức NF có thể bỏ bê giấy tờ các thứ cho đến độ khủng-hoảng. Họ cũng có thể bỏ qua các liên-hệ khó chịu hoặc các tình-trạng khó-khăn, luôn hy-vọng rồi thế nào mọi sự cũng sẽ qua đi. Tuy nhiên người NF liên-hệ dễ dàng với người khác và có khuynh-hướng là một người lãnh-đạo hùng-mạnh và được lòng mọi người trong ban giáo-chức. Mặc dầu họ có khuynh-hướng nói điều hay điều tốt về người khác, nhưng nếu có điều gì họ không thích xẩy đến, người NF cũng dễ có khuynh-hướng đưa ra những nhận xét về người khác và về hành-động đặc-biệt của người ta, nhất là khi những người bị chỉ-trích không có mặt ở đó. Điều này cũng áp-dụng thật đúng khi họ thảo-luận chi-tiết không thích-hợp về học-sinh hoặc phụ-huynh trong phòng họp giáo-chức. Nói chung chung, giáo-chức NF có khuynh-hướng giúp ích hơn là làm tổn-thương các liên-hệ với những người chung quanh họ. Họ có khuynh-hướng thích-thú nghề-nghiệp của họ và rất thích giảng-dạy. Họ sẵn sàng hy-sinh tất cả thời-giờ cần-thiết để chu-toàn mọi sự và thích những khóa tu-nghiệp hội-thảo có liên-quan tới sở-thích của họ. Họ có khuynh-hướng thích những cuộc hội-thảo hơn là thuyết-trình, thích những sinh-hoạt nhóm nhỏ hơn là tường-trình nhóm lớn. Họ có khuynh-hướng theo dõi sách báo chuyên-nghiệp một cách qua loa vậy thôi, cho dù họ luôn chú ý đến những gì là sáng-tạo và mới lạ. Giáo-chức NF có khuynh-hướng đầu-tư vào các tài-liệu dùng cho lớp học để giúp họ giảng dạy khá hơn, trong khi giáo-chức NT lại đầu-tư vào các sách vở chuyên-môn.

    tổng-quan về đường lối giảng-huấn
    giá-trị bách-phân bộ-môn thích kỹ-thuật tiên-quyết giáo-chức & giảng-dạy thường dùng giáo-dục thời-kỳ phục-vụ

    SP phát-triển 4% mỹ-thuật bi-kịch dự-án,biểu- tự-giác & thời-kỳ ngắn thủ-công-nghệ diễn,thi đua, tự-do thể-thao giải-trí âm-nhạc trò chơi

    SJ phát-triển 56% canh-nông sử-địa chính-trị thuộc lòng, trách-nhiệm & thời-kỳ hành-chánh, kinh-tế gia-đình thực-tập,luậ lợi-ích lâu dài kinh-doanh, thể-thao, xã-hội trắc-nghiệm.

    NT phát-triển 8% triết-lý toán thuyết-trình kiến-thức & thời-kỳ vừa khoa-học ngữ-học trắc-nghiệm năng-khiếu kỹ-thuật, truyền-thông luận, dự-án

    NF phát-triển 32% nhân-văn ngoại-ngữ dự-án nhóm nhân-vị & thời-kỳ xã-hội hùng-biện trò chơi,diễn toàn-diện lâu dài kịch-nghệ thần-học thảo-luận âm-nhạc giả-tưởng

  14. CHƯƠNG 6

    nhận-định tổng-quan

    Sau đây là chân-dung toàn-bộ của mỗi mẫu tính tình.

    1.- người ENFJ nhà giáo: 5%
    Nhóm ENFJ là những lãnh-tụ xuất-sắc của các phe nhóm các hội-đoàn. Họ có một đức-tính rất dễ thương này là tin rằng người khác sẽ theo họ, và chắc chắn người khác sẽ làm y như họ đề-xướng. Thông thường trên thực-tế người khác làm như vậy, vì người ENFJ có biệt-tài quyến-dũ khác thường. Người ENFJ đề-cao giá-trị hợp-tác với người khác, và họ cố-gắng rất nhiều để hợp-tác với người khác.

    Cứ 100 người mới có được 5 người thuộc mẫu tính tình ENFJ, nên họ coi người khác là quan-trọng bậc nhất và ưu-tiên số một. Hậu-quả là người ENFJ có thể cảm thấy mình có trách-nhiệm về tâm-tình của người khác đến độ tạo nên gánh nặng cho tình-nghĩa giữa hai người với nhau. Người ENFJ truyền-đạt thái-độ chăm sóc, ưu-tư và ý muốn dấn thân gánh vác. Đó là lý-do người khác tìm về người ENFJ để được nâng đỡ, bảo-vệ, và người ENFJ thường có khả-năng để bảo-vệ, nâng đỡ người khác. Tuy nhiên cũng có khi nhu-cầu đòi hỏi người ENFJ quá nhiều làm cho họ không đủ sức ấn-định giới-hạn. Người ENFJ không có đủ can-đảm từ-chối bất cứ đòi hỏi nào, cho dù đôi khi là không chính-đáng. Nếu không còn thời-giờ và nghị-lực để nâng-đỡ bảo-vệ người khác nữa, người ENFJ sẽ cảm thấy mặc-cảm tội lỗi.

    Người ENFJ dễ bị tổn-thương khi lý-tưởng-hóa liên-hệ tình-nghĩa tương-giao, quá đề-cao tình-nghĩa đến độ không còn đúng với thực-tế của bản-tính loài người nữa. Vì khuynh-hướng lý-tưởng-hóa đó mà người ENFJ đã vô-tình làm cho bạn bè bị khiếp-đảm, bởi lẽ bạn bè tin rằng họ không thể sống đúng như quan-niệm của người ENFJ có về họ được. Thực-tế cho biết người ENFJ rất dễ độ-lượng khoan-dung đối với người khác, ít khi phê-bình chỉ-trích và luôn đáng tín-nhiệm.

    Người ENFJ tin rằng họ truyền-thông tư-tưởng dễ dàng, họ được người khác chấp-nhận và hiểu họ, y như chính họ hiểu và chấp-nhận người khác. Họ tin rằng người khác cũng làm như vậy. Khi người ENFJ khám-phá ra rằng người khác không hiểu và không chấp-nhận lập-trường thái-độ của họ, họ ngạc-nhiên, thắc mắc và bị tổn-thương. Cũng may là ít khi xẩy ra như vậy, vì người ENFJ có biệt-tài ngôn-từ trôi chẩy, nhất là về khoa hùng-biện. Họ khéo nói hơn là dễ viết. Vì thếâ người ENFJ gây ảnh-hưởng dễ dàng khi hội họp: dù nhóm nhỏ dù hội lớn, họ không sợ phát-biểu ý-kiến.

    Người ENFJ có biệt-tài giao-tiếp, liên-hệ và thông-cảm với người khác, biết đặt mình vào tâm-tình, địa-vị, tin-tưởng của người khác. Điều nguy-hiểm có thể là họ vô-tình đồng-hóa với người khác và đeo vào mình những gánh nặng không phải của mình, đến độ mất đi bản-lĩnh của chính mính. Họ dễ dàng bắt chước người khác một cách tự-nhiên, vì dễ đặt mình vào hoàn-cảnh tâm-tình của người khác. Họ rất dễ quan-tâm lo lắng đến những người thân-cận, và cả đến những người xa lạ nữa, để rồi đôi khi bị vấn-vương tình-cảm quá mức.

    Người ENFJ hành-động khá đúng theo trực-giác, vì trực-giác của họ thường được phát-triển đúng mức. Quyết-định một sự việc gì hoàn toàn theo lý-luận chưa chắc đã hoàn toàn đúng, nhưng đôi khi người ENFJ cũng nên hỏi ý-kiến một người với khuynh-hướng T(hinking) suy-tư mạnh để bù lại khuynh-hướng F(eeling) tâm-tình. Tuy nhiên xét về phương-diện giá-trị tổng-quát, người ENFJ thường biết sở-thích của mình và có thể đọc được tâm-lý người khác một cách khá chính-xác. Ít khi người ENFJ đoán sai lầm về mục-đích ý-hướng của người khác, dù người ta nói ra hay giấu kín.

    Người ENFJ dễ sống hòa-đồng với xã-hội và là người bạn tốt, là người phối-ngẫu tuyệt-vời. Họ tận-tụy với con cái, mà không áp-đảo con cái hoặc người bạn trăm năm. Trên thực-tế có khi người ENFJ giữ được tâm-tính quân-bình đến độ trở thành nạn-nhân của một người phối-ngẫu quá đòi hỏi yêu-sách.

    Người phối-ngẫu ENFJ luôn luôn tìm cách làm đẹp lòng người bạn đời của mình, và cảm thấy có lỗi khi nếp sống gia-đình bị xáo trộn. Họ sẽ không ngừng tìm đủ mọi cách, dùng thời-giờ, tiền bạc và nghị-lực để cho gia-đình được êm ấm trở lại. Lòng hy-sinh tận-tụy đó thường đi đôi với hoài-bão có được một tình-nghĩa trọn-hảo, một đặc-điểm của nhóm NF, và đặc-biệt là mẫu ENFJ. Như vậy người ENFJ, luôn luôn mơ ước một lý-tưởng cao-siêu, sẽ cảm thấy bất-mãn một cách mung lung trong bất cứ một liên-hệ tình-nghĩa nào, dù là bạn đời, dù là bạn chơi.

    Lòng ước ao trọn-hảo có ảnh-hưởng đến nghề-nghiệp của người ENFJ làm cho họ hơi lo lắng bồn-chồn một chút, dù làm nghề gì cũng vậy. Cũng như người ENFP nhà báo, người ENFJ dễ thành-công trong nhiều nghề. Vì tài ăn nói lưu-loát, người ENFJ dễ dàng tiếp-xúc với người khác, nhất là khi được đối-diện. Các nghề trong phương-tiện truyền-thông, các ngành tông-đồ mục-vụ, kịch-trường phim ảnh, có đầy dẫy những người ENFJ thành-công. Họ là những người chữa trị tâm-lý tuyệt-diệu, những giáo-sư lôi cuốn, những giám-đốc xuất-chúng, những nhà buôn biệt-tài. Họ nên tránh những ngành như kế-toán, vì không có liên-hệ giao-tiếp giữa người với người. Ngoài ra, bất cứ ngành nào có liên-hệ giao-tiếp xã-hội đều là đúng sở-trường của con người ENFJ.

    Người ENFJ thích sắp đặt tổ-chức mọi sự cho có thứ-tự. Họ muốn đặt kế-hoạch dự-tính mọi việc trong sở làm cũng như nơi gặp gỡ, và có khuynh-hướng giữ trọn lời hứa, đúng giờ hẹn. Người ENFJ cảm thấy thoải mái khi đụng đầu với những trường-hợp phức-tạp đòi hỏi phải cân nhắc đắn đo các sự kiện. Đồng-thời người ENFJ tiếp-xúc rất thân-tình dễ thương với người khác, nên dù ở đâu họ cũng được người ta biết đến. Dù là lãnh-đạo dù là thành-viên, họ cũng sống một cách thoải-mái trong bất cứ trường-hợp nào. Một người ENFJ trưởng nhóm có khả-năng đã được phát-triển có thể tổ-chức các hoạt-động không ngừng cho nhóm mà không cần chuẩn-bị kỹ càng, và có thể tìm ra đủ vai trò cho từng người trong nhóm. Đôi khi các mẫu tính tình khác khâm-phục coi đó như là một biệt-tài không ai theo nổi. Người ESFJ nhà buôn cũng có tài ứng-biến như vậy, nhưng người ESFJ đóng vai trò một ông bầu, một quản trò, một người chủ-sự hơn là một lãnh-tụ, một vị chỉ-huy-trưởng, một người trưởng nhóm. Người ESFJ mang tính cách giúp vui nhiều hơn: vai trò của họ là làm sao mỗi người đều được hài-lòng, ăn nói vui vẻ, nhất là trong các dịp ‘quan, hôn, tang, tế’, trong các bữa ăn họp mặt. Người ENFJ cũng đề-cao giá-trị giao-tiếp giữa người với người, muốn được hòa-hợp êm ấm trên hết mọi sự khác, nhưng họ không dễ bị nản-chí vì người khác thờ-ơ lãnh-đạm, họ tự-lập không để mình bị lệ-thuộc vì lời người khác nhận-định.

    2.- người INFJ tác-giả: 1%
    Nhóm INFJ đặt trọng-tâm vào các khả-năng, những sự việc khả-hữu, suy-tư nhận-định theo bậc thang giá-trị và rất dễ đi tới một quyết-định. Thật đáng tiếc rằng nhóm này chỉ là một thiểu-số 1%, bởi lẽ người INFJ có khuynh-hướng đặc-biệt thật mạnh muốn góp phần giúp ích cho tha-nhân, và thực sự vui mừng khi giúp ích được cho người khác. Người INFJ có tư-cách nhân-vị thật cao siêu. Con người của họ phức-tạp, nên họ dễ hiểu biết và đối-xử với những vấn-đề và con người phức-tạp.

    Thông thường người INFJ hay có những ước-vọng về nhân-loại nói chung trong quá-khứ, hiện-tại cũng như tương-lai. Nếu có người nào biểu-lộ một tài đặc-biệt hiểu biết các hiện-tượng tâm-linh, chắc chắn phải là một người INFJ. Đặc-biệt là người INFJ có khả-năng thông-cảm hiểu biết, dễ nhận-thức ra được cảm-xúc tâm-tình của người khác trước khi chính người kia nhận ra. Có khi họ cảm thấy ưu-tư, lo lắng, bệnh hoạn của người khác mà các mẫu tính tình khác khó mà nhận-diện ra được. Người INFJ có thể trực-giác được điều tốt điều xấu nơi người khác, cho dù ít khi họ có thể cho hay cách-thức mà họ biết. Chỉ nhờ những sự việc xẩy ra sau đó người ta mới thấy đó là sự thực đúng như vậy thôi.

    Nhóm INFJ thường là học-sinh tốt, người tuân lệnh và ít sáng-kiến. Họ chuyên-cần làm việc và thích học hỏi nghiên-cứu. Họ chứng-tỏ khả-năng thực-hiện thật trọn-hảo và thường cố-gắng thi-hành nhiệm-vụ hơn cả chỉ-tiêu công việc đòi hỏi. Thông thường họ không phải là những người lãnh-đạo ra mặt, nhưng âm-thầm gầy-dựng ảnh-hưởng trong bóng tối.

    Thật khó mà tìm hiểu được người INFJ. Họ có một đời sống nội-tâm thật dồi-dào, nhưng lại dè dặt và ít khi muốn chia sẻ tâm-tình với ai khác, ngoại trừ người thân-tín. Người INFJ có khuynh-hướng mạnh đi vào nội-tâm, nên họ dễ bị người khác làm tổn-thương, để rồi họ lại có lý-do đi vào nếp sống ẩn-thân một mình. Những ai quen biết người INFJ nhiều năm, có thể nhận thấy một vài khía cạnh bất-ngờ phát-hiện. Không phải là vì người INFJ tiền-hậu bất-nhất. Thực ra họ rất thuần-nhất và trung-thực. Nhưng họ đã vo tròn lại thành những con người phức-tạp có nhiều lớp khác nhau mà chính họ cũng phải thắc mắc không hiểu tại sao nữa.

    Người INFJ thích làm đẹp lòng người khác và có khuynh-hướng đem hết khả-năng cố-gắng giúp mọi hoàn-cảnh. Họ thích và muốn đồng-ý với hết mọi người, và nhận thấy mâu-thuẫn là tai-hại và khó chịu. Thần-giao cách-cảm thường thấy xuất-hiện nơi người INFJ hơn là những mẫu người khác, cho dù những mẫu tính tình khác cũng có thể có như vậy được. Người INFJ sử-dụng trí tưởng-tượng thật sắc bén trong ký-ức và trực-giác, nên đôi khi họ trở nên thiên-tài, hoặc những nhà huyền-bí. Trí tưởng-tượng sắc bén đó thường giúp cho người INFJ sáng-tác được các tác-phẩm nghệ-thuật phức-tạp và tinh-vi như âm-nhạc, hệ-thống toán-học, thi-phú, kịch-nghệ, tiểu-thuyết. Hiểu theo một nghĩa nào đó, người INFJ có tâm-hồn mơ-mộng hơn cả. Như người ENTJ chỉ-huy-trưởng không thể không lãnh-đạo chỉ-huy, người INFJ tác-giả không thể không có trực-giác. Họ trực-giác về người, về vật, về sự việc xẩy ra bằng các ước-vọng, tài tiên-đoán, lời sấm, những hình-ảnh và âm-thanh do trí tưởng-tượng. Người INFJ có thể truyền-thông với một người ở xa một cách thật bí-ẩn.

    Nhóm người INFJ thường chọn bộ-môn văn-chương ở đại-học và chọn nghề nào có nhiều giao-tiếp cá-nhân với mỗi người riêng biệt, chẳng hạn như bác-sĩ y-khoa tổng-quát, nhà tâm-lý hoặc bác-sĩ tâm-bệnh. Cũng như tất cả các người NF khác, người INFJ nhận thấy truyền-giáo mục-vụ là lôi cuốn, tuy nhiên họ phải phát-triển khía cạnh hướng-ngoại nhiều hơn, và như vậy đòi hỏi họ phải có thật nhiều nghị-lực. Người INFJ có khi thích viết văn, nhưng loại văn họ viết phải chứa đựng nhiều hình ảnh. Họ xếp sòng về cách nói bóng, và lời nói cũng như văn viết của họ thật bóng bẩy ví von và phức-tạp. Họ thường dùng tài sử-dụng ngôn-từ để hướng về con người, diễn-tả con người, và viết để truyền-thông cho người một cách cá-nhân đặc-biệt. Người INFJ viết văn thường cho biết khi họ viết là họ nhắm tới một người nào đó trong trí. Họ không có hứng để viết cho một đám đông trừu-tượng không hình-dáng chân-dung.

    Người INFJ là những chuyên-viên chữa trị tâm-bệnh cá-nhân thượng-hạng, vì họ có khả-năng thông-cảm liên-hệ với những mẫu tính tình của thân-chủ, một cách đặc-biệt mà các mẫu tính tình khác không có được. Nhưng người INFJ cũng lại dễ bị tổn-thương hơn các mẫu tình tình khác khi phải đề-cập tới những điểm liên-quan đến mẫu người của họ. Người INFJ thường chọn hướng-dẫn tâm-lý, tâm-lý bệnh-học, tâm-bệnh trị-liệu, hoặc để giảng dạy hoặc để chữa trị. Người INFJ cũng thích viết về mấy nghề này. Dù họ chọn nghề gì, họ cũng thường thành-công, vì họ có tình thân-mật, có tinh-thần phấn-khởi, biết nhìn xa, hiểu rộng, có nhiều sáng-kiến và có tài tổ-chức thật chu-đáo.

    Nơi làm việc cũng như ngoài xã-hội, người INFJ rất dễ tế-nhị trong việc giao-tiếp với người, và có khuynh-hướng làm việc đàng-hoàng trong một cơ-cấu tổ-chức. Họ có khả-năng làm những công việc đòi hỏi yên-tĩnh và tập-trung tư-tưởng, nhưng cũng làm việc hữu-hiệu khi giao-tiếp với người, miễn là việc giao-tiếp không có tính cách giả-tạo. Người INFJ thích giải-quyết vấn-nạn khúc-mắc, họ hiểu biết và sử-dụng đúng mức hệ-thống tổ-chức của con người một cách sáng-tạo và nhân-tạo. Dù là nhân-công hay chủ-nhân, người INFJ cũng để ý đến tâm-tình cảm-nghĩ của người khác, và có khả-năng cung-ứng một hàn-thử-biểu để đo lường tâm-tình cảm-nghĩ của các cá-nhân cũng như của mỗi nhóm trong một tổ-chức. Người INFJ biết chú ý lắng nghe, biết chịu khó và có khả-năng hỏi ý-kiến và cộng-tác với người khác. Một khi đã quyết-định rồi, người INFJ cố-gắng thi-hành quyết-định đó.

    Người INFJ thường thường giỏi về nghệ-thuật giao-thiệp với quần-chúng, và họ giao-thiệp thật hay với mọi người. Họ quý-trọng sự hòa-hợp của ban chỉ-huy, muốn được thấy cơ-cấu tổ-chức êm-đềm dễ chịu; họ sẵn sàng cố-gắng hết sức để góp phần vào mục-đích đó. Họ dễ bị nản-chí vì các lời chỉ-trích quá đáng, và tâm-tình họ dễ bị tổn-thương. Họ đáp-ứng các lời khen ngợi và dùng cách tán-dương để khuyến-khích người khác, cũng như cảm thấy được khuyến-khích khi có người tán-thưởng họ. Nếu họ bị chống-đối, hoặc phải làm việc tại một nơi không thân-tình bao nhiêu, hoặc bị phê-bình chỉ-trích luôn luôn, họ sẽ dễ bị mất niềm tin, trở nên bất-hạnh, bất-động và cuối cùng là bị đau bệnh nữa.

    Trong đời sống hôn-phối, người INFJ thường tận-tâm với người bạn phối-ngẫu, nhưng có khi không thích gần gũi thể xác bao nhiêu. Có lúc họ biểu-lộ tình yêu thể xác, nhưng là lúc họ muốn, và thường đây là lúc họ cảm thấy có hứng tình. Điều đó dễ gây hiểu lầm cho một người bạn phối-ngẫu hướng-ngoại. Thông thường người INFJ biểu-lộ tình-cảm một cách tế-nhị, đổi chiều một cách bất-ngờ và khôi-hài. Người INFJ muốn và cần có hòa-hợp an-vui trong gia-đình, và nhận thấy rằng mâu-thuẫn dù kín dù hở, cũng thật là tai-hại vô cùng cho tâm-thần của họ. Nhóm bạn bè thân-tín của người INFJ là một nhóm nhỏ bé, thân-tình và lâu bền.

    Người INFJ là những cha mẹ rất tận-tụy, lo lắng cho con cái có khi đến khó chịu. Người mẹ INFJ đặc-biệt dính liền với đứa con hơn các mẫu tính tình khác: y như thể mẹ con là hình với bóng vậy. Liên-hệ mật-thiết giữa mẹ và con có thể tạo nên sự lệ-thuộc quá trớn, và như vậy tai-hại cho cả mẹ lẫn con. Đồng-thời người INFJ có thể sống thân-mật với con cái mà vẫn giữ kỷ-luật nghiêm-minh được. Họ thường để ý đến bầu-khí êm-ấm của gia-đình, nhất là về sức khỏe, an-vui hạnh-phúc của người phối-ngẫu và của con cái.

    3.- người ENFP nhà báo: 5%
    Đối với người ENFP, không có sự gì xẩy ra mà không có một ý-nghĩa, và họ nhìn thấy một ý-nghĩa huyền-bí về động-lực nơi người khác, nhờ đó họ có tài nhìn thấy đời sống như một tấn tuồng thích-thú đầy những cơ-hội vừa thiện vừa ác. Trong 100 người chỉ có 5 người thuộc mẫu ENFP, nhưng lại có ảnh-hưởng rất nhiều trên người khác. Người ENFP cố-gắng đi tìm những gì là chính-thực, ngay cả khi hành-động bộc-trực tự-nhiên: điều này thường được biểu-lộ qua cử-chỉ điệu-bộ hơn là ngôn-từ, và làm cho người khác cảm thấy hấp-dẫn. Tuy nhiên, người ENFP luôn nhận thấy cố-gắng của họ để được trung-thực tự-nhiên còn thiếu sót, nên họ tiếp-tục làm công việc ‘đội đá vá trời’, than phiền rằng họ hiểu biết mình quá nhiều.

    Người ENFP coi những kinh-nghiệm tình-cảm dạt dào là thiết-yếu. Tuy nhiên khi họ trải qua kinh-nghiệm tình-cảm, họ cảm thấy khó chịu vì họ ý-thức được rằng một đàng họ đang sống kinh-nghiệm này, một đàng họ đã bị tách xa. Họ cố-gắng sống thuần-nhất, nhưng lại luôn luôn nhận thấy họ không còn vấn vương những tâm-tình đích-thực của họ nữa, trong khi đó người ENFP có rất nhiều loại tâm-tình.

    Người ENFP luôn luôn dò dẫm khám xét môi-trường ngoại-cảnh, và không để một cái gì thoát khỏi tầm mắt quan-sát của họ. Họ là những nhà quan-sát am-tường và tinh-vi, có thể một lúc để ý nhận xét người khác rất kỹ-lưỡng mà vẫn ý-thức được những gì đang xẩy ra nơi họ. Mức-độ chú-ý của họ không bao giờ là thụ-động, bình-thường, mơ-hồ, nhưng luôn là định-hướng. Thỉnh thoảng người ENFP nhận thấy mình giải-thích hiện-tượng theo chiều-hướng đoán mò, gán ghép ý-nghĩa đặc-biệt cho lời nói và hành-động. Lối giải-thích mò này có vẻ tiêu-cực và thường không chính-xác. Hậu-quả là người ENFP sẽ bị rơi vào một tình-trạng nguy-hiểm: họ đã gây nên ấn-tượng tai-hại vô-ích. Người ENFP có nhận-định tri-thức rất xuất-sắc, nhưng họ có thể có nhiều phán-đoán suy-luận sai lầm làm cho chính họ cũng phải bực mình khó chịu. Họ phạm vào một lầm lỗi này là đi tìm sự kiện để chứng-minh thiên-kiến của họ. Họ có thể hoàn-toàn đúng trong cách nhận-định tri-thức, nhưng lại sai hẳn trong phán-đoán suy-luận.

    Người ENFP có khuynh-hướng rất nhậy cảm và dễ thức-tỉnh, nên cũng dễ bị căng thẳng thần-kinh gân cốt. Họ luôn sống sẵn sàng đối-phó với khẩn-trương, và cứ tưởng người khác cũng sẵn sàng như họ vậy. Họ có thể mau chán ngán vì hoàn-cảnh về người khác, và không muốn sống lại cùng một kinh-nghiệm mãi. Họ thích-thú sáng-tạo một cái gì như một tư-tưởng mới, một dự-án mới, nhưng lại không chịu chú-ý theo dõi tiếp. Họ rất dễ phấn-khởi một cách đặc-biệt và tạo nên phấn-khởi cho người khác. Người ENFP dễ lôi cuốn người khác chiều theo ý họ. Tuy nhiên người ENFP tỏ ra tinh-thần tự-lập tự-chủ rất cao: họ không muốn chính mình cũng như người khác phải lệ-thuộc ai cả. Họ có khuynh-hướng đặt nhiều thế-lực vào các nhà cầm quyền hơn là thực-tế đòi hỏi, và muốn nhờ đó mà quan-sát mọi người mọi sự khác – một việc mà lẽ ra họ không nên làm. Người ENFP chống lại ý-tưởng để người khác lệ-thuộc họ, hoặc để họ có quyền trên người khác, nhưng tư-cách hấp-dẫn của họ lôi cuốn nhiều người theo đường lối của họ. Người ENFP luôn có những người tìm đến học hỏi sự khôn-ngoan, nguồn hứng-khởi, lòng can-đảm, vai trò lãnh-đạo, và cứ vậy mà người ENFP bị người khác áp-lực đòi hỏi khá nhiều.

    Người ENFP có đức tính lạc-quan và họ ngạc-nhiên khi thấy người khác hành-động, cũng như sự việc không xẩy đến như họ mong mỏi. Nhiều khi lòng họ tin-tưởng vào sự thiện-hảo của định-mệnh và bản-tính con người là lời tiên-đoán chỉ đúng trên chính mình họ.

    Người ENFP có rất nhiều khả-năng để chọn đủ mọi nghề và làm nghề nào họ cũng dễ thành-công. Người ENFP là người làm việc hăng say, phấn-khởi, dễ thương, có nhiều sáng-kiến và óc tưởng-tượng, và có thể làm bất cứ việc gì họ thích. Họ có thể giải-quyết đa-số các vấn-đề, nhất là những việc có liên-quan tới con người. Họ sống thoải-mái dễ chịu với đồng-nghiệp; người khác thích làm việc với họ. Người ENFP có tài thu-hút quần-chúng thật xuất-sắc, khéo tổ-chức hội-họp và thảo-luận, cho dù họ không giỏi về phương-diện cung-cấp chi-tiết sinh-hoạt. Họ thích tìm ra những cách-thức mới lạ, và những dự-án của họ lúc đầu là những mục-đích cao-đẹp lại mau mang tính-cách riêng tư. Chính họ giầu tưởng-tượng nhưng lại khó chấp-nhận sáng-kiến và tư-tưởng của người khác. Chỉ khi nào họ coi những sáng-kiến và tư-tưởng đó là của họ, người ENFP mới dồn nghị-lực và tâm-huyết vào. Một khi nhân-sự và dự-án đã trở thành tập-quán, người ENFP hết hứng-thú. Họ thích những gì có thể có trong tương-lai hơn là những gì đang có trong hiện-tại. Thông thường họ có nhiều liên-hệ tình-nghĩa riêng tư: họ dồn nghị-lực để bảo-vệ tình-nghĩa riêng tư, cũng như để duy-trì những giao-tiếp xã-hội.

    Nhóm ENFP là những nhà buôn đại-tài, những nhà quảng-cáo, những nhà chính-trị, những văn-sĩ viết tuồng kịch, và nói chung họ thích những nghệ-thuật diễn-tả, đặc-biệt là kịch-nghệ về tâm-tính con người. Người ENFP cần-thiết phải làm những việc có liên-hệ giữa người với người, muốn thấy những giao-tiếp phản-ứng giữa người này với người kia. Người ENFP nhận thấy họ khó có thể làm việc được trong những gò bó của một tổ-chức, nhất là khi phải theo quy-tắc, luật-lệ, hình-thức hoạt-động kiểu-mẫu. Hơn thếâ nữa, những chính-sách, khuôn phép thường là mục-tiêu muốn đương đầu và muốn thay đổi. Những đồng-nghiệp và cấp trên đôi khi thấy họ buộc lòng phải thích-nghi và cứu-vãn. Có khi người ENFP tỏ ra không kiên-nhẫn với người khác: họ có thể có khó khăn trong một tổ-chức vì họ dễ liên-kết với những người chống-đối, bởi lẽ họ có khuynh-hướng lắng nghe và ra tay cứu-độ. Khi chọn nghề, người ENFP dễ bị lo lắng nếu công việc đòi hỏi chi-tiết công-phu và phải theo dõi một thời-gian. Người ENFP có tài thích-ứng thay đổi những công việc hằng ngày để họ có linh-động phản-ứng tùy-nghi theo sáng-kiến của họ.

    Người phối-ngẫu ENFP có khuynh-hướng hiền-hòa, dễ mến, dễ thông-cảm và không a-dua. Họ không thích những tập-quán thông thường mỗi ngày, và luôn luôn đi tìm kiếm những nguồn cảm-hứng mới. Cha mẹ ENFP tận tụy với con cái, cho dù có lúc theo hứng bất-tử, đang là bạn cứu-nhân độ-thế lại trở thành cánh tay uy-quyền nghiêm-minh. Không phải lúc nào họ cũng tỏ ra cương-quyết cứng dắn, vì họ có thể cho người bạn phối-ngẫu của họ thi-hành quyết-định. Người phối-ngẫu của một người ENFP có thể nhận được những bất-ngờ thích-thú: khi dư-giả thì có thể tỏ ra quảng-đại đến độ xa-hoa. Người ENFP không thích người bạn phối-ngẫu tiêu tiền một cách tự-do tự ý, họ có thể bắt phải đem trả một món đồ đã mua.

    Thông thường người ENFP quán-xuyến mọi việc trong gia-đình, và muốn có được một gia-đình êm ấm, không xung-khắc mâu-thuẫn. Người ENFP quán-xuyến việc gia-đình có thể mải mê sắm những đồ xa-hoa để rồi hết tiền lo những sự cần-thiết. Họ không luôn tha-thiết tiết-kiệm dành dụm cho tương-lai, và ít khi để ý đến bảo-hiểm nhân-thọ, trương-mục tiết-kiệm, tiền túi cho vợ/chồng con cái.

    Người ENFP có đặc-điểm thích đi tìm những cái mới lạ, chỉ lo coi những gì có thể thay đổi, và có trực-giác thật mạnh mẽ. Đồng-thời họ tỏ ra thoải-mái, dễ thương dễ mến với người khác, và thường thường họ cư-xử thật hay với mọi người. Khuynh-hướng hướng-ngoại của họ phát-triển tối-đa, và khả-năng tìm sự mới lạ, khả-năng đóng kịch của họ cũng triển-nở thật dễ dàng.

    4.- người INFP nhà chinh-phục: 1%
    Người INFP có bộ mặt thật dễ thương, bình-tĩnh đối với thế-giới bên ngoài, và thường tỏ ra nhút nhát, ít nói. Mặc dầu bề ngoài người INFP tỏ ra lạnh-nhạt dè dặt đối với người khác, nhưng bên trong của họ lại khác xa hoàn toàn. Họ có khả-năng chăm sóc hơn các mẫu tính tình khác. Họ chăm nom săn sóc một cách hết sức tận tình, có khi đến độ say mê, đối với số một người đặc-biệt, một số lý-tưởng đặc-biệt. Có thể tóm tắt tính tình của người INFP bằng hai chữ ‘lý-tưởng’. Nhiều khi đặc-tính lý-tưởng này làm cho người INFP bị cô-lập, bởi vì trong 100 người chỉ có một người INFP thôi.

    Người INFP quý-trọng danh-dự vì họ tin-tưởng vào những giá-trị nội-tâm. Người INFP là hoàng-tử, là công-chúa trong các chuyện-thần-thoại, là cận-thần của hoàng-đế, là người bảo-vệ niềm tin, là người ngự-lâm pháo-thủ lâu-đài. Sir Galaha (Nguyễn Trãi của Việt-Nam) và Thánh nữ Jeanne d’Arc (Hai Bà Trưng của Việt-Nam) là điển-hình cho người INFP nam và nữ. Muốn hiểu được người INFP, phải hiểu biết lý-tưởng họ theo đuổi, bởi vì họ sẵn sàng hy-sinh chịu khó thật khác thường đối với con người và lý-tưởng họ tin theo.

    Người INFP muốn tìm cách thống-nhất nếp sống, hiệp-nhất xác hồn, tâm-tình và trí-tuệ. Họ thường có một chút bi-ai tinh-vi trong cuộc sống của họ, nhưng ít ai có thể nhận ra. Người INFP dấn-thân miệt mài cho lý-tưởng cao đẹp và tích-cực, nên tất nhiên họ phải quan-tâm tới những gì xấu xa tiêu-cực, làm ra vẻ như họ quyến-luyến với những phàm-tục. Vì thế người INFP sống y như là mâu-thuẫn: một đàng hướng về thuần-khiết và duy-nhất, một đàng lại để ý coi chừng nhơ bẩn và phàm-tục. Khi người INFP tin rằng họ đã nhượng-bộ để cho cám-dỗ bất-chính lũng-đoạn, họ sẽ tự-động đền tội bằng những hy-sinh do chính mình áp đặt cho mình. Những hy-sinh này chỉ xẩy ra trong nội-tâm của người INFP, chứ không phải do áp-lực quần-chúng.

    Người INFP thích phương-pháp thẩm-định giá-trị hơn là suy-luận thuần-túy. Họ đáp-ứng khi có vấn-đề xấu đẹp, lành dữ, thiện-ác. Những ấn-tượng tạo được là do đường lối linh-động, toàn bộ và rộng rãi. Những lời nói bóng bẩy, những hình ảnh tương-tự sẽ tới một cách tự-nhiên nhưng có thể phải cố-gắng một chút. Người INFP có tài giải-thích cũng như sáng-tạo các biểu-tượng, và văn họ viết đầy tình-tứ thi-vị. Họ có thể để lộ khuynh-hướng không đếm xỉa đến lý-luận bao nhiêu. Khác với người NT, người INFP coi lý-luận như chuyện phụ-thuộc, có cũng được mà không có cũng chẳng sao cả. Có khi người INFP nhận một lãnh-vực họ không quen thuộc bao nhiêu, bởi lẽ họ muốn đối-phó với thực-tế là tổng-quát và tạo ấn-tượng, nên không có thể nắm vững được các chi-tiết đầy đủ. Người INFP khó mà suy-nghĩ tới một khung-cảnh giả-tưởng để làm việc, bởi vì họ chỉ nhận thấy rằng một là sự việc có thật, hai là tưởng-tượng, nên họ không kiên-nhẫn được với chuyệïn giả-tưởng.

    Nơi sở làm, người INFP dễ thích-ứng, đón nhận các tư-tưởng mới, các tin-tức mới, để ý tới người khác cũng như để ý tới tâm-tình họ biểu-lộ, và giao-tiếp dễ dàng với hầu hết mọi người, cho dù có khi giữ một khoảng cách tâm-lý xa xa. Người INFP không thích bị đứt quãng khi làm việc; họ làm việc rất đàng-hoàng một mình cũng như với người khác. Họ kiên-nhẫn đủ với những chi-tiết theo thói quen tập-quán. Họ có thể sai lầm về sự kiện chứ không sai lầm về giá-trị. Họ thích chọn những nghề về mục-vụ, truyền-giáo, dạy đại-học, tâm-lý trị-liệu, kiến-trúc, tâm-lý tổng-quát, và tránh những nghề kinh-doanh. Họ thường tỏ ra cố-gắng để học hỏi cho đủ kiến-thức và kinh-nghiệm nghề-nghiệp của họ đòi hỏi, và ở đại-học, họ học khá hơn là ở trung-học. Họ có năng-khiếu về học hỏi, và có biệt-tài về ngôn-ngữ cũng như những người khác trong nhóm NF. Nhiều khi họ nghe tiếng gọi kêu mời họ ra đi khắp nơi giúp ích mọi người. Họ sẵn sàng chấp-nhận hy-sinh cá-nhân để đáp lại lời mời gọi linh-thiêng cao siêu đó, cho dù đôi khi họ kêu gọi người khác cũng phải hy-sinh như họ. Người INFP là những tiểu-thuyết-gia có hạng và những kịch-sĩ về tính tình thật xuất-sắc, bởi vì họ có thể quên con người của họ đi, để diễn-tả tâm-tình của người khác, mà các mẫu tính tình khác không làm được.

    Trong đời sống hôn-nhân, người phối-ngẫu INFP tôn-trọng lời họ thề-hứa cam-kết. Họ thích sống hòa-hợp và sẵn sàng làm mọi sự để tránh xung-đột đổ vỡ. Họ nhậy cảm để ý tới tâm-tình ý-nghĩ của người khác, và lấy làm thích-thú được giúp đỡ chăm sóc người khác. Họ có thể cảm thấy khó dung-hòa được quan-niệm lý-tưởng và lãng-mạn của đời hôn-nhân với thực-tế của cuộc sống hằng ngày với người bạn đời. Thực-tế là đôi khi người INFP hình như cảm thấy sợ hãi về những thành-công rực rỡ, lo sợ vì những bước tiến hiện-tại có thể bắt họ phải trả giá bằng hy-sinh sau này. Dĩ nhiên người INFP nghĩ rằng thế nào cũng có luật bù trừ, khi họ cảm-nghiệm được thành-công, sắc đẹp, sức khỏe, tài-sản và kiến-thức một cách quá dễ dàng. Vì thế người INFP đề-phòng tránh né không có muốn hưởng-thụ trọn vẹn hạnh-phúc vợ chồng. Họ có thể khó diễn-tả những thân-mật vồn vã một cách trực-tiếp, nhưng lại thông-cảm trong những sở-thích và tâm-tình một cách gián-tiếp.

    Đối với người INFP, nhà của họ là một lâu-đài. Người cha mẹ INFP bảo-vệ gia-đình, nhà cửa của họ thật mạnh dạn, và dồn hết nghị-lực lo cho các người trong nhà. Họ có nhiều khả-năng để tận-tụy hy-sinh, thông-cảm, thích-ứng với người khác , nên rất dễ sống chung. Họ trung-tín với gia-đình, và cho dù có mơ mộng một khoảng trời nào đó tốt đẹp hơn, dù có đi lạc vào khung trời đó chăng nữa, họ cũng mau nhận ra những khó chịu dằn vặt. Trong tiềm-thức, họ có tiên-kiến rằng vui thú nào cũng phải trả giá bằng đau khổ, nên họ có thể tạo nên trở ngại trong gia-đình, vì lúc nào cũng phải đề-phòng canh chừng không có cho cái gì xa lạ xâm-nhập. Trong nếp sống bình-thường mỗi ngày, người INFP có khuynh-hướng thích-nghi theo hoàn-cảnh, và muốn người khác quyết-định thay cho họ, ngoại trừ trường-hợp giá-trị họ tin-tưởng bị xâm-phạm. Khi đó người INFP sẽ xông pha nhập cuộc và sẽ không chịu nhường bước. Cuộc sống với người INFP thường êm đềm dễ dãi về dài về lâu, cho đến khi lý-tưởng của họ bị đả phá, xâm phạm. Khi đó họ mới chống-đối và đối-phó.

    5.- người ENTJ chỉ-huy-trưởng: 5%
    Chỉ cần một chữ đủ để mô-tả người ENTJ: chỉ-huy. Động-lực căn-bản và nhu-cầu thiết-yếu của người ENTJ là lãnh-đạo, chỉ-huy, và ngay khi còn nhỏ người ENTJ cũng đã thích đứng đầu nhóm bạn bè. Trong 100 người chỉ có 5 người thuộc mẫu ENFJ. Người ENFJ dù ở đâu cũng có khuynh-hướng đặt cơ-cấu lề-lối tổ-chức, để huy-động người khác hướng về những mục-đích cao xa. Đường lối suy-tư của họ là thực-tế, khách-quan, hướng-ngoại và họ phát-triển đường lối suy-tư này thật cao; nhờ đó họ sử-dụng cách phân-loại, tổng-quát-hóa, tổng-kết và suy-diễn từ những sự thực hiển-nhiên, và chứng-minh thật dễ dàng. Họ giống người ESTJ, ban điều-hành, ở điểm cả hai cùng có khuynh-hướng thiết-lập kế-hoạch để thực-hiện một công-tác, một dịch-vụ, một tổ-chức, nhưng người ENTJ thích tìm chính-sách, kiếm mục-đích hơn là điều-lệ quy-tắc như người ESTJ. Lối suy-tư hướng-nội, phân-tích và bảo-trì của người ENTJ phát-triển nhiều hơn là lối suy-tư hướng-ngoại, và người lãnh-đạo ENTJ có thể phải xin người phát-minh ENTP hoặc người kiến-trúc-sư INTP góp ý-kiến. Người ENTJ cũng gần giống người INTJ chỉ trừ điểm này là họ tin vào tư-tưởng thực-tế hơn là trực-giác. Tuy nhiên nhờ họ có trực-giác về thuần-nhất mà tư-tưởng thực-tế của họ được nâng đỡ và phát-triển.

    Cho dù người ENTJ dễ chấp-nhận các thủ-tục công-thức sẵn có, họ cũng dễ bỏ các thủ-tục công-thức đó khi thấy không có ích gì cho mục-đích họ theo đuổi. Người ENTJ từ-chối tất cả những gì không đem lại kết-quả, và dễ bị mất kiên-nhẫn vì những lỗi lầm. Đối với người ENTJ, làm việc gì cũng phải có lý-do, và tình-cảm không phải là lý-do tốt để làm việc. Người ENTJ đứng đầu một tổ-chức biết biểu-lộ ước-vọng và thường có khả-năng hơn các mẫu tính tình khác, để biết rộng nhìn xa để giúp mọi người tới hướng đi của tổ-chức, và thường truyền-đạt viễn-tượng ước mơ đó cho người khác. Họ là những người có năng-khiếu tự-nhiên để xây dựng một tổ-chức, và không thể nào không lãnh-đạo chỉ-huy. Họ luôn thấy mình chỉ-huy và có khi mê-mẩn không hiểu lý-do tại sao mình lại được như vậy. Người chỉ-huy ENTJ biết tổ-chức các đơn-vị họ điều-khiển thành một hệ-thống hoạt-động êm đềm, đặt kế-hoạch tiên-liệu trước, luôn nhớ tới các mục-đích dài hạn ngắn hạn. Họ tìm và thường kiếm được các nhân-viên đắc-lực hữu-hiệu. Họ thích những quyết-định tựa trên những sự kiện vô-tư, và họ muốn làm việc theo một kế-hoạch đã được suy-nghĩ chín-chắn, và thích dùng các hoạt-động có sắp đặt thứ-tự, và họ muốn người khác cũng phải theo như họ đã làm. Người ENTJ ủng-hộ chính-sách của tổ-chức và mong muốn người khác cũng làm như vậy.

    Người ENTJ thường sẽ thăng-tiến các ngạch trật đòi hỏi trách-nhiệm và họ thích làm giám-đốc, chủ-sự. Họ tận tụy miệt mài với công việc mà không biết mệt, và họ có thể hy-sinh không để ý đến một lãnh-vực khác trong nếp sống của họ để làm công việc họ theo đuổi. Họ có khả-năng giảm-thiểu những gì là vô-hiệu, không kết-quả, rắc rối vô-ích, và họ sẵn sàng sa-thải các nhân-viên cứ tiếp-tục có hành-động như vậy. Người ENTJ có khuynh-hướng làm việc trong một cơ-cấu có tổ-chức, họ thích được đứng đầu chỉ-huy, và dễ leo lên các cấp-bậc cao dù là quân-sự, xí-nghiệp, giáo-dục hay chính-quyền.

    Người ENTJ làm chủ gia-đình. Khi họ về nhà, ai cũng biết người nào làm chủ trong nhà. Nhưng đối với người ENTJ, việc làm là rất quan-trọng, nên có thể họ sẽ hay vắng nhà, nhất là đàn ông. Người ENTJ nam cũng như nữ mong muốn rất nhiều nơi người phối-ngẫu của mình phải có tư-cách nghị-lực, phải biết tự-lập tự-chủ, phải có nhiều sở-thích thay đổi và có tinh-thần tự-trọng cao. Tuy nhiên một người đàn bà có nghề-nghiệp đàng hoàng thường không lôi cuốn người đàn ông ENTJ bao nhiêu, bởi lẽ chàng thích coi nhà cửa gia-đình của chàng như là một phần đóng góp vào nghề-nghiệp của chàng, là một nguồn lực phụ giúp cho chàng phát-triển nghề-nghiệp.

    Là cha mẹ, người ENTJ hoàn toàn làm chủ và con cái phải biết cha mẹ muốn gì: vâng-phục. Khi con cái không vâng lời, cha mẹ ENTJ có thể không thích làm sóng gió, nhưng có thể là quở trách vừa phải nhưng cương-quyết và đòi hỏi phải hứa vâng lời như trước. Người ENTJ coi nhiệm-vụ tình yêu vợ chồng và trách-nhiệm làm cha mẹ là quan-trọng, nhưng cũng có khi bị che lấp bởi những thích-thú nghề-nghiệp. Người ENTJ thường không đi tìm một nơi lãng-mạn hoặc người yêu lý-tưởng. Tuy nhiên, họ mong muốn một mái nhà hấp-dẫn, thứ-tự, ăn uống có giờ giấc, và giường chiếu gọn gàng sạch sẽ. Họ muốn như thế để mong sao gầy dựng được một hệ-thống gia-đình lành mạnh để giáo-dục con cái hữu-dụng, khỏe mạnh, và để tạo nên hòa-khí thông-cảm giữa vợ chồng. Người chồng ENTJ có thể muốn vợ cũng phải hoạt-động xã-hội và sinh-hoạt cộng-đồng, cũng phải hiểu biết vấn-đề xã-hội và có trình-độ văn-hóa cao như chàng. Người vợ ENTJ có thể khó mà tìm được một người chồng không sợ tư-cách cao cường và bản-lĩnh vững chắc như mình.

  15. CHƯƠNG 6

    nhận-định tổng-quan

    Sau đây là chân-dung toàn-bộ của mỗi mẫu tính tình.

    6.- người INTJ nhà khoa-học: 1%
    Người INTJ là mẫu người có lòng tự-tin cao nhất: họ tự ý-thức nhận-định được nghị-lực của mình. Trong 100 người chỉ có một người INTJ: họ sống trong thực-tế nội-tâm, chú-trọng đến những gì khả-hữu, có thể xẩy ra, biết suy-tư theo hình-thức lý-luận thực-nghiệm, và muốn mọi người mọi sự có một giá-trị tích-cực. Người INTJ quyết-định một cách dễ dàng tự-nhiên, và khi đã quyết-định xong là yên-tâm không lo lắng gì nữa. Người INTJ nhìn về tương-lai hơn là quá-khứ, và cuộc sống của họ có thể tóm tắt được bằng hai chữ xây-dựng. Họ thích xây dựng các hệ-thống và áp-dụng các hình-thức lý-thuyết vào thực-tế.

    Đối với người INTJ, quyền-bính nào phải tựa vào chức-vụ, đẳng-cấp, tước-vị và tiếng tăm sẽ không có hiệu-lực tuyệt-đối. Người INTJ không có để mình dễ bị lung-lạc bởi các biểu-ngữ, khẩu-hiệu, hô-hoán. Nếu một tư-tưởng hoặc lập-trường nào có lý, người INTJ sẽ chấp-nhận ngay; nếu không có lý, họ sẽ không bao giờ chấp-nhận, cho dù bất cứ là ai đã sáng-kiến nẩy ra ý-định đó hoặc đã chủ-trương lập-trường đó. Cũng như người kiến-trúc-sư INTP, người INTJ không để cho uy-quyền gây ấn-tượng nào.

    Tuy nhiên người INTJ có khuynh-hướng tuân theo các kỷ-luật hữu-ích, không phải vì họ tin vào các kỷ-luật đó, hoặc bởi vì kỷ-luật có nghĩa-lý, nhưng bởi vì cách họ nhận-định thực-tế một cách độc-đáo. Người INTJ là những người có óc thực-tế tuyệt vời, họ coi thực-tế là những gì do thiên-kiến và giả-tạo, do đó có thể dùng thực-tế như một dụng-cụ, hoặc cũng có thể bỏ qua luôn.Thực-tế được nhào nặn và có thể thay đổi, bị chinh-phục hoặc bị khống-chế. Thực-tế là một điều ngăn trở trong việc trau dồi tư-tưởng, và hiểu theo nghĩa đó, người INTJ là người có óc thuyết-lý nhiều hơn ai hết. Người cổ-động-viên ESTP coi tư-tưởng như quân cờ của thực-tế, còn người INTJ coi thực-tế là quân cờ của tư-tưởng. Không có tư-tưởng nào có thể bị coi là quá xa vời không thể nghĩ tới được. Người INTJ là người khai-phá tư-tưởng rất dễ dàng, luôn luôn đón nhận những quan-niệm mới, và trên thực-tế họ tích-cực đi tìm kiếm tư-tưởng mới.

    Người INTJ điều-động thế-giới thuyết-lý y như thể một bàn cờ vĩ-đại, luôn đi tìm chiến-thuật, kế-hoạch nào đem lại thành-tích cao. Người INTJ cũng giống người INTP kiến-trúc-sư về khuynh-hướng lý-luận. Tuy nhiên lối lý-luận của người INTJ không bị gò bó trong cách suy-tư bằng ngôn-từ. Người INTJ khác với người INTP ở chỗ họ chỉ cần có một ấn-tượng mơ hồ, một trực-giác do lối lý-luận không diễn-tả được là đủ để họ tiếp-tục suy-tư, và chỉ chừng đó là đủ. Hơn nữa họ có mắt nhìn thật tinh-tế để nhận ra những thành-quả khi họ áp-dụng các tư-tưởng mới, các lập-trường mới. Có khi họ tỏ ra tàn-nhẫn trong việc áp-dụng các hệ-thống, ít khi quan-tâm tới những hy-sinh cá-nhân về thời-giờ và nghị-lực. Những lý-thuyết nào không thể áp-dụng được sẽ bị người INTJ sa-thải ngay.

    Muốn hiểu được người INTJ, phải cẩn-thận quan-sát cách họ đối-phó với các tư-tưởng. Tư-tưởng họ ý-thức được là hướng-ngoại và thực-tiễn. Vì thế họ có khả-năng khá để tổng-quát-hóa, phân-loại, tóm lược, dẫn-chứng cụ-thể, chứng-minh, đưa ra bằng cớ hơn là người INTP. Người INTJ không cảm thấy tự-nhiên với lý-trí thuần-lý bao nhiêu, tức là hệ-thống lý-luận với các nguyên-lý minh-bạch. Xét theo khía cạnh đó, họ cũng giống như người ENTJ chỉ-huy-trưởng. Thay vì dùng lối lý-luận suy-diễn, người INTJ dùng trực-giác để che lấp khoảng trống.

    Người INTJ có bản-tính muốn làm việc gì cũng phải xong, luôn luôn để ý nhìn xa tới những hậu-quả có thể xẩy ra. Các tư-tưởng ý-kiến hình như có một sức mạnh đặc-biệt đối với người INTJ, cho dù họ phải thử xem tư-tưởng nào có ích, ý-kiến nào có lợi. Công việc càng khó khăn, người INTJ càng thích, vì tính của họ là muốn có thử-thách và sáng-tạo. Những đặc-tính đó đưa đẩy người INTJ vào những nghề-nghiệp áp-dụng kiểu-mẫu lý-thuyết vào thực-tế. Họ thích xây dựng các hệ-thống sự kiện và tổ-chức sắp-đặt người việc bất cứ khi nào họ có cơ-hội. Họ rất xuất-sắc trong ngành nghiên-cứu để sản-xuất ra đủ mọi cách áp-dụng tư-tưởng ý-kiến. Cùng làm việc với người INTP mẫu người kiến-trúc các hệ-thống, người INTJ cung-ứng một khía cạnh cần-thiết cho một tổ-chức để bảo-đảm rằng công-trình của người INTP không đóng bụi trên giá sách thư-viện.

    Người INTJ đôi khi có tư-tưởng một chiều: đây có thể là ưu-điểm hoặc cũng có thể là khuyết-điểm cho nghề-nghiệp của họ, bởi lẽ họ có thể bỏ qua quan-điểm và ước muốn của người khác. Người INTJ thường leo cao lên các địa-vị có trách-nhiệm, bởi vì họ làm việc trường-kỳ cần-mẫn và luôn theo đuổi mục-đích của họ, không để phí phạm thời-giờ và cố-gắng của mình cũng như của đồng-nghiệp hoặc của nhân-viên.

    Người INTJ muốn sống để nhìn thấy các hệ-thống tư-tưởng chuyển thành thực-thể hữu-ích, còn ngược lại, người INTP chỉ hài-lòng phác-họa ra các hệ-thống đó. Tuy nhiên cả hai mẫu người cùng coi việc tư-tưởng duy-nhất là điều rất quan-trọng. Duy-nhất bên ngoài cũng như duy-nhất bên trong thật là quan-trọng đối với người INTJ, nên nếu khi làm việc mà họ thấy các phận-vụ dẫm chân lên nhau, các cố-gắng giống nhau, các giấy tờ không hiệu-quả, và phí phạm nhân-tài-vật-lực, họ sẽ không thể ngồi yên được cho đến khi điều-chỉnh được tình-trạng. Người INTJ quan-niệm việc làm phải có kết-quả tương-ứng với cố-gắng, và họ thường chọn nghề kỹ-sư, nhất là kỹ-sư nhân-sự. Cũng có khi thấy họ chọn ngành vật-lý, hoặc những chức-vụ đòi hỏi phát-triển như sắp đặt chương-trình, hoặc nói chung bất cứ công việc gì đòi hỏi sáng-tạo và áp-dụng kỹ-thuật vào các lãnh-vực phức-tạp.

    Những cộng-sự-viên của người INTJ thường cảm thấy y như rằng người INTJ có thể nhìn thấu suốt con người của họ và thường tin rằng người INTJ cần họ. Cảm-tưởng bị người INTJ nhìn thấu suốt thường tạo nên những xa cách tâm-lý trong liên-hệ giữa người với người. Những cộng-sự-viên thường nhận thấy người INTJ bề ngoài như không có tình-cảm, và có khi lạnh nhạt, vô-tâm. Bởi lẽ người INTJ có khuynh-hướng bắt người khác cũng phải làm việc hăng say như họ, nên họ dễ tỏ ra đòi hỏi, và khó có ai có thể làm vừa lòng họ. Người INTJ thành-công khả-quan trong trường học nơi sở làm. Nơi sở làm, họ coi mục-đích của sở rất nghiêm-chỉnh, và tiếp-tục đáp-ứng các mục-đích này. Họ là những nhân-viên tận-tụy, trung-thành: trung-thành với cơ-sở hệ-thống tổ-chức hơn những thành-viên khác. Do đó, thành-viên trong tổ-chức có thay đổi cũng không ảnh-hưởng tới người INTJ bao nhiêu, khác hẳn với nhóm người NF muốn trung-thành với thành-viên hơn với tổ-chức. Thông thường người INTJ có khuynh-hướng nói ra những điều hay và ngậm tăm về những lời phê-bình tiêu-cực. Họ muốn tổ-chức tiến-tới hơn là cay đắng về lỗi lầm quá-khứ.

    Người phối-ngẫu INTJ muốn có hòa-khí và trật-tự trong gia-đình và trong liên-hệ tình-nghĩa. Họ là loại người tự-lập tự-chủ nhất trong các mẫu tính tình. Họ luôn tín-nhiệm trực-giác của họ trong việc chọn lựa bạn hữu và người phối-ngẫu, cho dù đôi khi người khác hiển-nhiên chống-đối và làm áp-lực. Khó mà đọc được rõ tâm-tình của người INTJ, và nam cũng như nữ INTJ rất khó bộc-lộ tâm-tình của mình. Thỉnh thoảng cả hai người nam nữ có vẻ như lạnh nhạt, nhút nhát và bất-động, trong khi thực ra người INTJ rất nhậy cảm khi bị những người thân-tín chối-từ. Trong giao-tế xã-hội, người INTJ có thể không tinh-tế và có khi quên lãng không giữ những hình-thức nho nhỏ giúp cho người khác dễ chịu. Chẳng hạn như người INTJ có thể cho biết rằng thời-giờ dùng để nhàn-đàm, tâm-sự vụn vặt là vô-ích, làm cho người khác có cảm-tưởng phải vội vã, cho dù đó không phải là điều họ muốn. Trong liên-hệ giữa người với người, người INTJ thường tỏ ra khả-quan khi làm việc hơn là khi giải-trí. Họ không thích những cử-chỉ thân-mật âu yếm, ngoại trừ với một nhóm nhỏ họ lựa chọn.

    Là cha mẹ, người INTJ rất tận-tụy và một lòng một trí lo cho con cái: con cái là trọng-tâm cuộc đời của họ. Họ nâng đỡ con cái và có khuynh-hướng để cho con cái phát-triển theo đường lối chúng lựa chọn. Người INTJ thường tỏ ra cương-quyết và nghiêm-minh trong vấn-đề kỷ-luật, và ít khi phải lặp đi lặp lại chỉ-thị cho con cái cũng như cho người khác. Họ có tinh-thần tự-chủ tự-lập hơn các mẫu tính tình khác, nên họ rất cần phải được độc-lập. Một khi họ tin rằng họ đúng phải, những lời chỉ-trích phê-bình của người khác chẳng ảnh-hưởng gì tới họ cả. Họ cũng có nhu-cầu đời sống riêng tư thật mạnh.

    Điều người INTJ lấy làm quan-trọng nhất đó là trực-giác, nhưng ít khi người khác nhận thấy được điều đó. Thường thường người ta nhận thấy đó là cách người INTJ dùng như một đường lối suy-tư để đối-phó với đời và với người. Người INTJ dễ bị tổn-thương trong lãnh-vực tình-cảm và dễ bị sai lầm trầm-trọng.

    7.- người ENTP nhà phát-minh: 5%
    Người ENTP muốn chứng-tỏ tài khéo phát-minh và sáng-tạo trong thế-giới con người và vũ-trụ vạn vật. Trong 100 người chỉ có 5 người ENTP: hướng-ngoại và trực-giác, họ dùng trí tưởng-tượng để đối-phó với các liên-hệ xã-hội cũng như các liên-hệ máy móc vật-chất. Họ luôn coi chừng những gì sắp xẩy đến và nhậy cảm đón trước những gì có thể xẩy ra.

    Người ENTP có tài phân-tích, đặc-biệt là phân-tích các nhiệm-vụ, vai trò, và biết chịu đựng cũng như thích có những vấn-đề phức-tạp. Người ENTP lúc nào cũng đầy phấn-khởi nên việc gì họ cũng thích làm, nhờ đó người khác coi họ như là nguồn cảm-hứng vậy: người ENTP làm cho người khác hăng say thích-thú. Mẫu người này có thể thích-thú bất cứ cái gì, và rất dễ làm đẹp lòng mọi người, và thường biểu-lộ sự vui tươi hứng-chí của người ENFP kế-cận. Trong tất cả các mẫu tính tình, người ENTP là mẫu người không muốn làm việc gì theo cách-thức riêng, chỉ vì đó là cách-thức mọi người vẫn quen làm. Họ có một con mắt quan-sát đặc-biệt để nhận ra một đường lối tốt hơn, luôn luôn đi tìm những chương-trình mới, những hoạt-động mới, những phương-pháp mới.

    Người ENTP tin-tưởng vào giá-trị những gì họ theo đuổi và chứng-tỏ khả-năng thật tài-tình để bỏ đi những gì là tiêu-chuẩn, truyềøn-thống và uy-quyền. Kết-quả của thái-độ cởi mở đó là họ thường đem lại một phương-thức mới mẻ tân-kỳ cho công việc họ làm và nếp sống của họ. Người ENTP nhận-định phán-đoán thật tinh-vi về thực-tế xã-hội và máy móc, và có thể trở thành chuyên-viên điều-hành các liên-hệ giữa phương-tiện và mục-đích.

    Người NTP hướng-nội coi dự-án như là một cùng-đích., còn người NTP hướng-ngoại lại coi dự-án chỉ là một phương-tiện. Cùng-đích là khi nào công việc phát-minh sáng-chế đem lại kết-quả, là khi nào có thể sản-xuất tiếp những công việc như dự-án đầu-tiên dự-liệu. Các tư-tưởng chỉ có giá-trị khi được thực-hiện thành-công trong hoạt-động và đối-tượng. Khi một người nói ‘làm như thế là không được’, người ENTP chấp-nhận như một thách-đố và phản-ứng lại bằng cách nói ‘tôi sẽ làm được như thế cho mà coi’. Tuy nhiên họ không phải là những người chuyển núi rời non như người INTJ. Người ENTP tin-tưởng vững chắc rằng họ có khả-năng tùy cơ ứng-biến, và thực sự họ có biệt-tài đáp-ứng lại đòi hỏi cấp-bách của hoàn-cảnh. Bề ngoài người phát-minh ENTP giống như người cổ-động-viên ESTP ở điểm dám nói dám làm. Nhưng trọng-tâm của người ENTP là khả-năng và sức mạnh do khả-năng tạo-dựng, còn người ESTP thì chú-trọng vào tư-tưởng được tự-do vì dám nói dám làm.

    Người ENTP nói chuyện thật hấp-dẫn lôi cuốn: họ có khả-năng theo dõi những ngôn-từ phức-tạp của người khác. Có khi họ chủ-tâm dùng chiến-thuật tranh-luận để làm bất-lợi cho đối-phương, kể cả khi đối-phương là những cộng-sự-viên hoặc bạn bè thân-tín. Người ENTP có khả-năng hơn các mẫu tính tình khác để duy-trì thế nước cờ đi trước vai vế ngồi trên đối với người khác. Họ đặt giá-trị cao vào việc thích-ứng và sáng-kiến linh-động nên dễ dàng đáp-ứng mau lẹ và thích-nghi với người khác hay thay đổi lập-trường. Có khi họ còn bước xa cả mấy bước trước người khác nữa. Người ENTP hoạt-bát và phấn-khởi, thường là linh-hồn của một cơ-sở tổ-chức. Người ENTP có óc kinh-doanh và có tài khéo làm bất cứ việc gì tới tay cũng như hợp-tác với bất cứ ai có mặt, vì họ tin-tưởng óc sáng-kiến của họ có thể giải-quyết vấn-đề xẫy ra, hơn là ngồi đó mà thảo ra một dự-án đầy đủ chi-tiết trước. Người ENTP chỉ cần một bản sơ-thảo là đủ để họ có tự-tin bắt tay vào việc, tin-tưởng vào khả-năng tùy-cơ ứng-biến. Chính vì tin vào khả-năng tùy cơ ứng-biến và óc sáng-kiến phát-minh nên có khi người ENTP lơ là không chịu chuẩn-bị cẩn-thận. Chỉ sau khi thất-bại liên-tiếp vì sáng-kiến và ứng-biến không đủ, người ENTP mới chịu tìm cách để tránh các trường-hợp thất-bại đó thay vì chuẩn-bị chu-đáo.

    Người ENTP có thể thành-công trong nhiều nghề-nghiệp, miễn là công việc không đòi hỏi tập-quán buồn chán. Khi đó họ sẽ khó chịu đứng ngồi không yên. Nếu như một đồ-án họ đang-thực-hiện không còn tỏ ra thách-đố nữa, họ sẽ mau chán ngán và bỏ dở cuộc làm cho bạn đồng-nghiệp khó chịu.

    Ít có khi người ENTP tỏ ra a-dua lụy-phục. Người ENTP thích-thú tỏ ra vượt qua hệ-thống và thường dùng luật-lệ quy-tắc trong một hệ-thống để thắng cuộc, cho dù đó là cuộc gì chăng nữa. Họ hiểu rõ các mánh lới của tổ-chức và đối-phó với những thực-tế đó rất khéo, luôn luôn cố-gắng tìm hiểu người và việc trong hệ-thống hơn là phê-phán kết-án. Người ENTP có tài sáng-kiến sắp đặt các dự-án và thực-hiện các dự-án đó rất đàng-hoàng, miễn là không có tính cách thói quen nhàm chán. Họ là những giáo-sư xuất-sắc, luôn luôn nghĩ ra những phương-pháp mới để học-sinh cảm thấy phấn-khởi khi học-tập. Là nhân-viên khi làm việc, họ có thể đi ngược lại với hệ-thống sở làm, chỉ vì họ cảm thấy thích-thú khi hơn người khác. Người ENTP cảm thấy nhục-nhã khi bị lợi-dụng, bị người khác sai khiến điều-động. Khi bị nhục-mạ như vậy, họ không còn cảm thấy niềm vui được hơn người khác nữa. Người ENTP đương nhiên là những người kiến-trúc các liên-hệ tình-nghĩa và hệ-thống tổ-chức giữa người với người. Óc trào-phúng và diện-mạo lạc-quan của họ gây ảnh-hưởng dễ dàng, và ai cũng muốn làm quen và sống gần họ.

    Người phối-ngẫu ENTP có khuynh-hướng sáng-tạo một bầu-khí vui tươi náo-nhiệt. Họ dễ làm quen, luôn vui cười dễ dàng, và có óc trào-phúng tốt. Họ không cảm thấy hứng-thú bao nhiêu với những trật-tự do thói quen của nếp sống hằng ngày. Thường họ dùng những người trong nhà để chu-toàn những việc thường ngày đó. (Tom Sawyer đã biểu-lộ biệt-tài đó khi chàng giải-quyết vấn-đề phải sơn trắng bờ rào của Aunt Polly). Cuộc sống của người ENTP là một mạo-hiểm bạo-dạn: họ có thể đưa gia-đình vào những nguy-hiểm vật-chất, nguy-cơ tài-chánh. Người ENTP biến-báo linh-động để chứng-tỏ rằng họ không hoàn toàn biết rõ hoàn-cảnh mà tránh xa các nguy-hiểm đó.

    Nếu người phối-ngẫu ENTP không thích đua tranh, họ sẽ dễ cảm thấy mệt mỏi vì những cố-gắng cứ phải tiến hơn nữa, hậu-quả có thể là tranh-chấp xung-khắc. Mặc dầu người ENTP thường lo liệu cung-cấp tài-chính vật-chất đầy đủ, có khi họ liều mạng với nghề-nghiệp của họ, vì thái-độ không ý-thức được các hậu-quả xẩy đến. Do đó, họ có thể đưa ra những thách-đố không cần-thiết đối với những người có quyền trên sự-nghiệp của họ. Khi những thách-đố này tạo ra phản-ứng tiêu-cực nơi những cấp trên, người ENTP có khả-năng phản-ứng lại một cách thích-thú, cho rằng họ có cơ-hội ứng-biến một giải-pháp cho cuộc khủng-hoảng, và thường thường họ thành-công.

    Người ENTP muốn đủ mọi thứ sở-thích và thông-thạo cả trên những lãnh-vực bất-ngờ, nhưng họ lại không muốn chia sẻ các sở-thích đó bằng cách chỉ-bảo cho gia-đình vợ/chồng con cái biết. Thực ra người ENTP không được thuần-nhất trong vấn-đề lưu-ý tới con cái. Thông thường là cảnh ngày nay ăn tiệc ngày mai ăn chay. Người ENTP có nhóm bạn bè hăng hái và thích biết những tư-tưởng và hoạt-động của họ. Thông thường họ cởi mở, dễ chịu, ít khi phê-bình chỉ-trích hoặc phàn nàn lẩm bẩm. Tệ lắm họ để lộ ra khuyết-điểm hay thay đổi và khó tin cậy, và do đó dễ bị nản-chí.

    8.-người INTP kiến-trúc-sư: 1%
    Trong các mẫu tính tình, người INTP có tư-tưởng và ngôn-từ chính-xác hơn cả. Họ có khuynh-hướng nhận ra ngay được những phân-biệt tinh-vi, những dị-biệt tiểu-tiết trong tư-tưởng cũng như ngôn-từ. Một danh-từ có thể bắt mạch được đường lối đặc-biệt của người INTP đó là kiến-trúc: họ kiến-trúc xây-dựng các hệ-thống tổ-chức và tư-tưởng cũng như kíến-trúc xây dựng các dinh-thự nhà cửa. Trong 100 người mới có 1 người kiến-trúc-sư nên chúng ta không thường gặp như một số các mẫu tính tình khác.

    Người INTP khám-phá ra những mâu-thuẫn trong các lời phát-biểu bất kể thời-gian không-gian xa cách bao nhiêu khi người ta phát-biểu những lời mâu-thuẫn đó.Trí tuệ của người INTP được coi là có đặc-tính đi theo nguyên-tắc: như thế có nghĩa là người INTP đi tìm kiếm những gì có liên-quan tới vấn-đề họ đang nghiên-cứu, những gì có ý-nghĩa. Do đó người INTP có thể tập-trung tư-tưởng dễ dàng hơn các mẫu tính tình khác.

    Người INTP không mấy cảm-phục uy-quyền do chức-vụ, địa-vị hoặc tiếng tăm. Chỉ có những phát-biểu nào mạch lạc, hợp-lý mới có giá-trị đối với họ. Uy-quyền từ bên ngoài tới tự nó chẳng có nghĩa-lý gì đối với họ. Người INTP chê ghét trường-hợp tiền-hậu bất-nhất và tính cách lặp đi lặp lại. Người INTP luôn luôn đi tìm luật thiên-nhiên vì họ có lòng thèm khát tìm hiểu vũ-trụ. Mẫu tính tình này có sức mạnh lớn vì óc tò mò muốn tìm kiếm ra các chìa khóa để mở cửa đi vào vũ-trụ.

    Người INTP đánh giá trí tuệ của họ cũng như của người khác, nhưng lại có thể trở thành trí-thức nửa mùa chỉ vì họ thấy cần phải thu-thập các ý-tưởng, các nguyên-tắc, hoặc cần phải tìm hiểu các hành-động để mà tìm hiểu. Một khi họ hiểu biết được điều gì, họ sẽ nhớ mãi. Người INTP có thể mắc phải tật thích phân-tích tỉ mỉ. Một khi họ tra tay vào một hệ-thống tư-tưởng, chính phương-pháp suy-tư có một sức mạnh riêng đối với họ, làm cho họ phải kiên-trì cho đến khi nào thấu-đáo được tất cả mọi khía cạnh phức-tạp của vấn-đề xong mới thôi. Họ có thể chỉ là những nhà trí-thức rởm và có khi tỏ ra mất kiên-nhẫn đối với những người không thông-minh bằng họ. Người INTP cũng nhận thấy rằng điều đó có thể tạo nên ác-cảm nơi người khác, làm cho người ta có cảm-tưởng rằng người INTP kiêu-căng tự-phụ. Đối với người INTP, thế-giới này hiện-hữu là để cho loài người khám-phá phát-minh và tìm hiểu. Thực-tại chỉ là tầm-thường vì chỉ tạo nên một môi-trường để thí-nghiệm các tư-tưởng. Cần phải tìm hiểu vũ-trụ, và cần phải phát-biểu chính-xác về vũ-trụ này với lý-luận mạch lạc không lặp đi lặp lại. Đó là mục-đích cuối cùng của người INTP, dù người khác hiểu được hay không cũng không quan-trọng gì.

    Người INTP là con người lý-luận, nhà toán-học, triết-gia, khoa-học-gia: họ cảm thấy hấp dẫn mỗi khi được theo đuổi cách cấu-tạo, sắp đặt, kiến-trúc tư-tưởng. Tuy nhiên, không nên dùng người INTP để áp-dụng những khuôn mẫu của họ vào thế-giới thực-tế. Người INTP chỉ là người kiến-trúc cấu-tạo một hệ-thống để cho người khác xây-dựng và áp-dụng. Chính vì thế rất nhiều lần người INTP không được tuyên-dương công-trạng về việc họ làm. Những người xây dựng và áp-dụng vào thực-tế được tiếng tốt danh thơm, còn người INTP chỉ là anh-hùng vô-danh. Thường thường chỉ sau khi qua đời, người INTP mới được người khác để ý ca-tụng thôi, bởi lẽ đa-số các công-trình của họ chỉ nằm trong thư-viện, nơi văn-phòng.

    Người INTP không có khuynh-hướng trở thành văn-sĩ hoặc làm nghề buôn bán. Tuy nhiên họ thường là giáo-sư rất tốt, nhất là đối với các lớp cao-học, cho dù họ không được tiếng bình-dân, nhưng họ chu-toàn nhiệm-vụ đàng-hoàng. Họ không thích việc văn-phòng và khó chịu với những chi-tiết theo thói quen. Họ thích làm việc âm-thầm, không muốn bị ai quấy rầy ngắt quãng, và thường hay làm việc một mình. Nếu một tổ-chức muốn dùng tài-năng của người INTP một cách thích-hợp, ban điều-hành cần phải tích-cực ủng-hộ các tư-tưởng và sáng-kiến của người INTP, kẻo họ mất hứng bỏ đi chơi chỗ khác.

    Người INTP coi việc phối-ngẫu vợ chồng là quan-trọng và thường trung-tín tận-tâm cho dù đôi khi họ tỏ ra bận rộn. Họ thường không thích có nhiều dịp xã-giao và càng không thích mất trật-tự trong nhà. Thông thường người bạn phối-ngẫu của người INTP sẽ phải lo sáng-kiến và tổ-chức cuộc sống xã-hội của hai người. Nếu để tự-do một mình, người INTP sẽ trở về thế-giới sách vở và chỉ xuất-hiện khi có nhu-cầu vật-chất đòi hỏi thôi. Tuy nhiên người INTP là con người có thiện-chí, biết thích-nghi và rất dễ sống, cho dù đôi khi họ quên giờ hẹn, ngày kỷ-niệm gia-đình và những tập-quán thường ngày, nếu không được ai nhắc nhở tới. Có khi họ cảm thấy khó diễn-tả bằng lời nói những tâm-tình của họ, và người bạn phối-ngẫu của người INTP có thể tin rằng họ không cần phải để ý tới. Người cha mẹ INTP rất tận-tâm: thích sống với con cái và chủ-tâm giáo-dục con cái. Gia-đình của người INTP thường thường an-vui, thoải mái về kỷ-luật, đồng-thời có trật-tự và tổ-chức.

    Người INTP tiếp-xúc với ngoại-cảnh phần lớn do trực-giác, và đặc-tính đặc-biệt nhất của họ là suy-tư, thường thường ít được ai để ý đến, ngoại trừ trong những nhóm nhỏ bé thân-mật. Chính vì thế người INTP thường dễ bị hiểu lầm, bị coi là con người khó hiểu, và ít khi được người khác tín-nhiệm là con người hiểu biết thành-thạo. Họ có khuynh-hướng nhút nhát ngoại trừ đối với ít bạn bè thân-cận, và ít người có thể phá tan tính cách dè dặt của họ được. Họ dễ thích-nghi cho đến khi nguyên-tắc của họ bị vi-phạm: khi đó, họ chẳng chịu thích-nghi chút nào nữa. Người khác khó hiểu được người INTP, bởi lẽ người INTP thích suy-tư phức-tạp và muốn mọi tư-tưởng thật chính-xác không có chuyện lặp đi lặp lại. Tình-cảm của người INTP không được phát-triển đầy đủ, nên họ dễ tỏ ra lãnh-đạm thờ-ơ với ý-nguyện sở-thích của người khác, nhiều khi không biết rằng người khác có ý-nguyện và sở-thích riêng biệt khác hẳn.

    9.- người ESTJ ban điều-hành: 13%
    Người ESTJ tiếp-xúc với môi-trường ngoại-cảnh. Họ hiểu biết cộng-đồng nơi họ sinh-sống và thường là cột trụ sức mạnh của cộng-đồng. Tĩnh-từ thích-hợp nhất để mô-tả người ESTJ là ‘có tinh-thần trách-nhiệm’. Trong 100 người có 13 người thuộc mẫu tính tình ESTJ.

    Người ESTJ có tài xuất-chúng về cách tổ-chức sắp đặt cho có tôn-ti trật-tự, về các chi-tiết luật-lệ phép tắc.Họ muốn thấy mọi sự phải đâu vào đó. Họ có khuynh-hướng khó chịu với những ai không chịu lưu-ý đầy đủ để thi-hành các biện-pháp theo chi-tiết được mô-tả và trình-bày do những người có kinh-nghiệm ngõ hầu đạt mục-đích mong đợi.

    Người ESTJ cảm thấy thích đánh giá người khác và có khuynh-hướng phê-phán một phần theo tiêu-chuẩn coi xem người đó có làm theo các mẫu mực không. Có khi họ tỏ ra sỗ sàng với những người không chịu theo kỷ-luật quy-tắc. Người ESTJ có óc thực-tế, thích sự kiện, và tò mò muốn biết các phương-pháp, cách thức mới hơn là các nguyên-tắc và thuyết-lý mới.

    Thông thường người ESTJ trung-thành với tổ-chức, công việc và cộng-đồng của họ. Họ là những người bạn phối-ngẫu và phụ-huynh tuyệt vời. Họ biết nhìn nhận đâu là trách-nhiệm của họ và ít khi trốn tránh trách-nhiệm, cho dù phải hy-sinh cố-gắng rất nhiều. Họ thường đạt tới các chức-vụ có trách-nhiệm trong ngành của họ, trong cộng-đồng cũng như trong giáo-hội của họ. Họ thường gia-nhập nhiều hội-đoàn và siêng năng hội họp cũng như phát-biểu cảm-tưởng ủng-hộ. Người ESTJ rất đúng giờ và muốn người khác cũng phải đúng giờ.

    Không phải lúc nào người ESTJ cũng chịu trách-nhiệm về quan-điểm và tình-cảm của người khác, và đôi khi họ có khuynh-hướng đi tới kết-luận thật vội vã . Không phải lúc nào họ cũng kiên-tâm lắng nghe những ý-kiến đối-nghịch, và nếu họ có quyền, họ dễ bị vấp phạm vào lỗi lầm không lắng nghe ý-kiến đối-nghịch. Họ cần phải cố-gắng nhiều để tỏ ra cởi mở hơn để đón nhận ý-kiến của người khác, nhất là những người tùy thuộc vào họ như con cái, vợ/chồng, nhân-viên.

    Người ESTJ sống thích-ứng với những cơ-sở vững bền, những định-chế lâu năm, và quen thuộc những đường lối truyền-thống trong các cơ-sở định-chế đó, nên họ không thể hiểu tại sao có người lại muốn từ-bỏ hoặc thay đổi những cơ-sở và định-chế đó. Họ tuân theo tập-quán thói quen ở nhà cũng như ở sở làm, muốn mỗi sự có một chỗ và mỗi nơi có một việc. Họ thường ăn mặc chỉnh-tề và có trật-tự, lúc làm việc cũng như khi vui chơi.

    Trong việc giao-tế nhân-sự, họ theo truyền-thống và lễ-nghi, tạo-dựng hòa-khí và an-vui trong các liên-hệ bằng cách lập nên những tập-tục và cách-thức quen thuộc. Gia-truyền bảo-cổ có một ý-nghĩa đặc-biệt với người ESTJ, và họ cố-gắng bảo-trì tuân giữ. Họ thích có dịp gặp gỡ bạn bè, đồng-nghiệp xưa, bà con , họ hàng trong các cơ-hội như tiệc tiễn đưa, ăn tập-thể, các lễ lạy và giỗ chạp. Tương-đối người ESTJ là loại người dễ biết dễ hiểu. Họ không có khuynh-hướng làm người khác hiểu lầm vì nói một đàng làm một nẻo. Họ đáng tin cậy và trước sau như một: họ có vẻ như thế nào thì họ sống thực như vậy.

    10.- người ISTJ ban giám-đốc: 6%
    Người ISTJ có đặc-tính cương-quyết trong các công việc thực-tế. Họ là những người bảo-vệ các cơ-cấu lưu-truyền từ đời này tới đời kia, và nếu cần một từ đề diễn-tả con người của họ, thì đó là chữ ‘đáng tín-nhiệm’. Cứ 100 người có 6 người ISTJ. Người ISTJ thích có những liên-hệ tình-nghĩa, và họ thật khó chịu khi nghĩ tới những đổ vỡ trong một gia-đình, một tổ-chức, hoặc ngoài xã-hội, quốc-gia.

    Dù ở nhà hay nơi làm việc, người ISTJ cũng thích yên lặng và nghiêm-trang đứng đắn. Họ kiên-trì và đáng tin một cách đặc-biệt. Đầu óc họ không thể nghĩ tới việc chấm dứt, hủy bỏ một giao-kèo. Đối với họ, lời nói là danh-dự của con người. Nên tin người ISTJ trong việc bảo-tồn các tài-năng của tổ-chức và họ có óc thực-tế trong công việc của họ. Họ chu-toàn nghĩa-vụ mà không phô-trương phách lối, nên không ai để ý đến hoặc nhận chân giá-trị của việc họ tận-tụy làm việc hoạt-động.

    Người ISTJ thích mọi chi-tiết đâu vào đó, công-bình, dùng những phương-pháp thực-tế, sử-dụng nhân-sự và vật liệu khéo léo, khiến cho họ được trọng-dụng trong các ngành cần những đức-tính đó. Người ISTJ rất hữu-dụng trong ngành thanh-tra thuế-vụ, kiểm-kê tài-sản, thanh-tra ngân-sách, thanh-tra ngân-hàng. Người ISTJ thích đầu-tư vào các thị-trường chứng-khoán chứ họ không thích chơi trò may rủi với tiền bạc của họ có hoặc tiền của người khác.

    Người ISTJ có thể đối-phó với các con số phức-tạp, chi-tiết, khó khăn và tạo nên một ý-nghĩa lý-sự. Họ cho người khác biết họ đáng tin và trung-thành, nhờ đó họ thường là giám-đốc, chủ-sự hữu-hiệu trong bệnh-viện, thư-viện hoặc xí-nghiệp. Họ có khả-năng chu-toàn nhiệm-vụ của chủ nhà hòm, thư-ký tòa án hoặc nghiên-cứu pháp-luật. Người ISTJ là giáo-sư kinh-doanh, gia-chánh, thể-dục và khoa-học, cũng như là sĩ-quan nữ quân-nhân. Thường thường nữ quân-nhân coi bộ như lạnh nhạt, nhưng đó là vì người ta không nhận ra được nhược-điểm của người ISTJ là dễ bị tổn-thương khi bị phê-bình chỉ-trích.

    Người ISTJ kiên-tâm với công việc họ làm và với các phương-pháp trong một cơ-cấu tổ-chức, cho dù họ không luôn kiên-tâm với những mục-đích riêng tư của mỗi cá-nhân trong cơ cấu tổ-chức đó. Người ISTJ muốn làm sao để mọi sự đâu vào đó: tài-năng được phân-phối đúng chỗ đúng lúc, vật liệu được phân-chia đồng đều đúng cách. Người ISTJ cũng muốn người khác phải làm như vậy.

    Người ISTJ là cột trụ sức mạnh trong đời sống phối-ngẫu vợ chồng. Họ tôn-trọng khế-ước thương-mại. Họ tôn-trọng giao-ước hôn-nhân hơn nữa. Họ trung-thành và chung-thủy, nhận trách-nhiệm đối với con cái và người bạn đời, coi đây là trách-nhiệm trọn cả cuộc đời. Người ISTJ tự coi mình có nhiệm-vụ nuôi sống gia-đình cho dù họ có thể để cho người vợ làm việc, miễn là không sao-lãng nhiệm-vụ đối với con cái. Người ISTJ có quan-niệm ‘phụ-hệ’: mọi việc là do đàn ông gánh vác đảm-trách, và nếu cả vợ chồng đều là ISTJ, họ là cặp sống trọn tình đáng tin. Người vợ ISTJ có thể bỏ những phù-phiếm chóng qua để tìm những gì có ý-nghĩa và lý-sự, và có thể không đào sâu ý-nghĩa đời sống tính-dục.

    Người cha mẹ ISTJ xử-sự đúng lý đối với con cái và mọi luật-lệ trong gia-đình đều rõ ràng. Con cái ngỗ nghịch, khó dạy có thể khó sống chung được với cha/mẹ ISTJ, và đảo lại cũng thế. Con cái trẻ em ISTJ có khuynh-hướng vâng lời và là nguồn an-vui cho cha mẹ và giáo-sư.

    Mặc dầu người ISTJ có óc thực-tế và lý-sự, họ có thể cưới một người vô-trách-nhiệm và như thế liên-hệ hôn-phối sẽ trở thành liên-hệ cha mẹ với con cái hơn là liên-hệ giữa hai người lớn đồng vai đồng vế với nhau. Người ISTJ lúc tỏ ra muốn cứu giúp, lúc tỏ ra muốn sửa đổi người bạn đời lầm lỡ của mình. Như vậy liên-hệ hôn-phối sẽ trở thành một trò chơi đuổi bắt hú tim dài dài: một bên là vô-trách-nhiệm, là hứa sửa đổi, là sửa đổi một chút, rồi lại là vô-trách-nhiệm, còn bên kia là ISTJ với chu-kỳ là không đồng-ý, là cứu-giúp, là quở trách, là tha thứ, là chấp-nhận cho nên tốt hơn, và cứ vòng vo tam-quốc như vậy mãi. Chu-kỳ như vậy thường thấy nơi người ISTJ cưới một người nghiện ngập, và bước vào một cuộc sống chỉ biết lo lắng săn sóc cho người bạn đời, thỉnh thoảng pha trộn những lúc giận dữ hoặc từ-bỏ. Mặc dầu người ISTJ có thể chấp-nhận tính cách ích-kỷ và hay thay đổi của người bạn đời, nhưng họ lại không thể chấp-nhận tính cách đó nơi chính mình họ.

    Người ISTJ không thích những diễn-văn bóng bẩy, những lối ăn-diện xa-hoa, nhà ở sang-trọng. Họ ghét những đường lối kiêu-sa. Họ chỉ muốn nhà ở cũng như sở làm có thứ-tự, ngăn nắp, sạch sẽ là đủ. Đồ đạc thì cần bền chắc chứ không cần đẹp sang hào nhoáng. ‘Ăn chắc mặc bền’ là tiêu-chuẩn phục-sức của người ISTJ hơn là kiểu mới nhất, mẫu hợp thời-trang nhất. Họ không cần đồ ăn ngon miệng hoặc phục-sức lộng lẫy.

    Người nam ISTJ chỉ thích họp bạn với phái nam thôi, và hay dùng kiểu nói lái khi chỉ có bọn đàn ông con trai với nhau. Thú đi săn bắn hoặc câu cá một mình hoặc với bọn đàn ông con trai với nhau là một phần sở-thích căn-bản của người ISTJ. Người nam ISTJ thích gia-nhập những phong-trào phục-vụ cộng-đồng với truyền-thống nêu cao giá-trị cổ-truyền như hướng-đạo, hơn là người nữ ISTJ. Họ hiểu biết và nhận rõ phần đóng góp của các phong-trào này vào việc bảo-tồn gia-sản tinh-thần quốc-gia. Là người SJ, họ thích đặc-biệt những dịp hội hè đình đám như hôn-quan-tang-tế, lễ cưới, vinh-quy, thăng-chức, đại-tiệc, dạ-hội. Nơi sở làm, người ISTJ thấy cần phải có những bữa tiệc họp bạn: họ thích tham-dự và thưởng-thức, cho dù biết rằng đôi khi gây nên những quấy rối công việc của họ, nhưng họ lại cho đó là cần-thiết.

  16. CHƯƠNG 6

    nhận-định tổng-quan

    Sau đây là chân-dung toàn-bộ của mỗi mẫu tính tình.

    11.- người ESFJ nhà buôn: 13%
    ESFJ là người xã-giao niềm nở hơn cả trong các mẫu tính tình: họ thích giao-thiệp tiếp-xúc với người khác, có khuynh-hướng lý-tưởng-hóa bất cứ người nào hoặc sự gì họ cảm-phục ca-tụng. ‘Hòa-đồng’ đó là nòng cốt căn-bản của mẫu tính tình này. Cứ 100 người, có 13 người thuộc mẫu ESFJ.

    Người ESFJ là người quan-trọng trong việc nuôi dưỡng các cơ-sở tổ-chức sẵn có như gia-đình, học- đường, hội-giáo, tổ-chức cộng-đồng. Dù đi đâu chăng nữa họ cũng đề-cao hòa-khí, và gầy dựng hòa-hợp. Họ xuất-sắc trong việc tiếp-khách tiếp-tân, nhớ tên từng người chỉ sau một lần gặp. Trong các buổi họp mặt gặp gỡ, họ để ý chăm sóc nhu-cầu của người khác, muốn làm cho mọi người thoải-mái dễ chịu. Người ESFJ để ý đến những giao-tế liên-hệ xã-hội, và các câu chuyện của họ hay xoay quanh chủ-đề nhớ lại kỷ-niệm đã qua. Họ phát-triển, nâng đỡ và duy-trì các tập-tục truyền-thống.

    Người ESFJ khó chịu về sự lãnh-đạm của người khác và họ cần được người khác biết ơn họ cũng như biết ơn những việc họ làm cho người khác. Họ ý-thức được các bộ-điệu dáng-dấp bên ngoài và coi những ý-kiến của người khác về vấn-đề giao-tế xã-hội là rất quan-trọng. Giá-trị người ESFJ đề-cao được tự-do phát-biểu qua những lời ‘nên’ hoặc ‘không nên’. Người ESFJ có trật-tự và đầy ý-thức, nên họ ngao ngán khi ở xa người khác.

    Người ESFJ có khuynh-hướng chọn những nghề phục-vụ. Họ nặng về tính cách hướng-ngoại, nên họ buôn bán rất giỏi, và thường đạt giải quán-quân khi thi đua bán hàng. Họ có khả-năng tiến mau trên các dịch-vụ buôn bán trong bất cứ tổ-chức nào. Nếu quan-sát một người ESFJ buôn bán, chúng ta sẽ nhận thấy rõ ràng mẫu người hoạt-động: không phải khách hàng mua món đồ vì là món đồ tốt, nhưng là vì người bán dễ thương, lịch-sự, giao-thiệp. Cũng chính đức-tính đó làm cho người ESFJ xuất-sắc trong việc dạy học, giảng-thuyết, kiểm-soát, hành-chánh, làm ông/bà bầu thể-thao, và nói chung là những công việc liên-hệ giữa người với người. Ít khi họ làm cho người trên họ phải khó chịu, bởi lẽ họ tôn-trọng vâng lời luật-pháp quy-tắc, họ có tinh-thần trách-nhiệm và phục-vụ khá cao. Họ trung-thành với chủ-nhân. Người ESFJ thích thảo-luận về các sự việc và các vấn-đề xảy ra trong cuộc sống của các bạn đồng-nghiệp, nhưng khi câu chuyện trở nên trừu-tượng và mang mầu sắc triết-lý hoặc khoa-học, họ trở nên khó chịu. Chẳng hạn như phân-tích một vấn-đề phức-tạp bằng cách tìm lối giải-nghĩa các sự kiện với phương-pháp áp-dụng các nguyên-tắc, không làm cho người ESFJ phấn-khởi chút nào, khác hẳn với người NT.

    Người vợ/chồng ESFJ có một hệ-thống giá-trị với những điều ‘nên’ hoặc ‘không nên’ thật rõ ràng, và họ muốn gia-đình họ cũng phải tuân theo như vậy. Họ ý-thức được các trọng-trách trong gia-đình, có thứ-tự trong nhà cửa, và mọi người trong nhà cũng phải sống như vậy. Họ thích gặp gỡ, làm quen và tiêu-khiển giải-trí. Người ESFJ muốn giải-quyết thực-hiện các quyết-định trong gia-đình một cách hiệu-nghiệm và mau lẹ, và muốn nếp sống trong gia-đình có thứ-tự, lớp lang, nề nếp. Họ không muốn phá bỏ các tập-quán; họ quý-trọng các giá-trị truyền-thống trong gia-đình, tôn-trọng lời giao-ước hôn-phối, và dễ gây thiện-cảm nhất trong các mẫu tính tình. Họ có khuynh-hướng lệ-thuộc vào người bạn phối-ngẫu, và có thể chỉ kết-hôn để bảo-đảm được một chỗ vững chắc trong guồng máy xã-hội. Họ thích các nghi-lễ tổ-chức ăn uống hội chè đình đám, dự trữ đủ thứ của cải vật-chất và quý-trọng tài-sản. Họ coi vai-trò của họ trong cộng-đồng là quan-trọng, và tỏ ra tế-nhị đối với những người cầm quyền quyết-định, và họ liên-đới tốt với quyền-bính. Họ ý-thức được ảnh-hưởng của địa-vị chức-tước và thường lệ-thuộc vào ý-kiến và thái-độ của người trên.

    Người ESFJ để lộ con tim trên trán, nên ai cũng biết họ cần nhiều tình-cảm. Họ cần phải được yêu thương, quý mến, cảm-phục, và họ có thể tốn nhiều công-sức để biết chắc họ được như vậy. Họ có thể buồn sầu, chán-nản và dám nghĩ đến tự-tử, nếu như họ tưởng rằng vì lỗi lầm của họ mà đã có những hậu-quả trầm-trọng trong tổ-chức và trong liên-hệ tình-nghĩa.

    Thông thường người ESFJ kính-trọng yêu mến cha mẹ. Khi đi học, họ là học-sinh ngoan ngoãn vâng lời. Họ tỏ ra có khả-năng diễn-tả biểu-lộ đúng tâm-tình trong hoàn-cảnh. Họ là những người giầu tình-cảm, dễ tính, và thường hăng say ăn mừng những ngày đáng nhớ đáng mừng như sinh-nhật, kỷ-niệm, giáp năm. Đồng-thời người ESFJ có thể làm cho người khác phải bồn chồn lo lắng vì họ nhìn xa thấy rộng, biết những khó khăn trở ngại sẽ xẩy đến, những ngày buồn sầu sẽ tới: khuynh-hướng bi-quan này dễ lây sang người khác. Họ cần phải kiểm-soát những lo âu của họ về tương-lai và cần phải chế-ngự khuynh-hướng tiên-đoán những hậu-họa.

    Con cái của người ESFJ thường được coi là gia-đình nới rộng nên đều có ảnh-hưởng trên người ESFJ. Nếu có điều gì không hay, người ESFJ có thể chỉ-trích, đổ thừa cho con cái hoặc vợ/chồng trong nhà. Người ESFJ có khuynh-hướng cưới người nghiện ngập hoặc người cần sự giúp đỡ đặc-biệt. Nếu người nữ ESFJ cưới phải một người nam không cung-phụng đủ, nàng có thể cằn nhằn so sánh với trường-hợp người khác. Người ESFJ dù nam dù nữ cũng dễ sống với người khác và vật-dụng hơn là với ý-tưởng nguyên-tắc. Họ thích-thú đường lối đi đến một quyết-định, nhất là khi trọng-tâm của vấn-đề là dùng người, xài đồ vật cho hữu-ích.

    12.- người ISFJ người bảo-trì: 6%
    Cứ 100 người có 6 người ISFJ. Ước-vọng chính của họ là phục-vụ và trợ giúp các nhu-cầu cá-nhân. Người ISFJ hiểu biết lịch-sử, am-tường liên-hệ giữa các sự kiện và các tình-nghĩa đã qua. Họ đề-cao giá-trị của truyền-thống và nguồn-lực. ISFJ là loại người ít hưởng-thụ hơn cả trong các mẫu tính tình, nên họ tin rằng làm việc là tốt, giải-trí là phần thưởng cho công-lao chịu khó. Người ISFJ chịu khó cặm cụi làm việc thật lâu giờ. Khi họ đã nhận một công-tác nào, họ phải cố-gắng hết sức chu-toàn cho được mới thôi. Họ thích và muốn duy-trì đường lối đã quy-định sẵn để làm việc và để làm cho đàng hoàng. Họ thường không thắc mắc gì về đường lối theo quy-ước, không đặt lại vấn-đề xem đường lối đó có còn hiệu-nghiệm nữa hay không. Họ coi những chỉ-dẫn trong sách thủ-bản như khuôn vàng thước ngọc. Họ cảm thấy khó chịu, buồn bực khi có ai vi-phạm hoặc coi thường những chỉ-dẫn đó, cho dù họ không biểu-lộ những điều bực dọc đó ra bên ngoài. Thông thường họ âm-thầm chịu đựng để rồi cảm thấy chán chường, mệt mỏi và gân cốt căng thẳng.
    Người ISFJ là mẫu tính tình đáng tin hơn cả, và họ không cảm thấy vui khi phải làm việc trong một nơi hay thay đổi luật-lệ. Vì ước-vọng chính của họ là phục-vụ tha-nhân, nên họ thích chọn những nghề như y-tá, giáo-chức, văn-phòng, y-khoa, nhất là y-khoa tổng-quát, thư-viện, chức-vụ trung-gian. Họ đối-xử thật hay với những người cần đến họ, như người đau yếu bệnh tật, người ít học, sinh-viên, thượng-cấp. Họ cảm thấy hài-lòng thật nhiều khi họ có dịp giúp đỡ nhu-cầu của người khác và phục-vụ một cách hữu-hiệu, thoải mái. Khi người khác không cần gì nữa, người ISFJ có thể thay đổi cách đối-xử và tỏ ra hết hứng-thú. Họ thích giúp đỡ những người sa cơ lỡ vận, và họ có tinh-thần phục-dịch cao hơn những mẫu tính tình khác. Khi nào có trường-hợp đòi hỏi phải phục-dịch, họ chứng tỏ tinh-thần rất cao. Người ISFJ có tinh-thần trách-nhiệm thật tuyệt-vời, và có biệt-tài thi-hành những thủ-tục tập-quán đòi hỏi lặp đi lặp lại hoặc liên-tiếp diễn-tiến. Chẳng hạn như người ISFJ thật xuất-sắc trong nhiệm-vụ thư-ký văn-phòng, y-tá tận-tụy, giáo-chức tận-tâm. Họ không lấy làm thích-thú gì về những lý-thuyết mung lung, suy-tư trừu-tượng. Họ để cho người khác lo mấy chuyện đó, còn họ chỉ muốn lo những gì thực-tế hữu-dụng thôi.

    Người ISFJ có khuynh-hướng trung-tín và chung-thủy với thượng-cấp, và thích sống tựa vào cá-nhân người lãnh-đạo hơn là cơ-sở tổ-chức. Họ mong muốn mọi người, kể cả thượng-cấp, phải tuân theo những chỉ-thị kỷ-luật, và họ buồn rầu lúng túng khi người khác không sống theo quy-ước. Người ISFJ thường cảm thấy như chính mình họ có nhiệm-vụ để ý canh chừng cho mọi người trong cơ-sở tổ-chức phải giữ đúng luật-lệ tập-quán. Họ thường nhận-thức được ý-nghĩa và giá-trị của chức-tước, môi-trường, địa-vị, và biết dùng tất cả một cách lợi-ích. Họ nhận-thức được giá-trị của tài-nguyên vật-chất và gớm ghét những gì họ coi là phí-phạm lạm-dụng. Họ thấy quan-trọng phải tiết-kiệm, phải dành dụm cho những bất-ngờ trong tương-lai hoặc để đề-phòng những trường-hợp khẩn-cấp.

    Người ISFJ có thể cảm thấy hơi khó chịu khi phải nhận một địa-vị có quyền-bính trên người khác, và có thể cố-gắng tự mình làm hết mọi việc hơn là để người nào làm việc nấy. Hậu-quả là họ thường ôm đồm quá nhiều công việc.

    Người ISFJ tận-tâm lo cho vợ/chồng con cái gia-đình, và thường tỏ ra quán-xuyến việc tề-gia nội-trợ thật giỏi. Nhà cửa của họ thường sạch sẽ ngăn nắp trong ngoài. Họ cẩn-thận bảo-trì bên trong cũng như bên ngoài theo đường lối gia-truyền. Người cha/mẹ ISFJ mong muốn con cái phải sống theo luật-lệ của xã-hội, và cảm thấy họ có trách-nhiệm đặc-biệt phải làm sao cho chúng tôn-trọng kỷ-luật. Người ISFJ không muốn làm bộ-điệu kiểu cách hoặc lên mặt phô-trương. Họ thích có những bạn hữu khiêm-tốn, trầm lặng hơn là những người khoe khoang. Đối với họ, mỗi người phải cư-xử đúng với địa-vị của họ theo thuyết chính-danh, và người ISFJ có thể khó chịu khi thấy người khác cư-xử quá mức hoặc không đúng mức địa-vị của họ trong xã-hội.

    Người nữ ISFJ thường biểu-lộ một năng-khiếu trang-hoàng bên trong nhà cửa thật hấp-dẫn theo đường lối cổ-kính, dọn ăn thật ngon thật đẹp và sắp đặt môi-trường cho có thứ-tự ngăn nắp. Nam cũng như nữ ISFJ coi nhà cửa là lãnh-vực quan-trọng cần phải bảo-trì và làm chủ.

    Tính tình người ISFJ là mẫu tính tình rất đáng tin cậy, nhưng họ có thể cảm thấy lôi cuốn tới người vô-trách-nhiệm, người tham lam, người mê ăn uống. Nhiều người ISFJ cưới người nghiện ngập và rơi vào trò chơi ‘cứu người bỏ người’ không cùng: họ muốn ra tay cứu-nhân độ-thế để giúp người bạn phối-ngẫu cải-thiện. Đôi khi người mẹ ISFJ tỏ ra khuynh-hướng khôi-hài mâu-thuẫn ở chỗ để thả lỏng cho con trai đi chơi hoang-đàng, trong khi lại dạy con gái phải biết tôn-trọng tập-tục truyền-thống đúng chỗ đúng lúc.

    Người ISFJ thường hay bị hiểu lầm và bị coi thường giá-trị. Không mấy ai nhận ra giá-trị phần họ đóng góp, và họ dễ bị người khác coi thường. Điều đó có thể làm cho họ dễ bị uất-ức căm hờn, tạo nên đau khổ vô-cớ cho họ.

    13.- người ESTP cổ-động-viên: 13%
    Người ESTP dù nam hay nữ cũng là mẫu người thích hoạt-động. Bất cứ ở đâu có người ESTP, thì cũng có sinh-hoạt hành-động ở đó. Khi ánh sáng chiếu lên, cung nhạc vang dội, tất nhiên phải có sinh-hoạt. Đây là sinh-hoạt của người ESTP: kinh-doanh, ngoại-giao, hòa-giải, thương-thảo: việc nào họ cũng tỏ ra xuất-sắc tuyệt-hảo. Cứ 100 người, có 13 người thuộc mẫu tính tình ESTP: hướng-ngoại, cảm-giác, suy-tư và trực-giác. Ngôn-từ chính-xác nhất để diễn-tả người ESTP đó là ‘hữu-dụng, có ích’.

    Cuộc sống không bao giờ buồn tẻ chung quanh người ESTP. Họ có dáng dấp bộ-điệu hấp-dẫn, dễ thương, lúc nào cũng như trên sân khấu và màn ảnh, khiến cho chuyện gì dù tầm-thường đến đâu cũng trở nên phấn-khởi thích-thú. Người ESTP thường biết rõ những tiệm ăn ngon nhất, và người giúp bàn biết rõ tên họ. Người ESTP cư-xử lịch-thiệp, đàng hoàng và có tư-cách ngoài xã-hội cũng như khéo léo biết cách sử-dụng môi-trường hoàn-cảnh.

    Người ESTP có biệt-tài quan-sát ý-tứ chủ-đích của người khác, và rất tinh-vi nhận ra từng cử-chỉ thật nhỏ mà các mẫu tính tình khác không nhận ra được. Họ quán-quân về việc sử-dụng những nhận xét đó để thu-hút thân-chủ. Con mắt người ESTP lúc nào cũng nhìn người đối-diện, và mọi hành-động đều hướng về khán-thính-giả. Người ESTP thật khôn-ngoan, khéo léo, vui tính, và coi bộ như thông-cảm hòa-đồng với mọi người thật tài-tình, cho dù thực-tế có khi là ngược lại. Thực ra họ nhận xét thật tinh-vi từng cử-chỉ tế-nhị của người khác, nên thường đi trước người khác thật xa. Họ có thể dùng những nhận-định này tùy theo ý họ muốn: bề ngoài coi họ có vẻ như ý-chí sắt đá, họ chấp-nhận làm những công việc mà người khác có thể coi như là ‘chuông tạ treo chỉ mành’. Người khác coi đó là liều mạng, nhưng người ESTP lại lấy làm khoái-chí nhận những công việc gần như tuyệt-vọng. Người ESTP có óc thực-tế tàn canh luôn, và thường coi mục-đích biện-minh cho phương-tiện, khi họ thấy đó là cần-thiết, cho dù họ có thể biết đó là điều đáng tiếc nhưng lại rất ư là cần-thiết. Tuy nhiên, thường thường người ESTP không để ý việc phải biện-minh cho hành-động của mình, nhưng họ tiếp-tục tiến-tới một hành-động khác.

    Người ESTP có biệt-tài sáng-kiến làm những công việc đưa người ta ngồi lại với nhau để thương-thảo. Họ là những nhà quản-đốc lưu-động, có thể giúp cho các xí-nghiệp hoặc cơ-sở bị nguy-ngập khánh-tận, được phục-hồi thật mau lẹ và đàng hoàng. Họ có thể đề-nghị một chương-trình, một dự-án để người khác chấp-thuận mà không mẫu tính tình nào khác có thể làm được, tuy nhiên họ không muốn đi sâu vào những chi-tiết hành-chánh rườm rà của dự-án. Điều này thường khiến cho người khác không quý mến tài-năng đặc-biệt của người ESTP , bởi lẽ người ta dễ quên đi nguồn gốc dự-án mà chỉ để ý đến những chi-tiết chưa được thực-hiện, nên dễ chỉ-trích khuyết-điểm của người ESTP hơn là quý mến ưu-điểm của họ. Ít cơ-sở xí-nghiệp biết dùng người ESTP đúng cách. Khi người ESTP tự mình đề-xướng ra một điều gì, ít khi họ thành-công vì họ không chịu tiếp-tục đi sâu vào các chi-tiết thực-hiện, nên cho dù dự-án có tốt đẹp cũng dễ bị rơi vào quên lãng. Người ESTP cần có người để ý nghiên-cứu theo dõi các chi-tiết mà thực-hiện cho có kết-quả.

    Nếu tài kinh-doanh và hoạt-động của người ESTP được sử-dụng vào mục-đích xây-dựng, phần đóng góp của họ cho một tổ-chức thật là quý giá. Tuy nhiên nếu họ không tìm thấy phấn-khởi thích-thú một cách xây dựng, họ có thể quay ra phá-đổ, chống đối trong những ngành đáng lý ra phải có tin-nhiệm: làm giấy tờ giả-mạo, viết chi-phiếu không tiền bảo-chứng, lường gạt. Phim ‘THE STING’ nói lên cách sử-dụng tài khéo của người ESTP.

    Người ESTP sống trong giây phút hiện-tại. Trong cuộc sống hôn-nhân, họ thường đem lại phấn-khởi và thích-thú bất-ngờ cho liên-hệ tình-nghĩa. Người phối-ngẫu ESTP thường tỏ ra rất chú-ý khi ở nơi công-cộng và xã-giao mềm dẻo. Họ có đường lối đối-đáp vui đùa,và lúc nào cũng có những trận cười dòn kèm theo những chuyện tiếu-lâm, những chuyện vui cưới vô-tận của họ. Người ESTP chiếu-tỏa hấp-dẫn quyến-dũ. Họ không tiếc gì với bạn bè, cho dù đôi khi trách-nhiệm gia-đình của họ phải xuống hàng thứ-yếu. Người phối-ngẫu ESTP có khi cảm thấy mình như là một đồ vật: người nữ như một trò chơi, người nam như một tiện-nghi. Người ESTP không thiết-tha gắn bó sâu-đậm và dài lâu, cho dù nhiều người quen biết họ, và họ nhớ tên từng người. Họ đặt điều-kiện cho liên-hệ tình-nghĩa của họ, và điều-kiện đó là coi xem họ có được lợi gì không. Tuy nhiên, thu lượm được gì, họ sẵn sàng chia sẻ với người bạn phối-ngẫu. Người ESTP có thể làm người bạn phối-ngẫu ngạc-nhiên với một món quà bất-ngờ, như đi du-lịch vòng quanh thế-giới, món đồ đắt tiền. Tình-nghĩa của họ có đặc-tính là vui nhộn, phấn-khởi, cười đùa và bất-ngờ.

    Người ESTP khó chịu-đựng được tâm-trạng hồi-hộp căng thẳng. Họ thường xa tránh các môi-trường đó, hoặc bỏ đi khi thấy quá nhiều gây-cấn xung-khắc giữa cá-nhân. Người ESTP thường có vẻ bí-nhiệm đối với người bạn phối-ngẫu cũng như đối với người khác. Ít có ai hiểu được tính tình độc-đáo này. Chính người ESTP hiểu rõ câu nói ‘ai đi trước là phải đi một mình’. Thế nhưng người ESTP không thích sống cô-đơn lâu dài. Họ ham sống, thích những sự trên đời, đi tìm phấn-khởi, bằng cách trở nên người chiến-sĩ, lực-sĩ, mạo-hiểm, chơi trò may rủi, và lúc nào cũng muốn gõ cửa Thần Tài cách này cách khác. Suốt cuộc đời của người ESTP lúc nào cũng có một ý-nghĩ đi tìm phấn-khởi thích-thú qua các cuộc mạo-hiểm.

    14.- người ESFP diễn-viên: 13%
    Người ESFP chiếu-tỏa đức-tính lạc-quan, thân-tình, ấm cúng, quyến-dũ. Họ dịu dàng. lanh lợi, dễ thương, khéo léo, hoạt-bát, cởi mở. Cứ 100 người, có 13 người thuộc mẫu tính tình ESFP. Họ là con người dễ sống, vui tính, ai cũng thích được làm quen làm bạn. Họ cũng là con người hảo-tâm đại-lượng hơn tất cả các mẫu tính tình khác. Ngôn-từ chính-xác nhất để diễn-tả con người ESFP là ‘biểu-diễn trình bầy’.

    Người ESFP tránh ở một mình, luôn tìm cách có người này người kia. Người ESFP dễ tìm bạn bè, bởi vì người khác dễ nhận thấy rằng hễ có người ESFP là có vui vẻ nhộn nhịp. Người ESFP thích phấn-khởi thích-thú dù họ ở đâu hay làm việc gì cũng vậy. Niềm vui sống của họ ảnh-hưởng lây tới người khác và bộ mặt của họ lúc nào cũng để lộ ra hạnh-phúc vui tuơi. Họ ăn nói hoạt-bát và cách họ nói dỡn chơi vui cười thật tế-nhị khôn khéo. Người ESFP có điệu-bộ đàng hoàng và thường ăn mặc theo mốt hợp thời nhất, chứng-tỏ họ vui hưởng cuộc sống: y-phục, thực-phẩm, tiện-nghi vật-chất và giờ vui chơi giải-trí. Dù đi đâu người ESFP cũng tạo nên môi-trường ăn uống vui chơi dễ dàng, và chung quanh họ lúc nào cũng có vẻ vui tươi nhộn nhịp như hội hè đình đám.

    Người ESFP thích phấn-khởi hứng-thú, cho dù đôi khi nổi-hứng bất-tử bất-thần làm cho người bạn phối-ngẫu có lúc phải bồn chồn lo lắng vì phải sống trên đường mạo-hiểm. Nhà của người ESFP lúc nào cũng có khách khứa ra vào nhộn nhịp vui vẻ. Bề ngoài coi bộ như không có vấn-đề trở ngại gì xẩy ra, nhưng kỳ thực họ hành-động như thế cũng giống như người sợ ma đi qua nghĩa-trang phải huýt sáo thật to để đánh trống lảng. Họ không muốn chấp-nhận có lúc tàn-canh mạt-vận.

    Người ESFP có thể tỏ ra đại-lượng một cách kỳ-cục. Của họ là của bạn, và của bạn vẫn thuộc về của họ cách nào đó. Họ giúp đỡ người này người khác mà không mong đợi được đền ơn trả nghĩa. Họ yêu người một cách bất-vụ-lợi. Họ coi đời như một kho-tàng vô-tận để họ vui hưởng mà không phải cố-gắng lo lắng nhiều.

    Thái-độ người ESFP thích vui hưởng đời có thể làm cho họ sa vào nhiều cạm bẫy hơn các mẫu tính tình khác. Họ dễ có khuynh-hướng bốc-đồng, nên nam cũng như nữ dễ bị mê-hoặc rủ rê về tâm-lý cũng như thể-lý. Họ dễ bị người khác chinh-phục và chiều theo đòi hỏi của người khác. Làm cha mẹ, người ESFP thích vui chơi, tạo nên nhịp sống phấn-khởi thích-thú trong nhà, và dễ chơi với con cái như bạn bè ngang hàng. Nhưng khi nào có ốm đau hoặc bất cứ vấn-đề gì, họ có thể tỏ ra mất kiên-nhẫn và tìm cách tránh xa.

    Trong các mẫu tính tình, người ESFP khó chịu nổi được băn khoăn lo lắng nhất. Họ tìm cách tránh xa các băn khoăn lo lắng bằng cách giả vờ bỏ quên không nhìn vào bóng tối của cuộc đời càng lâu càng tốt. Họ có khuynh-hướng chiều theo ý riêng mình, nhưng thay vì tỏ ra cách chống-cự bề ngoài hoặc làm rùm beng lên, người ESFP dễ tỏ ra hợp-tác bề ngoài, để rồi họ cứ làm mọi sự theo sở-thích riêng tư của họ.

    Người ESFP thích những ngành hoạt-động, và không nên trao phó cho họ những nhiệm-vụ đơn-độc lẻ loi. Họ thích làm việc với quần-chúng, và có biệt-tài giao-tế xã-hội, liên-lạc công-cộng. Họ đi tới quyết-định với tính cách thân-tình niềm nở, do người này người kia giới-thiệu hoặc có liên-hệ tới những gì quan-trọng. Người ESFP lệ-thuộc rất nhiều vào kinh-nghiệm cá-nhân của họ, và thường thường tỏ ra có lương-tâm thẳng thắn, lương-tri minh-bạch.

    Người ESFP là nguồn gầy-dựng thiện-cảm nơi người khác nhờ tính cách xã-hội và thích-nghi mềm dẻo của họ. Họ không khó chịu khi bị ai ngắt lời. Họ có đủ sự kiện về những người chung quanh họ, nhờ những quan-sát không ngừng và những nhận xét dễ có, nhờ đó lời họ nhận-định về người khác đáng tin.

    Người ESFP không thích ngành học-vấn bao nhiêu. Họ chỉ học hỏi tìm hiểu những gì cần sử-dụng ngay thôi. Họ tránh xa khoa-học và kỹ-thuật, thích xoay quanh kinh-doanh thương-mại, và có khả-năng buôn bán, nhất là bán những đồ vật mau hư. Họ có thể thành-công trong ngành giáo-dục, nhất là lớp tiểu-học, và có thề thích nghề y-tá, vì tính cách bi-thương của ngành này. Họ làm việc có kết-quả với những người bị khủng-hoảng, và nhờ đức-tính này, họ thường chọn các công-tác xã-hội. Họ cũng thích những người làm nghề giải-trí, nên có khi đi vào nghệ-thuật trình-diễn, ước mong được phấn-khởi thích-thú khi xuất đầu lộ-diện trước công-chúng.

    15.- người nhà nghề ISTP: 7%
    Người ISTP cũng có tính cách bốc-đồng như những người SP khác, và đối với họ, cuộc sống là nghệâ-thuật trong hành-động: hành-động là cứu-cánh của tất cả. Người ISTP cảm thấy phấn-khởi thích-thú khi được hành-động vì bốc-đồng xuất-thần hơn là vì một mục-đích. Nếu hành-động có một mục-đích nào khác thì cũng kệ nó, miễn là hành-động đó được thi-hành. Mỗi hành-động có một định-hướng sẵn, có những định-luật riêng mà không một luật-pháp quy-luật nào có thể ràng buộc được. Người ISTP chủ-trương bình-đẳng và muốn trung-tín với anh chị em trong tình huynh-đệ, nhưng cũng có khi họ tỏ ra bướng bỉnh cố-chấp, coi hệ-thống tổ-chức và quyền-bính như không cần và thừa thãi. Họ không muốn chống lại kỷ-luật, nhưng chỉ coi thường bỏ qua đi thôi. Người ISTP muốn tự-do làm những gì họ muốn, thay đổi cách thức hành-động theo họ thích. Người ISTP hãnh-diện vì họ có khả-năng đó.

    Người ISTP thường không sợ hãi nhút nhát: họ mạo-hiểm hơn các mẫu tính tình khác, cho dù bị thương-tích thường-xuyên. Trong các mẫu tính tình, người ISTP dám dùng con người và kỹ-thuật của họ có để bất-chấp may rủi, thời-cơ, số mạng. Họ thích-thú những phấn-khởi hăng hái mỗi ngày bằng cách đi theo những di-chuyển nhanh như đua xe, nhào lộn trên không, đi lượn cỡi sóng. Vì họ thích hành-động, nên họ là loại người dễ bị buồn chán hơn cả. Lúc nào họ cũng bị kích-thích để tăng-gia vận-tốc. Tuy nhiên có điều này kỳ-lạ là họ không cảm thấy buồn chán khi làm những công việc họ thích, cho dù đòi hỏi phải có thời-gian lâu, như du-lịch, đi săn, đi câu, đi lượn cỡi sóng.

    Bản-tính của người ISTP dễ được nhận ra hơn cả là trong cách họ làm chủ được các dụng-cụ bất cứ loại gì, từ một kính hiển-vi cho đến phi-cơ phản-lực. Từ thuở nhỏ, họ đã mê thích những dụng-cụ: họ tò mò táy máy, tháo gỡ ráp nối, sử-dụng. Nhiều phi-công ngay từ thuở 5 tuổi đã biết rằng mai mốt họ sẽ trở thành phi-công. Người ISTP có khuynh-hướng chọn những ngành hoạt-động nào giúp họ sử-dụng các dụng-cụ như lái xe, điều-khiển máy móc. Nếu như có một dụng-cụ nào cần có người điều-khiển tinh-vi tế-nhị, đây chắc hẳn phải là người ISTP. Dĩ nhiên ai cũng biết sử-dụng dụng -cụ, nhưng không ai sử-dụng khéo léo cho bằng người ISTP. Phải công-nhận người ISTP là thợ nhà nghề, vì họ sử-dụng các dụng-cụ được y như ý họ muốn. Dĩ nhiên người ISTP , tiêu-biểu là Michaele Angelo và Leonardo da Vinci, làm việc hoặc nói đúng ra là chơi với những dụng-cụ họ có tùy theo ngẫu-hứng xuất-thần, chứ không theo giờ giấc thời-khóa-biểu. Nếu thời-khóa-biểu trùng-hợp với ngẫu-hứng xuất-thần của họ thì được, còn không thì cũng mặc kệ cho thời-khóa-biểu muốn sao thì sao.

    Một dụng-cụ hấp-dẫn đối với người ISTP là khí-giới. Nếu như người ISTP chống lại xã-hội vì bất cứ lý-do gì, họ rất dễ dàng dùng đến thứ khí-giới giết người để ủng-hộ lập-trường của họ. Những anh-hùng hảo-hán trong sử xanh, những tay cao-bồi du-đãng gộc chính là hình ảnh đúng nhất về người ISTP. Cũng may, họ cũng có những thành-phần tốt trong xã-hội như binh-sĩ, cảnh-sát, trinh-thám. Như thế không có nghĩa là mọi người chiến-sĩ tốt xấu đều là mẫu người ISTP, hoặc họ là chuyên-viên sử-dụng khí-giới, nhưng đúng ra những tay sử-dụng khí-giới chuyên-nghiệp thường là người ISTP.

    Người ISTP muốn chơi bời giải-trí lúc nào tùy ý. Khi nào họ cảm thấy thích thú, nổi hứng là họ làm. Chúng ta không nên tìm cách để ngăn cản người ISTP làm những gì họ muốn khi nổi hứng. Bác-sĩ giải-phẫu có khi lại thích về nhà xay lúa giã gạo hoặc đi xe đạp đi làm. Nhà kinh-doanh có thể bỗng dưng đi săn mấy ngày trong khi đang mùa thuế-khóa. Cách người ISTP dùng để tìm sảng-khoái thích-thú không bao giờ cùng. Bề ngoài họ có vẻ như làm việc một mình, nhưng thực ra họ thích tụ tập với những người giống như họ. Những người thích leo núi, đua xe, bay lượn trên không, đi săn, và nói chung thích di-động, thường thường tụ tập với nhau. Tình bạn của họ là qua dụng-cụ, và câu chuyện họ trao đổi chẳng có gì khác ngoài việc sử-dụng dụng-cụ.

    Cũng như người nghệ-sĩ ISFP, người ISTP truyền-đạt tư-tưởng qua hành-động, và họ ít chú-ý đến lời nói hoa-mỹ. Thực vậy, vì họ không thích truyền-đạt bằng lời nói, nên nhiều khi họ bị những y-sĩ và giáo-chức hiều lầm, coi họ như chậm trí, chậm hiểu, những khuyết-điểm bị coi như vô-lý nếu được tìm hiểu kỹ-càng. Cứ để cho người ISTP tới gần bất cứ một dụng-cụ nào, chúng ta sẽ thấy họ qua mặt người khác về cách thức biết sử-dụng và biết tên từng bộ-phận từng chi-tiết.

    Mặc dầu người ISTP thích bình-đẳng bình-quyền, thích tự-do phóng-khoáng và ngại phục-tùng, họ có thể là những người lãnh-đạo tài-ba. Có điều là họ phải có quyền chỉ-huy thực sự, ‘đứng mũi chịu sào’. Có nghĩa là người ISTP rất thành-công trên các mặt trận, các chiến-tuyến, cho dù đội-quân của họ nhỏ hay lớn. Họ có óc thực-tế tuyệt vời, lựa đúng thời-cơ, biết dùng mọi khả-năng để chụp lấy cơ-hội và sử-dụng tối-đa nhân-tài vật-lực có trong tay, cũng như khai-thác triệt-để khuyết-điểm lỗi lầm của đối-phương. Nghệ-thuật lãnh-đạo của họ là lợi-dụng thời-cơ tựa vào óc thực-tế tuyệt-vời của họ. Đối với người ISTP chỉ-huy chiến-tuyến, chiến-đấu là một nghệ-thuật, là một trò chơi bằng mưu-trí, không phải bằng chiến-lược do trí óc sản-xuất như nhóm người NT hiểu, nhưng là biết sử-dụng những gì có trong tay để thắng đối-phương mà ít hư hao tổn-thương. Các kiện-tướng đều là loại chiến-đấu một sống một còn. Đó là con người Patton! và phải phục tướng Marshall, một chiến-lược-gia mẫu NTJ, biết nhận ra thực-tài chiến-đấu của Patton hiện-hữu dưới cái bộ-điệu kênh kiệu, ngẫu-hứng, bất-phục-tùng. Cũng phải cảm-phục tướng Grant, một mẫu NTJ khác nữa, đã chọn đúng tướng Sheridan, mẫu STP. Cũng nên cảm-phục Hitler, mẫu ENFJ, đã chọn tướng Rommel, mẫu ISTP. Tất cả các danh-tướng Patton, Sheridan và Rommel đều chung một khuôn đúc: nghệ-thuật gián-điệp cao cường và chiến-thuật quyền-biến khôn lường.

    ‘Chiến-thắng vinh-quang’ là quan-niệm cổ trước thế-kỷ 20, được mẫu người ISTP thấu-hiểu hơn ai khác, hoặc ít nhất họ cũng có quan-tâm đến chiến-thắng vinh-quang hơn ai. Có chiến-đấu mới được vinh-quang, và chỉ ở nơi chiến-trường người ta mới được quyền trổ tài giết người và coi đó như niềm kiêu-hãnh vẻ vang. Bẩy tay đao-kiếm Nhật-bản được vinh-quang cũng như những tay đấu gươm từ bao thế-hệ. Foss, Moyington, Fonck và Von Richtaffen, những tay thiện-xạ súng máy vẫn còn được ca-tụng như những anh-hùng. Tuy nhiên vẫn có cả trăm người chiến-sĩ như họ. Đấu kiếm tay đôi một sống một chết là cơ-hội để người ta tìm vinh-quang chiến-thắng như phim ‘The Great Waldo Pepper’ đã diễn-tả một cách thơ mộng.

    Nên nói thêm về nền giáo-dục và trí óc của người ISTP. Họ có trí óc một nghệ-sĩ, người ISTP không thích nghề thư-ký, khoa-học bao nhiêu. Những người SP khác không thích học, nhưng ít ra cũng tỏ ra rằng họ cố-gắng học, nhưng người ISTP thì không vậy. Họ chỉ nhìn giáo-chức với đôi mắt lạnh nhạt mà cũng chẳng thèm nói ‘không’ nữa. Không có cách nào giúp cho họ thích học hoặc làm bài được: dù thưởng phạt, dù dọa nạt, dù hối-lộ, dù nịnh nọt. Việc học dĩ nhiên là không có liên-hệ với tài-năng của người ISTP bao nhiêu, mà còn bị coi như là vô-ích, vì huấn-luyện cho họ làm những việc mà họ chắc chắn sẽ không bao giờ làm. Người ISTP chẳng muốn chuẩn-bị gì cả, và họ nói rõ cho giáo-chức của họ biết như thế. Có việc gì cần làm bây giờ mà có giá-trị sau này đâu? Người ISTP sẽ không ngồi đó để cho người ta rót vào tai những chuyện tầm-thường đó. Đa-số ai cũng đồng-ý rằng người ISTP phải đi học và làm bài. Nhưng tại sao vậy? Các lý-luận không tỏ ra vững chắc hợp tình hợp lý chút nào và chắc chắn càng làm cho người ISTP bực mình thêm nữa. Người ISTP không phải là loại người bị đau óc, kém hoạt-động hoặc chậm trí. Họ là loại người hoạt-động, và họ khăng khăng quyết-định rằng trường học phải có cái gì giúp họ chứng-tỏ trí óc của họ. Chê-trách khinh-khi họ chẳng làm cho họ thay đổi, ngoại trừ làm cho họ bớt tự tin. Hãy thử cho họ học một khóa học về dụng-cụ, mới thấy họ tiến nhanh chừng nào.

    Người ISTP hành-động cũng giống như người cổ-động-viên ESTP vậy, và càng già họ càng giống nhau hơn nữa. Khi còn trẻ, người ISTP coi bộ giống như người nghệ-sĩ ISFP nhiều hơn. Nhưng nếu họ có lòng tự tin và hãnh-diện nhiều, họ lại càng bớt giống nhau. Trường-phái Carl Jung tưởng rằng mẫu người ISTP cũng giống như mẫu người kiến-trúc-sư INTP, ngoại trừ một vài khác-biệt nho nhỏ, bởi vì họ cho mẫu người ISTP là suy-tư và hướng-nội. Mẫu người INTP thích lý-luận, triết-lý và kiến-trúc trong đường lối họ suy nghĩ, còn người ISTP hoàn toàn lãnh-đạm với đường lối đó. Chỉ cần nhìn thoáng qua người ISTP cũng thấy hai mẫu tính tình thật khác xa nhau, và chẳng có gì giống nhau bao nhiêu.

    Điều quan-trọng nhất về mẫu người ISTP là yếu-tố SP họ có chung với những người SP khác. Có người tưởng mẫu người nhà nghề ISTP và ban giám-đốc ISTJ giống nhau nhiều vì yếu-tố IST chung, nhưng thực ra hành-động của họ trái ngược nhau rất nhiều: một đàng là bi-quan, một đàng là lạc-quan; một đàng là quyền-uy, một đàng là bình-đẳng; một đàng là tiết-kiệm, một đàng là tiêu-dùng sử-dụng; một đàng là tin-tưởng luật-lệ, một đàng là coi thường luật-pháp. Người ISTP có nhiều điểm giống người diễn-viên ESFP hơn bất cứ mẫu tính tình nào có yếu-tố NT hoặc SJ. Ngoài ra, họ luôn vui vẻ, trung-tín với bạn bè, không muốn ràng buộc rắc rối, không đòi hỏi nghĩa-vụ bó buộc , ít hẹn ước thề nguyền, rất đơn sơ trong các mơ ước, đáng tin, niềm nở và quảng-đại.

    16.- người ISFP nghệ-sĩ: 15%
    Mặc dầu tất cả các mẫu tính tình SP , nghệ-sĩ đa-tình, đều có máu văn-nghệ, thường thường họ không theo đuổi nghệ-thuật với cùng một lòng hăng say tha thiết như người ISFP. Không hiểu vì lý-do gì mà người ISFP có nghệ-sĩ-tính và hâm-mộ nghệ-thuật hơn các mẫu SP khác. Do đó nếu thấy ai là một nghệ-sĩ tài-ba dù là hội-họa, sáng-tác nhạc hay vũ, thường thường họ là mẫu người ISFP. Nhạc-sĩ Beethoven, nhạc-trưởng Toscanini, danh-họa Rembrandt, vũ-sư Nijinski là những người thuộc mẫu tính tình ISFP. Tuy nhiên khó mà nhận-định ra được tính tình người ISFP ngay cả nơi những nghệ-sĩ đại-tài, và vì thế có lẽ người ISFP là người dễ bị hiểu lầm hơn hết.

    Một lý-do chính gây hiểu lầm là vì người ISFP có khuynh-hướng không trực-tiếp biểu-lộ tâm-tình, diễn-tả tìmh-cảm, mà chỉ gián-tiếp qua hành-động. Nếu họ tìm được dịp biểu-lộ qua nghệ-thuật, họ sẽ biểu-lộ diễn-tả qua nghệ-thuật một phần nào. Bằng không, họ chẳng cho ai biết con người họ ra sao, làm cho không ai nhận ra được chiều-hướng xã-hội vô-hình của họ. Dĩ nhiên trong trường-hợp họa-hiếm nơi các thiên-tài, ai cũng biết tên tuổi tiếng tăm người ISFP nhưng ít ai biết rõ con người thực bên trong của họ ra sao. Harpo Marx, một kịch-sĩ nổi tiếng, là một trường-hợp điển-hình: ai cũng biết tiếng nhưng chẳng ai hiểu tâm-tính con người đó.

    Quan-sát thật kỹ, chúng ta nhận thấy trong số 100 người chỉ có một thiểu-số 5% người ISFP, trong khi đó 15% ESFP, nhưng họ cũng ưa đi tìm hưởng-thụ, và hành-động theo ngẫu-hứng như bao nhiêu người SP khác. Họ không có được mục-đích đi tìm ý-nghĩa như người NF, hoặc có óc khoa-học như người NT, hoặc buôn bán như người SJ. Người ISFP sống cho giây phút hiện-tại, hưởng-thụ những gì họ hiện đang có, và được chừng nào hay chừng đó. Họ không biết chuẩn-bị đặt kế-hoạch. Họ hâm-mộ nghệ-thuật không phải để chuẩn-bị cho tương-lai mai sau, nhưng là vì hiện-tại họ đang cảm-nghiệm hứng-thú. Người ISFP không muốn chờ-đợi, vì chờ đợi sẽ làm hứng thú tiêu tan. Họ muốn coi những ngẫu-hứng như trung-tâm-điểm cuộc đời của họ. Người ISFP cũng không tha-thiết tận tụy với nghệ-thuật đâu, mà họ chỉ bị thu hút lôi cuốn vào đó thôi. Chính vì thế, những thiên-tài luyện-tập lâu giờ không phải là vì họ muốn tập-luyện để chuẩn-bị gì, nhưng đó là hành-động của họ: muốn biểu-diễn chính lúc đó. Chính hành-động làm chủ con người ISFP, chứ người ISFP không làm chủ được hành-động. Do đó đừng tin rằng người ISFP sẽ chuẩn-bị cẩn-thận, sẽ đặt kế-hoạch chu-đáo. Họ vẽ, hát, vũ, chạy, nhẩy, chỉ vỉ họ phải làm như vậy thôi. Họ leo núi chỉ vì có núi ở trước mặt đó.

    Vì lẽ người ISFP bị hành-động hiện-thời chi-phối, chứ không phải hướng về mục-đích tương-lai, nên họ dễ bị mệt nhọc, đau khổ, nguy-hiểm: đó là hậu-quả thường đi liền với những sinh-hoạt họ ưa chuộng mà nhiều khi họ quên mất. Không phải là người ISFP không quen biết những hậu-quả đó, nhưng là họ dấn-thân hoạt-động, nên họ không để ý gì nữa. Về điểm này, người ISFP cũng giống như những người SP khác, và khác-biệt với các mẫu tính tình khác.

    Người ISFP cũng như những người SP khác có một loại trí-tuệ đặc-biệt. Nên nhớ lại định-nghĩa về trí-tuệ trong sách này: khả-năng hoạt-động qua mọi hoàn-cảnh. Trí-tuệ đặc-biệt của người ISFP có thể gọi được là ‘óc cụ-thể của nghệ-sĩ’. Khả-năng này khác hẳn với khả-năng của người NF, NT và SJ, dĩ nhiên phải hiểu rằng mỗi loại người có một trí-tuệ đặc-biệt. Óc nghệ-sĩ cụ-thể này giúp cho người ISFP sống thật sát với thực-tế. Trong khi người ISTP thích-hợp với các dụng-cụ, người ISFP lại thích-hợp với các đường nét, cơ-cấu, bóng hình, với các giác-quan về đụng chạm, di-chuyển, nhìn nhận, hòa hợp trong âm-thanh. Giác-quan của người ISFP có vẻ nhậy cảm và tinh-tế chính-xác hơn những mẫu tính tình khác. Họa-sĩ Rembrandt có thể gần như nếm được các mầu sắc khác nhau. Nhạc-trưởng Toscanini có thể nghe ra được một nốt nhạc sai trong dàn nhạc đại-hòa-tấu. Văn-sĩ Hemingway dùng ngôn-từ thật chính-xác để nếm, ngửi và cảm thấy các làn sóng biển. Óc nghệ-sĩ cụ-thể này dường như dính liền với xương cốt da thịt người ISFP vậy.

    Khía cạnh đời sống xã-hội của người ISFP không nên để cho khía cạnh biểu-diễn nghệ-thuật tài-tình lấn át. Người ISFP phải là người tử-tế, hiền-hòa, dễ thương hơn hết tất cả các mẫu tình tình, ít ai sánh bì được, mà không bị ràng buộc gò bó gì cả. Ai trong chúng ta cũng có lòng nhân-từ khoan-hậu, nhưng người ISFP trổi vượt về điểm này. Người ISFP đặc-biệt nhậy-cảm đối với buồn khổ đau thương của người khác, như Thánh Phanxicô khó khăn của thành Assissi động lòng trắc-ẩn, sẵn sàng hy-sinh mọi sự cho người bị đau khổ.

    Thường thường người ISFP không để ý đến việc trau dồi khoa ăn nói, viết lách, tiếp-chuyện. Dẫu sao nói cũng là trừu-tượng, không cụ-thể, mà người ISFP chỉ muốn cái gì cũng phải cụ-thể thực-tế sờ nắn được tận tay , nhìn ngắm được tận mắt, nghe thấy được tận tai, ngửi hơi được tận mũi. Có người ISFP quá để ý đến thực-tế của giác-quan, nên có gây trở-ngại cho ngôn-từ, làm cho ngôn-từ không biểu-lộ được tâm-tình liên-hệ êm ái giữa người với người nữa. Vì thế có khi người khác nhận thấy người ISFP đóng kín, riêng rẽ, dễ nản, không muốn dùng ngôn-từ để diễn-tả tâm-tình của mình. Họ không muốn dùng ngôn-từ vì không thấy hứng-thú, chứ không phải vì họ không có khả-năng. Văn-sĩ Hemingway đã phá đổ thành-kiến đó, khơi-mào cho thế-hệ những người ISFP đi vào thế-giới ngôn-từ, và dùng những gì không tinh-tế để tạo-dựng nghệ-thuật, đổi mới bộ mặt văn-học thế-kỷ 20 này.

    Sau khi ngiên-cứu so sánh, người ta nhận thấy số các nhà nghệ-sĩ tài-danh ISFP thực là đáng sợ. Những người SP khác không có bao nhiêu danh-tài nghệ-sĩ. Họa-sĩ Gaugin và nhạc-sĩ Puccini là những người ESTP họa-hiếm. Âm-nhạc và khiêu-vũ hình như là lãnh-vực chuyên-môn của người ISFP, và lực-sĩ cũng có một số thuộc mẫu tính tình này.

    Dĩ nhiên không phải tất cả những người ISFP là nghệ-sĩ hoặc phải trở nên nghệ-sĩ theo nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa rộng, nghệ-thuật là bất cứ hành-động nào được điều-hành tự-do, và chính nghệ-thuật hiểu theo nghĩa đó là điểm mạnh của người SP nói chung và của người ISFP nói riêng. Như vậy người ISFP có nhiều cơ-hội để lựa chọn nghề-nghiệp, nhất là nếu họ không bỏ học sớm. Nhiều người SP bỏ học vì nhà trường chẳng có mấy tí gì hấp-dẫn lôi cuốn hoặc thách-đố trí-tuệ của họ. Nếu một ngày nào đó người ISFP phải chọn một nghề đòi hỏi tuân theo luật-lệ cố-định không được tự-do, đó thực là một ngày đáng buồn cho họ. Muốn được hạnh-phúc và có thành-quả, người ISFP phải chọn những hành-động thay đổi và được tưởng-thưởng xứng đáng vì đã thực-hành đàng hoàng.

    Sau cùng, nơi nhiều người ISFP có một bản-năng tự-nhiên khao-khát thiên-nhiên, thôn-quê, đồng-nương. Họ cảm thấy thoải mái hồn-nhiên với cảnh hoang-dã, và thiên-nhiên hình như mở rộng đón chào họ. Một số người cư-xử thật đặc-biệt với loài vật, kể cả dã-thú, y như thể có một liên-hệ tương-thân tương-ái tin-tưởng lẫn nhau. Trong một vài trường-hợp, giữa người ISFP và trẻ em cũng có một mối giây tự-nhiên, không gò bó tương-tự.

    Có lẽ điều quan-trọng nhất để hiểu người ISFP là phải luôn nhớ rằng họ thuộc nhóm SP, đặc-biệt có nhiều điểm chung với mẫu người ESFP, và giống mẫu người ISTP nhiều, cho dù có một vài điểm chung với người ESTP, một mẫu tính tình khác hẳn.

    Nói tóm lại, điểm chung của những người SP này là thái-độ lạc-quan yêu đời, tính cách bình-đẳng thân-hữu. Họ không chịu phục-tùng, và tìm cách tránh xa nghĩa-vụ, tù túng, kiềm-chế. Họ thích tự-do, dễ buồn chán, thích vui nhộn phấn-khởi, mạo-hiểm, cầu may, thử thời-vận. Họ không nhằm mục-đích xa vời phiền-toái, nhưng tin-tưởng, quảng-đại, và đúng là một người chi-tiêu hơn là người tiết-kiệm.

    Người ISFP bị hiểu lầm không phải chỉ vì họ rút lui vào bóng tối, dè dặt, có khi quên mình, nhưng là vì trường-phái Carl Jung đã liệt-kê họ vào loại đa-cảm hướng-nộïi, và như vậy họ rất giống mẫu người chinh-phục INFP. Cứ để ý quan-sát thật kỹ một ít người ISFP, bạn sẽ thấy họ chẳng giống mẫu người INFP bao nhiêu. Những mẫu tính tình khác nên nhớ đừng có khuynh-hướng phóng-chiếu những đặc-điểm tính tình của mình trên mẫu người ISFP trầm lặng.

    Bảng tổng-quan về các mẫu tính tình
    1.- ENFJ nhà giáo 5%
    2.- INFJ tác-giả 1%
    3.- ENFP nhà báo 5%
    4.- INFP nhà chinh-phục 1%
    5.- ENTJ chỉ-huy-trưởng 5%
    6.- INTJ nhà khoa-học 1%
    7.- ENTP nhà phát-minh 5%
    8.- INTP kiến-trúc-sư 1%
    9.- ESTJ ban điều-hành 13%
    10.- ISTJ ban giám-đốc 6%
    11.- ESFJ nhà buôn 13%
    12.- ISFJ người bảo-trì 6%
    13.- ESTP cổ-động-viên 13%
    14.- ESFP diễn-viên 13%
    15.- ISTP nhà nghề 7%
    16.- ISFP nghệ-sĩ 15%

    Theo Giáo sư Linh Mục Vũ Hùng Tôn
    Nguyên-tác

    PLEASE UNDERSTAND ME

    character & temperament types
    David Keirsey & Marilyn Bates
    Del Mar, CA 1984
    Permision granted by PNBC 1993

    Bản dịch

    HIỂU MÌNH BIẾT NGƯỜI

    Hà-Hoàng-Tâm
    cao-học hướng-dẫn tâm-lý

  17. thomastanda says:

    How to Develop 5 Critical Thinking Types
    Holly Green, Contributor

    Great leaders think strategically.

    They can understand and appreciate the current state as well as see possibilities. When dealing with today’s issues, they operate from a broad, long-term perspective rather than focusing only on short-term implications. And they can gather information and make decisions in a timely manner.

    Most of all, strategic leaders know how to strike a balance between visualizing what might or could be and an effective day-to-day approach to implementation. They can look into the future to see where the company needs to go and what it will look like once they get there. And they can do this while making sure the right things get done on a daily basis.

    This type of strategic leadership requires five different types of thinking. Knowing when and how much to utilize each one is the hallmark of great leaders.

    Critical thinking is the mental process of objectively analyzing a situation by gathering information from all possible sources, and then evaluating both the tangible and intangible aspects, as well as the implications of any course of action.
    Implementation thinking is the ability to organize ideas and plans in a way that they will be effectively carried out.
    Conceptual thinking consists of the ability to find connections or patterns between abstract ideas and then piece them together to form a complete picture.
    Innovative thinking involves generating new ideas or new ways of approaching things to create possibilities and opportunities.
    Intuitive thinking is the ability to take what you may sense or perceive to be true and, without knowledge or evidence, appropriately factor it in to the final decision.
    Until recently, most leaders could get by with critical and implementation thinking. But in today’s hyper-fast world, conceptual, innovative and intuitive thinking have becoming increasingly important, especially in industries where frenetic change represents the rule rather than the exception.

    Business leaders still need to gather and analyze data, make decisions, and implement them well. But now they have to take in vast amounts of data from a more diverse array of sources. They have to make decisions much more quickly. And they have to do it knowing that everything could change overnight.

    In such an environment, the ability to ponder possibilities, see patterns and connections that others don’t see, and look at the same data in new and different ways represents a formidable competitive advantage.

    Some leaders seem to be born with these intuitive types of thinking skills. But since most of us are not so naturally gifted, here are some suggestions for developing these essential leadership skills.

    Take time to look around. Browse business websites and read related publications to learn how other organizations have implemented various strategies in order to increase their competitive advantage.
    Be willing to change directions and/or pursue new goals when strategic opportunities arise. Think about what is keeping you on the same path and force yourself to ponder whether or not you should shift plans. Consider worst-case scenarios.
    When problems arise, don’t settle for a quick fix. Instead, carefully look at the problem and take the time to analyze all possible solutions. Create a checklist for yourself to trigger thoughts on long-term consequences and possibilities.
    Help others in the organization feel that they are part of the overall mission and strategies by discussing it with them frequently and involving them as much as possible.
    Pause and view your situation from another perspective – that of an employee, customer, supplier, etc.
    Research and analyze your company’s major competitors. Create a detailed profile of each one and share it with your team. Constantly look for first-hand data rather than relying on anecdotal information.
    Engage in “what-if” thinking. For example, “If we do this, how will our competitors respond? What will our customers think? What impact will this have on our suppliers and distributors? What if there is something we have not considered?”
    Expand your data sources to include areas totally outside your business or industry. Analyze other industries to see what they’re doing well and how that could be adapted to your business.
    Most of all, get in the habit of stimulating your mind by not thinking about your business. From time to time, go outside your office and take a walk. Turn off your processing and just soak in the sights, sounds, and scents of the environment. Let your mind wander, and allow yourself the luxury of daydreaming. You’ll be amazed at what you can come up with simply by shifting out of the critical/implementation thinking modes from time to time.

    The human brain is a powerful leadership tool. It works even better when you use all five thinking types!

  18. Pingback: Đạo cuộc đời (PBSC) hay quản trị cuộc đời theo Nghiệp Số | thomastanda

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s