Từ Max, Angel đến tư tưởng Mao

Trong một bức thư tháng 9- 1890, Ăng ghen viết: “Theo quan diềm duy vật, nhân tố mang tính quyết định trong quá trình lịch sử nói cho cùng là sản xuất và tái sản xuất trong đời sống hiện thực.
Theo http://www.viet-studies.info/kinhte/MaoTrachDong_NganNamCongToi.htm#Chuong_18

Mác chịu ảnh hưởng sâu xa bởi báo cáo điều tra “Tinh hình giai cấp công nhân Anh” của Ăng-ghen, trong tập 1 “Tư bản luận”, ông lại thu thập nhiều báo cáo điều tra về các nhà máy, chứng minh kết luận của Ăng-ghen máy móc cướp mất bát cơm của công nhân. Mác coi máy móc là lực lượng thù địch của giai cấp công nhân. Ông nói:

Máy móc không những là người cạnh tranh rất hùng mạnh, lúc nào cũng có thể khiến công nhân làm thuê trở nên dư thừa, mà nó còn được các nhà tư bản công khai tuyên bố là lực lượng thù địch công nhân, và ra sức lợi dụng. Máy móc trở thành vũ khí mạnh mẽ nhất đàn áp bãi công tức những cuộc bạo động mang tính chu kỳ của lao động phản kháng ách chuyên chế tư bản… Máy hơi nước vừa ra đời đã đối đầu với “sức người”, khiến các nhà tư bản có thể đập tan những đòi hỏi ngày càng cao của công nhân – những đòi hỏi có thể làm cho thể chế nhà máy vừa khởi đầu đã lâm vào khủng hoảng. Có thể viết cả một pho sử chứng minh rằng nhiều phát minh từ năm 1830 đến nay chỉ nhằm bảo hộ nhà tư bản đối phó các cuộc bạo động của công nhân”.

Mác và Ăng-ghen đồng tình với công nhân thất nghiệp, bày tỏ nỗi bất bình của họ, muốn ngăn chặn hiện tượng máy móc chèn ép công nhân, đây là việc làm hợp đạo lý 100%.

About thomastanda

1. Management consulting : Working with many kinds of customers including both Vietnamese and foreigners, good experience, Business Process outsourcing, BPI : document templates as well as professional skills in some areas:Banking, Financial management, DD 2. Information technology: ERP, SCM, CRM, MIS, BI, DIS and Specific Industry Solutions, BSC, PBSC, TPS: More than 18 years implementing EUROJOB, iFlex -Core Banking, Microsoft Dynamics-Navision, Solomon, Axapta, especially BizForceOne® for outstanding successful customer implementations. 1997 – 1998: Pixibox, French company 1998 – 2000 Vietnam Bank for Agriculture and Rural 2. Development, HCM Branch : IS Manager and Accountant 2000 -> 2002 Eaten Asia Bank as IS MIS Project manager 2002 at Ben Thanh Brewery and Beverage 2004> 2006: Kimdosoft (Time shared Real Estate – Phú Hải resort) and ERP-with Navision implementation: Sanofy pharma. 2006-2007: BMI founder with MegasolutionCenter, USA 2007 -> now: BizForceOne Country manager with BFO Implementation: >30 projects with BizForceOne® Projects: Casumina JSC, TTA Group, DANAPHA, Vinpharco, Indico,CPC1, Duoc Hau Giang, Vimedimex, Danameco, Medochemie, VTJ, Vietceramic, PhuongNga, Samco… 2011 -> now: CENFORD : Center of Research and Development Association – Center of Asia R&D Association- VN Gorvement. Xem tài liệu powerpoint về hệ sinh thái quản trị (Business Management ecology system): http://www.authorstream.com/channels/thomastanda/Business-Management-Ecology/
This entry was posted in Management consulting. Bookmark the permalink.

3 Responses to Từ Max, Angel đến tư tưởng Mao

  1. Van hoa dan tộc says:

    Từ những sự thật lịch sử trên, chúng ta có thể rút ra kết luận sau: Công nhân không đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Trong lực lượng sản xuất bao gồm máy móc và lao động phụ trợ của công nhân, công nhân ở vào vị trí tiêu cực, bị động, họ mong muốn duy trì hiện trạng trong lao động sản xuất có tiền lương ổn định và đời sống ổn định, họ sợ việc cải tiến máy móc hoặc phát minh máy móc mới sẽ buộc họ phải đổi nghề thậm chí mất cả cần câu cơm. Theo bản năng, công nhân thù địch máy móc mới, họ không đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Sau khi máy móc mới, kỹ thuật mới được sử dụng rộng rãi, lực lượng sản xuất tiên tiến liền biến thành lực lượng sản xuất phổ thông, máy móc mới, kỹ thuật mới lại đang trong quá trình phát minh. Thế là công nhân lại đứng lên phản đối máy móc mới, kỹ thuật mới cao cấp hơn sắp phát minh làm rối loạn trật tự đời sống và công tác vừa tạm ổn định của họ. Lực lượng sản xuất là một khái niệm tương đối và luôn luôn biến động, nó vĩnh viễn ở vị trí đối lập với lợi ích đã có của công nhân, nhưng việc thật sự giải phóng giai cấp công nhân lại gửi gắm vào lực lượng sản xuất phát triển vô hạn và tổng của cải xã hội không ngừng tăng thêm. Trước đây chúng ta vẫn tuyên truyền giai cấp công nhân gắn với đại sản xuất, là giai cấp tiên tiến nhất, đương nhiên đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến; còn nhà tư bản lại cản trở lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở thành xiềng xích cản trở lực lượng sản xuất phát triển. Tuyên truyền như vậy là không đúng, vừa không phù hợp sự thật lịch sử, lại tách khỏi đời sống hiện thực. Chế độ cổ phần có thể mở rộng vô hạn qui mô sán xuất, giải quyết mâu thuẫn giữa đại sản xuất xã hội hoá và chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

  2. Van hoa dan tộc says:

    Đấy là hạn chế lịch sử khi Mác viết “Tư bản luận” tập 1.
    Công ty cổ phần đã phá vỡ lũng đoạn, sáng tạo hình thức chiếm hữu xã hội hoá tư liệu sản xuất tương xứng với “tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động”. Mác không phải học giả khư khư bám lấy cái cũ, bảo vệ luận đoán đã lỗi thời. Sau khi nghiên cứu công ty cổ phần, Mác đưa ngay ra kết luận mới:
    “Trong công ty cổ phần, chức năng đã tách khỏi quyền sở hữu tư bản, lao động cũng đã hoàn toàn tách khỏi quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền sở hữu lao động thặng dư. Kết quả sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến cực độ là điểm quá độ phải trải qua, đề tư bản lại chuyển hoá thành sở hữu của người sản xuất, song lúc đó nó không còn là tài sản tư hữu của từng người sản xuất riêng lẻ, mà là tài sản chung của những người cùng sản xuất, là tài sản xã hội trực tiếp”. (Tư bản luận, quyển 3, trang 502).
    Công ty cổ phần ra đời khiến Mác chẳng những tìm được hình thức coi tư liệu sản xuất “là tài sản chung của những người cùng sản xuất, tài sản xã hội trực tiếp”, mâ còn tìm được điểm quá độ “tư bản chuyển hoá thành sở hữu của người sản xuất”) tức “thiết lập lại chế độ sở hữu cá nhân”, đó là cổ phiếu. Hình thức mới của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất hiện thực mà Mác tính đến khi viết quyển 3 “Tư bản luận” là để mỗi cá nhân đều có thể chiếm một số cổ phần nhất định của xí nghiệp, cụ thể là chế độ công hữu này được thực hiện theo chế độ tư hữu về cổ phần, với đặc trưng công nhân viên chức có cổ phần, các cổ đông nhỏ, cổ đông lớn cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất, là xã hội hoá quyền sở hữu tư liệu sản xuất thực hiện dưới hình thức chế độ toàn dân nắm cổ phần. Công ty cổ phần ra đời khiến sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện nhân tố xã hội chủ nghĩa. Ăng-ghen cho rằng: “Sản xuất tư bản chủ nghĩa do các công ty cổ phần kinh doanh không còn là sản xuất tư nhân, mà là sản xuất mưu lợi cho rất nhiều người kết hợp cùng nhau. Nếu chúng ta từ các công ty cổ phần xem xét các Trust chi phối và lũng đoạn toàn bộ ngành công nghiệp, thì ở đó chẳng những sản xuất tư nhân đã ngừng, mà tính vô kế hoạch cũng không còn nữa”.
    Về chính trị, Anh, Mỹ, Đức… đã từng bước thực hiện nền chính trị chính đảng, các đảng của giai cấp công nhân có số ghế nhất định trong quốc hội. Chẳng hạn số phiếu Đảng Dân chủ Xã hội giành được ngày càng tăng. Năm 1893, Ăng-ghen nói: “Nếu đến năm 1895 mới tổ chức bầu cử, thì chúng ta sẽ được 3,5 triệu lá phiếu. Cả nước Đức có 10 triệu cử tri, bình quân có 7 triệu người tham gia bỏ phiếu, Nếu trong 7 triệu cử tri Đức có 3,5 triệu cử tri ủng hộ chúng ta, thì Đế quốc Đức không thể tiếp tục tồn tại như ngày nay được nữa”. (Toàn tập Mác-Ăng-ghen, quyển 22, trang 629).
    Đã có khả năng giai cấp công nhân nắm chính quyền bằng biện pháp hợp pháp. Ăng-ghen thậm chí dự đoán đến cuối thế kỷ 19, Đảng Dân chủ Xã hội Đức có thể gánh vác sứ mệnh quản lý nhà nước. Chủ nghĩa tư bản sẽ hoàn thành quá độ hoà bình lên chủ nghĩa xã hội như vậy. Quyển 3 “Tư bản luận” đã lật đổ kết luận của quyển 1, không cần làm “nổ tung” cái “vỏ ngoài” của chủ nghĩa tư bản nữa. Chủ nghĩa tư bản Manchester trong đầu Mác (chủ nghĩa tư bản nguyên thuỷ) đã diệt vong. Sau đó, dưới hình thức chế độ cổ phần, chủ nghĩa tư bản đã thoát khỏi nền chính trị do một số ít người thao túng, dần dần xã hội chủ nghĩa hoá. Mác tin chắc vào xu thế phát triển lịch sử này, chỉ có “các nhà kinh tế học tầm thường không hình dung nổi các hình, thức phát triển trong nội bộ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, có thể ly khai và tách khỏi tính chất tư bản chủ nghĩa đối lập với họ”. Những ý kiến trên trong “Tư bản luận” quyển 3 phảng phất như Mác để lại cho các nhà kinh tế học tầm thường “cách mạng nhất” đời sau không tin vào quá độ hoà bình.
    Mác nhận định: Công ty cổ phần về kinh tế là “tài sản chung của những người sản xuất, tài sản xã hội trực tiếp”, nhưng nó không xoá bỏ chế độ tư hữu, mà dùng chế độ sở hữu cá nhân cổ quyền phân tán thay thế chế độ sở hữu tư nhân của một số người, lấy đó làm hình thức thực hiện chế độ công hữu; con đường nghị viện về chính trị không phải là đập tan bộ máy nhà nước cũ, mà thông qua bầu cử nắm lấy bộ máy ấy. Đó chính là con đường xã hội dân chủ đường nét rõ ràng mà Mác và Ăng-ghen đã phác hoạ vào những năm cuối đời, tuy chưa viết thành văn.
    Năm 1883, Mác tạ thế. Sau đó, Ăng-ghen tiếp tục lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế trong 12 năm, và đã thành lập Quốc tế 2 vào năm 1889. Ăng-ghen chỉ đạo cụ thể Đảng Dân chủ Xã hội Đức tiến hành cuộc đấu tranh hợp pháp, nhấn mạnh thành công của Đảng trong tuyển cử có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ phong trào công nhân quốc tế:
    “Có thể hình dung trong một nước mà cơ quan đại nghị nhân dân tập trung mọi quyền lực vào tay mình, chỉ cần được đại đa số nhân dân ủng hộ là có thể tuỳ ý hành động theo hiến pháp, thì xã hội cũ có thể hoà bình bước sang xã hội mới, chẳng hạn trong các nước cộng hoà dân chủ như Mỹ, Pháp, trong nước quân chủ như Anh”. (Toàn tập Mác- Ăng-ghen, quyển 22, trang 173).
    Ngày 6-3-1895, trong “Lời nói đầu” cuốn “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, Ăng-ghen đã suy ngẫm lại và sửa chữa lần cuối cùng toàn bộ hệ thống của chủ nghĩa Mác:
    “Lịch sử chứng tỏ chúng ta từng mắc sai lầm, quan điểm của chúng ta hồi đó chỉ là một ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều hơn: không những đã loại bỏ những sai lầm mê muội của chúng ta hồi đó, mà còn hoàn toàn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 (chỉ cách mạng bạo lực trong “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” – chú thích của người trích dẫn) nay đã lỗi thời về mọi mặt, đây là điểm đáng nghiên cứu kỹ lưỡng hơn”.

  3. thomastanda says:

    Bắt đầu đến vn?

    Chuyện “ngồi chơi xơi nước” và lương “ba cọc ba đồng”
    ►Lao động trí thức, nhân viên văn phòng tại không ít cơ quan nhà nước cho rằng, họ đang phải nhận đồng lương “ba cọc, ba đồng”…Câu chuyện lương không đủ sống dường như không chỉ được nhắc đến ở nhóm lao động phổ thông. Lao động trí thức, nhân viên văn phòng tại không ít cơ quan nhà nước cũng cho rằng, họ đang phải nhận đồng lương “ba cọc, ba đồng”.Liên quan

    “Sẽ điều chỉnh lương tối thiểu theo CPI”Hơn 280 nghìn người hưởng lương “nhà nước” năm tớiNhiều doanh nghiệp thờ ơ với điều chỉnh lương tối thiểuLương tăng gấp ba lần năng suất lao độngNăng suất lao động tại Việt Nam thuộc hàng đáy khu vực Bình luận (52)
    TAT:Những người này thuộc một bộ phận của khối công chức nhà nước, bạn nên hiểu kỹ…Duy Điệp:Chừng nào số viên chức ăn lương nhà nước giảm đi còn 1/3 số hiện tại thì…Hoàng Sắc:Làm việc ở đâu là quyền của mỗi cá nhân, còn chi trả bao nhiêu…Mới nhất

    Thu hút vốn FDI tiếp tục tăng tốcKhôi hài chuyện chính quyền làm mất “sổ đỏ” của dânHà Nội tính chuyện dùng xe đạp để giảm tắc đườngVCCI, dấu lặng tuổi “tri thiên mệnh”CPI tháng 4 làm ngân hàng ngoại bất ngờXem nhiều

    Chuyện “ngồi chơi xơi nước” và lương “ba cọc ba đồng”CPI tháng 4 làm ngân hàng ngoại bất ngờ“Không bất thường GDP quý 1”Đề nghị giãn lộ trình điều chỉnh lương tối thiểuCPI tháng 4 tại Tp.HCM và Hà Nội tiếp tục âmVŨ QUỲNH 52InLao động một mực kêu lương thấp, không đủ đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu. Tuy nhiên, theo một số tổ chức và chuyên gia trong lĩnh vực này thì cần phải có góc nhìn thẳng thắn hơn cho đồng lương mà người lao động đang hưởng.

    Bỏ việc để được… tăng ca

    “Việt Nam không phải ngoại lệ khi có mức lương tối thiểu thấp. Thực tế, mức lương tối thiểu ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển cũng thấp hơn nhiều so với mức lương đủ sống. Vì thế, vấn đề ở chỗ là kỹ năng và năng suất lao động”, Oxfam, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giảm nghèo và đấu tranh cho bình đẳng, nêu quan điểm khi bàn về vấn đề lương tối thiểu ở Việt Nam.

    Một cán bộ của Oxfam nói rằng, trong khi ở nhiều nước thương lượng tập thể được đề cao, người lao động biết thương lượng và có thể tự tạo dựng được giá trị cho sức lao động của mình, thì ở Việt Nam, lao động tại các nhà máy chỉ biết “vác nặng” và thích được làm thêm giờ.

    Thực tế, theo khảo sát của VnEconomy tại một số khu công nghiệp cũng cho thấy thực trạng nhiều lao động sẵn sàng bỏ việc ở một công ty này và chạy sang một công ty khác chỉ vì ở đó họ được làm thêm giờ, đồng nghĩa với việc sẽ có thêm thu nhập.

    Nguyễn Thị Mùi, công nhân của một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng ở khu công nghiệp Bắc Thăng Long, làm việc 8 tiếng/ngày, đã bỏ việc để chuyển sang làm cho một doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử của Nhật Bản với 12 tiếng/ngày. Lý do nghỉ việc chỉ vì không được tăng ca.

    Một lao động làm việc tại nhà máy điện tử của một doanh nghiệp ở khu công nghiệp Biên Hoà, Đồng Nai cũng cho biết, cô rất thích doanh nghiệp này vì tại đây có cơ hội được làm thêm giờ. Lương cô từ 2,4 triệu/tháng, cộng thêm tiền tăng ca nên lương lên tới 4 triệu đồng/tháng.

    “Trong khi đó, họ không biết tạo giá trị cho mình bằng việc tăng kỹ năng và năng suất lao động, sao cho chỉ cần làm việc 8 tiếng/ngày thì họ vẫn có được 4 triệu đồng/tháng”, lãnh đạo một sở lao động – thương binh và xã hội nói.

    Ông này cũng đưa ra cảnh báo, nếu lao động lăn xả vào tăng ca, thay vì sức khoẻ họ đủ để làm việc trong 30- 40 năm, thì họ chỉ đủ để làm việc trong 10 đến 20 năm.

    Việc thiếu kỹ năng và khả năng thương lượng tập thể còn được Oxfam dẫn chứng trong việc nhiều lao động Việt Nam phải phụ thuộc vào trung gian, cụ thể là phải qua một công ty cho thuê lao động. Điển hình tại công ty Unilever, có hơn một nửa công nhân ở đây là được thuê lại từ một công ty cho thuê lao động.

    Lương “ba cọc, ba đồng”

    Câu chuyện lương không đủ sống dường như không chỉ được nhắc đến ở nhóm lao động phổ thông. Lao động trí thức, nhân viên văn phòng tại không ít cơ quan nhà nước cũng cho rằng, họ đang phải nhận đồng lương “ba cọc, ba đồng”.

    Tuy nhiên, theo Phó chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Bùi Sỹ Lợi, nói đi thì cũng phải nói lại.

    Ông Lợi cho rằng, hiện trong không ít công ty, đơn vị nhà nước, có đến 40% lao động “ngồi chơi xơi nước”, còn ngân sách thì đang phải gồng mình để “nuôi” những đối tượng lao động này. Khi lao động không tạo ra sản phẩm, không tạo nên của cải vật chất thì Nhà nước lấy của cải từ đâu ra để trả lương, chưa nói đến việc điều chỉnh tăng lương cho họ?

    Một cán bộ tổ chức nhân sự của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đưa ra nhận xét, có lẽ do quá nhàn rỗi, không biết làm gì nên mới xuất hiện thực trạng một bộ phận dân công sở thường xuyên la cà quán xá trong giờ làm việc. Thế mới có chuyện mới đây Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình đã phải đích thân thị sát các quán cà phê trên địa bàn để “bắt quả tang công chức ăn cắp giờ công”.

    Tại Hà Nội, cũng không quá khó khăn để bắt gặp hình ảnh nhân viên của một doanh nghiệp, thậm chí là bộ, ngành nào đó làm việc riêng bên ngoài trong giờ hành chính.

    “Không chịu làm việc, thậm chí một ngày chỉ làm được mỗi việc duy nhất là nhận hai cái công văn đến…, nhưng lại luôn đòi hỏi lương cao, đủ sống là điều hết sức phi lý”, bà Nguyễn Thị Vân Anh, Giám đốc Navigosearch, nói như vậy khi trao đổi với VnEconomy xung quanh câu chuyện này.

    “Lao động của chúng ta cứ “kêu gào” lương tối thiểu thấp, nhưng vấn đề ở đây là thấp so với cái gì? Thử hỏi, một ngày lao động công sở thực sự làm việc được bao nhiêu tiếng đồng hồ? Hay là, trong 8 giờ ở công sở, thì lao động sẽ mất 2 giờ cho cà phê, 2 giờ cho lướt web xem thời trang, phim ảnh và hơn 1 giờ cho buôn chuyện”, bà Vân Anh nói.

    Đấy là chưa nói đến việc đưa năng suất lao động trong một giờ đồng hồ của lao động Việt Nam so với lao động nhiều nước trên thế giới sẽ thấy rõ sự khác biệt, bà Vân Anh dẫn dụ.

    Nói về năng suất lao động của lao động Việt Nam, mới đây Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng đã đưa ra những con số cụ thể, từ năm 2008 đến nay, trung bình một năm tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam là 3,3%/năm. Với tỷ lệ này, năng suất lao động của Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới là ở mức quá thấp, chỉ bằng 1/15 năng suất của lao động Singapore, 1/11 so với lao động Nhật Bản, 1/5 của lao động Malaysia và 2/5 của Thái Lan.

    http://vneconomy.vn/2013042302215983P0C9920/chuyen-ngoi-choi-xoi-nuoc-va-luong-ba-coc-ba-dong.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s