Văn hoá dân tộc hay môi trường sinh Thái!

Văn hóa của một dân tộc là toàn bộ những giá trị đã được chấp nhận và tạo ra cách suy nghĩ, hành động và ứng xử của dân tộc đó. Khi nhận định về văn hóa cá nhân của mình, chúng ta thường mắc phải một sai lầm rất lòn là đồng hóa văn hóa với kiến thức, trong khi kiến thức chỉ là một phần không quan trọng của văn hóa. Chúng ta có thể có những kiến thức rất sâu sắc về y học, điện tử, động nhiệt học, kế toán và cả triết lý nữa, nhưng văn hóa của chúng ta, nghĩa là cách sống, suy nghĩ, hành động và ứng xử của chúng ta vẫn theo một hệ thống giá trị có sẵn nào đó. (Trích)

About thomastanda

1. Management consulting : Working with many kinds of customers including both Vietnamese and foreigners, good experience, Business Process outsourcing, BPI : document templates as well as professional skills in some areas:Banking, Financial management, DD 2. Information technology: ERP, SCM, CRM, MIS, BI, DIS and Specific Industry Solutions, BSC, PBSC, TPS: More than 18 years implementing EUROJOB, iFlex -Core Banking, Microsoft Dynamics-Navision, Solomon, Axapta, especially BizForceOne® for outstanding successful customer implementations. 1997 – 1998: Pixibox, French company 1998 – 2000 Vietnam Bank for Agriculture and Rural 2. Development, HCM Branch : IS Manager and Accountant 2000 -> 2002 Eaten Asia Bank as IS MIS Project manager 2002 at Ben Thanh Brewery and Beverage 2004> 2006: Kimdosoft (Time shared Real Estate – Phú Hải resort) and ERP-with Navision implementation: Sanofy pharma. 2006-2007: BMI founder with MegasolutionCenter, USA 2007 -> now: BizForceOne Country manager with BFO Implementation: >30 projects with BizForceOne® Projects: Casumina JSC, TTA Group, DANAPHA, Vinpharco, Indico,CPC1, Duoc Hau Giang, Vimedimex, Danameco, Medochemie, VTJ, Vietceramic, PhuongNga, Samco… 2011 -> now: CENFORD : Center of Research and Development Association – Center of Asia R&D Association- VN Gorvement. Xem tài liệu powerpoint về hệ sinh thái quản trị (Business Management ecology system): http://www.authorstream.com/channels/thomastanda/Business-Management-Ecology/
This entry was posted in Management consulting. Bookmark the permalink.

9 Responses to Văn hoá dân tộc hay môi trường sinh Thái!

  1. thomastanda says:

    Văn hóa ứng xử: Dân miền Nam “ăn đứt” người miền Bắc
    Published on April 16, 2013 · 2 Comments
    Share

    Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền Bắc tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người miền Nam.

    LTS: Sau khi đăng tải bài viết: Nói bậy, chửi tục: Người miền Bắc ít kiềm chế hơn người miền Nam, Báo Giáo dục Việt Nam nhận được thư bày tỏ sự ủng hộ quan điểm này của độc giả Trịnh Hoàng Hiệp. Để độc giả khắp cả nước có thể tiếp tục bàn luận về vấn đề “nói bậy, chửi tục”, chúng tôi xin đăng tải nguyên văn lá thư này.

    Có giai thoại kể lại rằng, nhà phê bình Hoài Thanh, tác giả của cuốn sách bất hủ “Thi nhân Việt Nam” trong thời gian sống tại miền Nam đã chẹp miệng mà nói: “Người miền Nam, ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào”. Ngay trong cách nói này của ông cũng cho thấy rằng, văn hóa giao tiếp, ứng xử của người miền Nam… ăn đứt người miền Bắc.

    Đất nước Việt Nam chia thành nhiều vùng miền rõ rệt, có nguồn gốc tại miền Bắc. Sự phân chia này ảnh hưởng rõ ràng đến lối sống và văn hóa mỗi nơi một khác. Ngay cả trong giọng nói, ngôn ngữ giao tiếp từ Bắc vào Nam đều có sự thay đổi, đặc biệt là hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn. Gần đây, những clip được tung lên mạng về thói nói tục, chửi bậy của học sinh đã làm dư luận vô cùng phẫn nộ, bức xúc: Khi nữ sinh nói chuyện bằng chân tay, Clip hai nữ sinh hỗn chiến kinh hoàng, Choáng váng với nam sinh Thủ đô chửi tục trước cổng trường. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện học đường mà còn là câu chuyện của toàn xã hội.

    Trong cách cư xử với bề trên, hai miền Nam Bắc đều biểu hiện khác nhau. Nếu người miền Bắc nói “ạ” sau mỗi câu hỏi hoặc câu trả lời thì người miền Nam thường đệm “thưa” vào trước, “dạ” vào sau. Từ thuở nhỏ, hầu hết đứa trẻ nào cũng được dạy những lễ nghĩa cơ bản như vậy nhưng theo thời gian, khi con người dần lớn lên thì từ “ạ” của người miền Bắc thường được cắt giảm. Có lẽ bởi “ạ” mang nặng sự nghiêm túc, cứng nhắc và mô phạm, không còn phù hợp trong giao tiếp. Còn người miền Nam vẫn giữ nguyên từ “dạ” hay “thưa” như một lẽ tự nhiên.

    Mặc dù Hà Nội là trung tâm văn hóa nhưng tôi thấy rằng về sự lịch lãm, tinh tế thì người miền Bắc hơn người miền Nam, thế nhưng về văn hóa cư xử trong cộng đồng thì người miền Bắc lại phải học hỏi người miền Nam. Trong các lễ hội, người miền Nam ít cảnh nhốn nháo, xô đẩy hay cố tình làm hại của chung. Họ luôn có ý thức tôn trọng người khác và bảo vệ mình.

    Về cách sử dụng hai từ “cảm ơn” và “xin lỗi” hai vùng miền cũng khác nhau. Người miền Bắc rất hạn chế trong cách nói hai từ này, người ta chỉ nói như một luật lệ bất thành văn khi con cái nói với bố mẹ, ông bà, người ít tuổi nói với người hơn tuổi mà không biết rằng giao tiếp với cộng đồng cũng rất quan trọng. Nếu đi ngoài đường trên đất Bắc mà bạn bị xe đụng, bị giằng kéo, xô đẩy thì bạn chỉ nhận được những cái trợn tròn mắt, rồi phóng xe qua trước mặt. Nhưng người miền Nam thì khác, họ sẵn sàng nói xin lỗi nếu sai.

    Ở Sài Gòn, chuyện vào siêu thị, cửa hàng… thấy những cô nhân viên cúi gập người chào là điều hết sức bình thường. Thế nhưng ở Hà Nội, bạn sẽ xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó cúi gập người và nói lời cảm ơn – đó là chuyện hiếm thấy trên cả miền Bắc. Nếu đi trên đường mà có điện thoại, người miền Bắc có thể vừa lái xe vừa chửi tục, quát tháo ngay giữa phố để chứng tỏ mình là ai, nhưng người miền Nam thì họ sẽ dừng lại, ghé xe bên lề đường mà nói chuyện. Thanh niên miền Nam nhậu nhẹt về khuya, khi thành phố vắng người, không có cảnh sát giao thông họ vẫn dừng xe khi có đèn đỏ, nhưng miền Bắc thì khác, không cần nhìn ngó trước sau mà sẽ phóng xe đi thẳng.

    Từ ngoài xã hội lại nói về câu chuyện học đường nơi mà các em bộc lộ rõ nét nhất cách ứng xử. Sau giờ tan học, nếu đứng ở một cổng trường cấp III tại miền Bắc sẽ thấy rằng, vừa bước ra khỏi cổng trường học sinh nam thì bỏ “sơ vin”, châm thuốc và bắt đầu “phun châu nhả ngọc” đến kinh hoàng, học sinh nữ thì sẵn sàng cầm dép lên đánh nhau vì những lý do hết sức vớ vẩn.

    Môi trường nào cũng có những bức xúc, học sinh miền Nam có đánh nhau, nhưng mức độ man rợ thì không bằng miền Bắc. Học trò miền Nam chỉ đánh đấm nhau rồi thôi chứ ít khi kèm theo những hành vi xúc phạm như chửi bới thậm tệ, lột áo ngay giữa phố. Cứ thử xem những clip của học sinh Bắc thì biết, đánh nhau không khác gì côn đồ, dẫn đến “đối thủ” chấn thương cả về thể xác cũng như tinh thần.

    Trong môi trường giáo dục, đến trang phục giữa hai miền Nam Bắc cũng khác nhau. Nữ sinh miền Nam có truyền thống mặc áo dài trong mỗi tuần còn miền Bắc thì hầu như không mặc. Thực ra, trong việc bắt học sinh mặc áo dài cũng có cái cớ của những người làm quản lý trong ngành giáo dục. Khi vận trên mình bộ áo dài, một mặt sẽ gây ra sự bất tiện khi hoạt động mạnh, mặt khác các em cũng phải ý thức mình là con gái Việt Nam, cần giữ được nét dịu dàng, dáng yêu đúng lứa tuổi. Vì vậy, nữ sinh cũng ngại ngần mỗi khi có ý định đánh nhau với bạn vì sợ hoen ố lên tà áo trắng, cũng như nhân phẩm của mình. Riêng điều này thôi cũng đã phần nào giảm thiểu được những nóng nảy nhất thời, những hành động bất thường của học sinh.

    Cách xưng hô trong nhà trường và ngoài xã hội, học trò miền Nam thường xưng hô “cô”, “dì”, “chú”, “bác” với “con”, nghe rất thân mật, tình cảm như người trong gia đình. Vì thế, chả có lý do gì lại đẩy những mâu thuẫn khiến cho tình cảm bị sứt mẻ cả.

    Người miền Bắc thường ăn nói rất khéo, trịnh trọng nhưng người miền Nam lại nhã nhặn và hồn hậu hơn. Trong đời sống thường nhật, người miền Nam biểu lộ tình cảm một cách chân tình, không che dấu như người miền Trung hay khách sáo như người miền Bắc. Đến nhà một gia đình miền Nam mà gặp bữa cơm thì sẽ được họ mời một cách cởi mở: “Ăn cơm chưa? Sẵn bữa ăn luôn nghen!” mặc dù đó có thể là mâm cơm tuềnh toàng. Điều đó cũng không làm cho khách phải ngại ngần. Vì thế mối quan hệ được gắn kết bằng sự cởi mở, thoải mái.

    Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Họ không hay để ý nhau, quản lý nhau, săm soi quá sâu vào đời tư của người khác. Họ sẵn sàng bỏ qua mọi hiềm khích để khám phá và thưởng thức cuộc sống, vì thế mọi chuyện luôn tươi mới. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Trong cách giao tiếp, có thể trước mặt người khác họ lễ phép, lịch sự nhưng ngay sau lưng họ lại chửi tục. Họ luôn gồng mình cố gắng trong khi bản thân họ lại muốn nổi loạn. Cách sống đó dễ dẫn tới tình trạng bất cần và stress tâm lý. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền Bắc tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người miền Nam.

    Phải chăng những điều tôi nói trong bài viết này ai cũng biết nhưng mà ít ai nói và ít ai viết ra?

    Theo Giáo Dục

  2. thomastanda says:

    Góp một lời bàn nhân đọc bài: Văn hóa ứng xử: Dân miền Nam “ăn đứt” người miền Bắc

    Cách đây hơn một năm (2011) tôi có dịp sống ở miền Bắc-Hà Nội là chính- trong gần 1 năm để thực hiện một dự án tình nguyện cho nhóm những người bị bệnh Hemo (www.hemoviet.org.vn ).

    Cuộc sống xa nhà, tôi ở trọ và ăn cơm bụi. Tôi phát hiện một nét văn hóa thú vị ở đây là chủ quán chỉ bán đồ ăn: cơm, phở, bún,…nhưng không có ước uống như các quán ở miền Trung. Bên cạnh các quán ăn luôn có một người ngồi bán nước uống (nước chè) kèm với các món lặt vặt như thuốc lào, kẹo lạc,….Khách sau khi ăn phải ra quán nước này để mua nước uống, tầm 2.000đ/cốc. Luôn luôn có sự cộng sinh giữa quán ăn và quán nước như vậy.

    Ban đầu tôi cũng có phần bỡ ngỡ với lối làm ăn bắt chẹt này nhưng ngẫm lại thấy có điều thú vị. Từ một việc nhỏ này nhưng nếu suy ngẫm ta thấy nó ẩn chứa một nền văn hóa lớn về nhận thức của con người trong việc kinh doanh và xa hơn là về chính trị.

    Miền Nam và miền Trung có truyền thống kinh tế thị trường từ lâu, dù sau năm 1975 có bị nền chính trị trấn áp và tiêu diệt nhưng nó không mất đi. Chính văn hóa kinh doanh thị trường miền Nam đã cứu đất nước khỏi miệng hố đói kém năm 1986 và giải phóng ngược lại miền Bắc. Trong kinh tế thị trường, người kinh doanh làm ăn luôn nghĩ đến khách hàng, làm hài lòng khách hàng để phát triển sự nghiệp. Tư tưởng này ăn sâu vào máu của người miền Nam. Do vậy mà tất cả các quán ăn ở đây đều phục vụ nước miễn phí, cả trà đá hoặc trà nóng tùy mùa, khách uống bao nhiêu cũng được. Kinh tế thị trường còn làm cho người dân có tính cách cởi mở và hợp tác hơn.

    Người miền Bắc chỉ sinh hoạt kinh tế thị trường từ thời kỳ đổi mới. Tuy hấp thụ cách thức làm ăn mới nhưng tư duy họ vẫn chưa thay đổi. Tư duy làm ăn kiểu cũ là bắt chẹt người khác đến mức có thể để kiếm lợi cho mình. Lối suy nghĩ làm ăn như vậy còn tồn tại rất lớn ở người miền Bắc qua kiểu bán nước trên. Chủ quán biết người ăn không thể không uống nước và họ lại được dịp bán nước để có tiền thêm. Suy nghĩ của người dân trong nền kinh tế phi thị trường nó khác với kinh tế thị trường là như vậy.

    Tôi suy nghĩ, tại sao không có ai đó thực hiện nước uống miễn phí để cạnh tranh thu hút khách? Không ai làm thế vì cả cộng đồng đều không nghĩ đến việc phục vụ trước mà chỉ nghĩ đến việc bóp chẹt. Văn hóa ảnh hưởng đến con người nó mạnh mẽ là làm cho tất cả mọi người có lối suy nghĩ giống nhau. Câu chuyện bún mắng, cháo chửi ở Hà Nội mà báo chí đưa tin cũng là lối làm ăn của kiểu kinh tế phi thị trường còn sót lại.

    Văn hóa, suy nghĩ của con người không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính trị. Kinh tế thị trường thường đi kèm với nền chính trị dân chủ; kinh tế bóp chẹt đi với kiểu chính trị phi dân chủ tương ứng. Trong nền chính trị dân chủ, chính trị gia hướng đến phục vụ dân tộc, cộng đồng để thăng tiến sự nghiệp còn trong nền chính trị phi dân chủ, người làm chính trị chăm chăm đến lợi ích của mình và phe nhóm, triệt hạ, bắt chẹt nhau hơn là hợp tác, phục vụ. Con người chính trị dân chủ cũng có văn hóa cởi mở hơn con người chính trị phi dân chủ.

    Nhà văn hóa Phan Khôi cách đây hơn nửa thế kỷ đã thấy vấn đề văn hóa ảnh hưởng rất lớn trong vấn đề thay đổi xã hội nói chung và dân chủ hóa nói riêng. Ông viết:

    “Người Tàu vì còn chưa cạo hết những tư tưởng cũ ở trong óc đi, nên trong mấy năm đó tuy đã đánh đổ Mãn Thanh, lập nên Dân quốc, nhưng mọi việc trong nước cũng vẫn còn hư bại. Nước thì nước Dân chủ mà óc của dân chúng thì là óc nô lệ, bởi vậy hồi Dân quốc ngũ niên (1916), Viên Thế Khải mới nổi lên xưng hoàng đế”.

    — Phan Khôi – trích “Vấn đề cải cách”

    Miền Bắc với Hà Nội là trung tâm chính trị của đất nước, chắc chắn một điều, chính trị gia xuất thân tại đây hay nơi khác đến đều bị ảnh hưởng hoặc đối mặt với văn hóa phi dân chủ còn thâm căng cố đế nơi đây. Đây là một vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình xây dựng nền dân chủ cho đất nước.

    Chúng ta có thể thực hành các qui tắc dân chủ trong vài năm nhưng để xây nền văn hóa dân chủ phải mất vài ba thế hệ. Nền tảng chính trị dân chủ chỉ có thể xây vững chắc trên nền văn hóa dân chủ. Xem ra việc này còn dài và gian nan đối với người Việt Nam chúng ta.

    Tác giả Nguyễn Văn Thạnh gửi TTXVA.ORG

    PS: Bài viết là góc nhìn và suy nghĩ của tác giả khi sống ở đó hơn 1 năm trước đây (2011). Tác giả không dám quả quyết là hiện nay sẽ giống như vậy. (Tôi không biết là đã có nước uống miễn phí chưa).

  3. Văn hoá dân tộc says:

    Quay lại Người châu Á có thể suy nghĩ?
    TT – “Có thể, nhưng không tốt lắm! ”, là câu trả lời của Kishore Mahbubani – cựu đại sứ Singapore tại Liên Hiệp Quốc. Quyển sách của ông Người châu Á có thể suy nghĩ? vừa được tái bản lần thứ ba. “Câu chuyện chiều thứ bảy” mời độc giả theo dõi cuộc tọa đàm giữa tạp chí Salon (Mỹ) với Kishore Mahbubani.

    * Ông nghĩ gì khi hỏi “Người châu Á có thể suy nghĩ?”?

    – Vài năm trước, ở Singapore diễn ra đại hội quốc tế thường niên về suy nghĩ. Chính vào thời điểm đó tôi đã nghĩ đến câu hỏi này.

    Vì sao tôi nghĩ đến nó khá đơn giản: vào năm 1000, các xã hội năng động và thịnh vượng nhất trên thế giới nằm ở châu Á. Châu Âu vẫn còn đang vật vã thoát khỏi thời kỳ Trung cổ và Bắc Mỹ còn chưa được phát hiện. 1.000 năm sau chúng ta có một hiện trạng đảo ngược hoàn toàn: các xã hội năng động và thịnh vượng nhất nằm ở Bắc Mỹ, châu Âu ở dưới một bậc và châu Á bị bỏ tít đằng sau. Câu hỏi tôi đặt ra: Tại sao những xã hội một thời tiên phong trong nền văn minh toàn cầu lại đánh mất cả một thiên niên kỷ?

    * Vì những nước này bị tụt hậu hay vì xã hội phương Tây tiến bộ quá nhanh chóng?

    – Cả hai. Trong tư duy của người phương Tây có một bước nhảy vọt thần kỳ. Đã có phong trào Cải cách (ở châu Âu, thế kỷ 16), thời kỳ Phục hưng (thế kỷ 14 ,15,16 ), cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật – cứ hết đợt sóng này lại tiếp đợt sóng tiến bộ khác. Tôi đã thử làm một đứa trẻ của cả phương Đông và phương Tây để có thể hồn nhiên đi vào cả hai thế giới tinh thần này. Và tôi thấy đang tồn tại hai vũ trụ tinh thần khác biệt. Hai vũ trụ này đã không thể nhập vào nhau làm một. Khi hiểu ra rồi, tôi cảm thấy hoang mang bởi có rất nhiều người châu Á không thể nhận ra họ phải tự vấn thật nghiêm túc nếu muốn thành công và không lãng phí thêm một thiên niên kỷ nữa.

    * Ông muốn họ phải đặt ra những loại câu hỏi nào?

    – Câu hỏi cơ bản nhất là: Tại sao xã hội của họ bị tụt hậu? Tại sao cho đến cuối thế kỷ 20 rồi mà chỉ có một xã hội châu Á duy nhất hiện đại hóa hoàn toàn là Nhật Bản? Theo tôi, nguyên nhân căn bản khiến xã hội phương Tây thành công nằm ở chế độ trọng dụng nhân tài và sự vô tư trong sử dụng tài năng. Vào năm 1992 khi theo học ở Harvard, tôi rất ngỡ ngàng khi thấy Harvard có thể “thẳng thừng” và vô tư đến vậy trong công tác chọn lựa giáo sư. Họ muốn tìm ra người tài nhất ở từng lĩnh vực. Họ không cần biết đến nguồn gốc, quốc tịch, chủng tộc và càng không để những quan hệ cá nhân chi phối. Điều đó đã làm nên một Đại học Harvard vĩ đại.

    * Điều ông viết – phần còn lại của thế giới sợ phương Tây giống y như cách phương Tây sợ phần còn lại của thế giới – thật thú vị. Làm sao mà phương Tây nên “sợ phần còn lại của thế giới”?

    – Những xã hội mạnh nhất hiện nay vẫn nằm ở phương Tây. Bạn sẽ kinh ngạc khi biết một quyết định đơn giản của phương Tây cũng có thể gây ra thiệt hại lớn. Thí dụ, trong thương mại, một qui định mới về chuối có thể giết chết cả một nền công nghiệp. Hay một qui định mới về dệt may có thể làm hàng ngàn người thất nghiệp. Có một tổ chức phi chinh phủ (NGO) nọ của Bỉ tới Bangladesh và phát hiện một xưởng thuê mướn lao động trẻ em. Họ đã reo lên theo kiểu “bắt quả tang”: “A ha. Mọi người thấy chưa? Thấy chúng tôi nói đúng chưa? ”. Hai năm sau đó, NGO đó trở lại và anh đoán xem chuyện gì đã xảy ra? Rất nhiều trẻ gái từng lao động ở đó bây giờ đã trở thành gái điếm. Đó là lý do tôi đã trích dẫn câu nói của Max Weber vào cuốn sách của mình: “Không phải cái tốt chỉ có thể sinh ra cái tốt và điều ác sinh điều ác, mà thường là ngược lại”.

    Dân chủ là một mục tiêu dài hạn. Chúng ta không thể áp đặt cùng một hệ thống cho những xã hội được vận hành khác nhau. Cuối Chiến tranh lạnh, Francis Fukuyama đã viết bài báo nổi tiếng “Sự kết thúc của lịch sử”. Nước Mỹ thường nghĩ mình đã đi đến đỉnh của lịch sử và mọi người khác phải bắt chước theo để giống y như mình. Song điều mà chúng ta đang thấy, một bài học lớn, đó không phải là một sự kết thúc mà là một sự trở lại của lịch sử.

    * Liệu sự trở lại của lịch sử có làm các nền văn minh va chạm chan chát vào nhau? Hay đó sẽ là một sự hòa trộn các nền văn minh mà ông mong đợi?

    – Tôi thấy đang có một tiến trình hòa trộn diễn ra. Nếu đi du lịch từ Singapore qua Sydney, San Francisco hay Vancouver, bạn không có cảm giác mình đang giã từ một thế giới văn hóa này để đi vào thế giới văn hóa khác. Người châu Á và ngoài châu Á tương tác với nhau dễ và thoải mái. Nếu đi tới một trường đại học sẽ càng thấy rõ điều này, ở đó là sự gặp gỡ nhau của các tư tưởng.

    Một điều tôi phải nhấn mạnh, mà điều này lại có vẻ mâu thuẫn với những gì tôi vừa nói, rằng dòng tư tưởng hiện nay chỉ mới là đường một chiều. Song tôi thấy sắp xuất hiện một con đường hai chiều. Lịch sử và văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ còn quá nhiều điều chưa được phát hiện lại. Châu Âu đã đi qua thời kỳ Phục hưng vài thế kỷ trước đây. Phải có một thời kỳ Phục hưng của châu Á trong vài thập kỷ tới. Nó phải tới thôi. Người châu Á đã đạt đến một mức độ giàu có nhất định, họ sẽ làm đúng theo những gì Rockefeller và một số người khác đã nói: quay trở về và phát hiện lại quá khứ.

    http://www.tuoitre.com.vn

    • thomastanda says:

      Đời sống của con người Việt Nam đã khác trước rất nhiều so với 10 năm trước và quá nhiều so với những năm tháng ngèo đói trước kia. Nhưng những hành động tham nhũng, tham ô, ăn cắp, lừa dối… của người Việt Nam hình như mỗi ngày một gia tăng. Mấy ngày trước, chúng tôi đi du lịch ở Nha Trang. Người hướng dẫn viên mỗi khi lên xe lại nhắc chúng tôi hãy cảnh giác cao độ nếu không muốn bị móc túi, nếu không muốn mua phải hàng giả. Anh cảnh báo chúng tôi rằng ngay cả mặt hàng yến sào đắt như vàng cũng dễ dàng bị làm giả.

      Đời sống kinh tế của đất nước được cải thiện rất nhiều và với một tốc độ khá nhanh. Nhưng lòng tự trọng và lối sống văn hóa thì những người có quan tâm đều nhận thấy nó bị đánh mất đi nhanh hơn và lan truyền rộng hơn sự phát triển kinh tế nhiều lần. Nếu cứ đà này thì chỉ mươi năm nữa, những người yếu bóng vía ra đường sẽ chỉ thấy nhan nhản những kẻ ăn cắp và bọn lừa đảo.

      Tại sao những năm tháng chiến tranh đầy thiếu thốn và hy sinh con người Việt Nam lại sống với lòng tự trọng cao như vậy mà bây giờ giàu có hơn thì lòng tự trọng ấy lại bị hoen ố quá nhiều ? Tôi biết rằng câu hỏi của tôi quá ngây thơ nhưng tôi cứ phải hỏi. Mà đúng hơn đó không phải là một câu hỏi mà là một tiếng kêu đau đớn và lo sợ. Và những điều làm cho chúng ta đau đớn và lo sợ sinh ra từ nền giáo dục của chúng ta. Nền giáo dục ở đây xin đừng hiểu chỉ là nhà trường mà là cách quản lý và điều hành xã hội. Không có sự thật nào ngoài sự thật này.

      Lần đầu tiên đến Mỹ cách đây 19 năm, tôi thực sự ngạc nhiên vì những ngôi nhà ở Mỹ không đóng khóa cửa. Trong mỗi ngôi nhà của họ có biết bao thứ đắt tiền. Nhưng không mấy ai lọt vào nhà người khác để lấy cắp. Có nhiều lý do. Nhưng lý do cơ bản nhất là ý thức làm người của họ cùng với sự trợ giúp cho ý thức sống ấy là luật pháp và cách quản lý xã hội. Còn ở đất nước chúng ta, nhiều ngôi nhà khóa ba tầng bảy lớp vần bị phá tan tành.

      Khóa cửa nếu xét về mặt cơ học thì chỉ là hành động diễn ra trong mấy phút. Nhưng để đi đến việc không cần khóa cửa thì có lẽ người Việt Nam có ý thức về việc đó cũng phải mất 100 năm nữa mới có thể làm được. Khi tôi nói vậy, nhiều người thấy mệt mỏi rã rời vì nghĩ đến chặng đường dài đến tận…100 năm. Nhưng cho dù có phải đi đến 1000 năm thì chúng ta cũng phải đi chứ không còn cách nào khác.

      Theo Tuanvietnam

  4. Văn hoá dân tộc says:

    Bạn đọc thân mến, với niềm khao khát được tái hiện lịch sử như vốn có, thời gian tới đây BBT TTXVA sẽ đăng tải bài viết Sử Việt theo cách mới – đây là sản phẩm tri thức của BBT dựa trên những tư liệu sẵn có và sự góp ý của quý bạn đọc ; nội dung bài viết được chia thành nhiều kỳ để bạn đọc thuận tiện tra cứu, tái hiện khái lược tiến trình lịch sử Việt Nam trên quan điểm khách quan – trung thực – đa chiều. Để bạn đọc khi xem xong không thốt lên “Sử Việt sao chán thế, khô khan hơn cả Số học“, các nhân vật và sự kiện được đề cập một cách ngẫu hứng, nhưng sẽ không bỏ qua những đối tượng có tác động đến tiến trình lịch sử. Chúng tôi không kỳ vọng đây sẽ là nguồn tư liệu đắc lực cho giới nghiên cứu, nhưng ít nhất gắng làm sao khơi dậy niềm yêu thích trang sử nước nhà trong cộng đồng blogger, và trên hết, chúng tôi muốn thể hiện tinh thần ái quốc – vị nhân sinh bằng hành động thiết thực. Việt Nam là quốc gia nhỏ, văn hóa và đời sống dung dị, lịch sử vốn dĩ cũng không phức tạp, nhưng càng tiếp cận với ánh sáng văn minh thì nó càng bị các thể chế chính trị làm cho lệch lạc, tệ hơn cả là dấu vết của quá khứ luôn bị hậu thế hủy hoại một cách tàn nhẫn… Vì những lẽ đó, chúng tôi không cảm thấy có nghĩa vụ phải tuân phục bất kỳ ý thức hệ hạn hẹp nào để “chế tạo” ra thứ tri thức lịch sử kỳ dị, phiến diện. Chỉ mong sao nhận được hồi âm góp ý cũng như phản biện của quý bạn đọc, chúng tôi hân hạnh được phúc đáp !

    Trải qua biến động bể dâu, hoàng thành Thăng Long chỉ còn là đống gạch vụn, những dấu vết của thời vàng son quá ít ỏi để hậu thế có thể ngưỡng vọng về tổ tiên.


    KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ VIỆT NAM

    Bản đồ hành chính Việt Nam thời điểm 2013.

    Tính đến thời điểm 2002 (năm ký kết Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông), lãnh thồ mà Việt Nam (chính thể hiện tại : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tuyên bố chủ quyền bao gồm 331.698 km² đất liền và khoảng 1 triệu km² mặt biển : phần đất liền nằm ở tọa độ 102°8′ kinh Đông đến 109°27′ kinh Đông và 8°27′ vĩ Bắc đến 23°23′ vĩ Bắc ; phần lãnh hải nằm trên biển Đông (bao gồm cả vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan) có các quần đảo Hoàng Sa (tranh chấp với Trung Quốc) và Trường Sa (tranh chấp với Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei), ngoài ra còn có khu vực bãi cạn Đông Nam (chia sẻ lợi ích kinh tế với Indonesia).

    Đất liền Việt Nam hẹp ngang, trải dài hình chữ S với 2/3 diện tích là cao nguyên, đồng bằng tập trung ở ven biển và chỉ có hai vùng châu thổ sông Hồng, châu thổ sông Cửu Long đủ rộng để quần cư cũng như sản xuất nông nghiệp quy mô lớn (loại cây quan trọng nhất là lúa nước). Phần Tây tựa lưng vào các dãy núi Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn, tiếp giáp các quốc gia Trung Quốc, Lào, Campuchia. Lãnh thổ Việt Nam là lục địa vẫn chưa hình thành xong, mạng lưới sông ngòi chằng chịt (chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam) đem lại nguồn phù sa trù phú, cho đến thế kỷ XV thì phương tiện đi lại chủ yếu vẫn là thuyền nhỏ. Khí hậu Việt Nam là nhiệt đới gió mùa nhưng chỉ từ phía Bắc đến Bắc Trung Bộ có mùa đông rét (đây cũng là khu vực dễ xảy ra bão lũ nhất trong năm). Tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam rất đa dạng, nhưng do việc khai thác bừa bãi trong nhiều thế kỷ nên ngày càng cạn kiệt, đến nay chỉ thủy năng và dầu khí còn trữ lượng lớn. Bên cạnh đó, môi trường cũng bị ô nhiễm nặng nề.

    Lãnh thổ Việt Nam được phân định thành ba miền (không chính thức) là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ – tập quán, ngôn ngữ và lịch sử mỗi miền về căn bản là khác nhau. Đôi khi còn phát sinh thêm các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên (có lúc được gọi là Cao nguyên Trung phần, hoặc Trung Nguyên) – thời Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955) được gọi chung là Hoàng triều cương thổ. Do nằm trên tuyến đường di cư và thương mại cổ xưa nhất thế giới, nên Việt Nam sớm trở thành quốc gia đa dân tộc, tuy vậy, từ thế kỷ XV xuất hiện sắc dân giữ vai trò chính là người Kinh – đến nay chiếm 86,2% dân số. Tiếng Việt được coi là tiếng mẹ đẻ của người Việt Nam, thuộc hệ ngôn ngữ Việt-Mường (sự pha trộn giữa tiếng Hán thời Đường và ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo). Bên cạnh người Kinh còn có các sắc dân khác là Thái, Mường, H’Mông, Chăm, Hoa, Khmer… tính đến nay có khoảng 55 dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc truyền thống và thời điểm xuất hiện khác nhau. Người Việt Nam không có tín ngưỡng chung trên toàn quốc, tuy nhiên có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo, dầu vậy trong lịch sử chưa từng xảy ra cuộc xung đột tôn giáo nào, ngoại trừ một vài sự kiện cấm đạo – diệt đạo của nhà cai trị.

    Do nằm ở nơi giao thoa giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, cũng như nhiều cộng đồng Đông Nam Á khác, người Việt Nam sớm tiếp thu ảnh hưởng để biến cải thành bản sắc của mình. Trước thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc (207 tr.CN – 905), sức ảnh hưởng chủ yếu đến lối sống của cư dân Việt Nam là nền văn minh Ấn Độ cổ đại – khúc xạ qua sắc dân Cổ Mã Lai ; đến thời Hán thuộc – nhất là sau chính sách giáo hóa của thái thú Sĩ Tiếp (士燮, 137 – 226) thì ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa trở nên mạnh mẽ ; phải đến khoảng thế kỷ XVIII khi nội bộ Trung Hoa lục đục suy yếu thì người Việt Nam bắt đầu tiếp thu thêm những bản sắc đến từ Âu-Mỹ. Nửa phía Nam (từ dãy Hoành Sơn trở xuống) là nơi định cư của các sắc dân gốc Mã Lai – Đa Đảo, sức ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ cổ đại sâu đậm trong khoảng hai thiên niên kỷ. Sau khi vương quốc Champa suy yếu rồi diệt vong (1832) thì bản sắc của người Kinh giữ vai trò quyết định trong việc định hình văn hóa Việt Nam.


    KHÁI QUÁT TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

    Bộ tem cộng đồng các dân tộc Việt Nam (phát hành ngày 2 tháng 9 năm 2005).

    I. THỜI TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ (? – 207 tr.CN)

    II. KỶ NHÀ TRIỆU (207 tr.CN – 111 tr.CN)

    III. BẮC THUỘC LẦN I (111 tr.CN – 40)

    IV. HAI BÀ TRƯNG (40 – 43)

    V. BẮC THUỘC LẦN II (43 – 542)

    VI. NƯỚC VẠN XUÂN (542 – 602)

    VII. BẮC THUỘC LẦN III (602 – 938)

    VIII. KỶ NHÀ NGÔ (938 – 968)

    IX. KỶ NHÀ ĐINH (968 – 980)

    X. KỶ NHÀ TIỀN LÊ (980 – 1009)

    XI. KỶ NHÀ LÝ (1009 – 1225)

    XII. KỶ NHÀ TRẦN (1225 – 1400)

    XIII. KỶ NHÀ HỒ (1400 – 1407)

    XIV. KỶ THUỘC MINH (1407 – 1427)

    XV. KỶ NHÀ LÊ SƠ (1428 – 1527)

    XVI. KỶ NHÀ MẠC (1527 – 1592)

    XVII. KỶ NHÀ LÊ TRUNG HƯNG (1592 – 1789)

    XVIII. KỶ NHÀ TÂY SƠN (1789 – 1802)

    XIX. KỶ NHÀ NGUYỄN (1802 – 1945)

    1. Đế quốc Việt Nam (1802 – 1839)

    2. Đế quốc Đại Nam (1839 – 1887)

    3. Liên bang Đông Dương (1887 – 1945)

    XX. ĐẾ QUỐC VIỆT NAM (1945)

    XXI. VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1945 – 1946)

    XXII. CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG (1946 – 1954)

    1. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (1946 – 1948)

    2. Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955)

    XXIII. NAM-BẮC PHÂN LI (1954 – 1976)

    1. Trước chiến tranh (1954 – 1964)

    ● Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955 – 1964)

    ● Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam (1955 – 1963)

    2. Trong chiến tranh (1964 – 1975)

    ● Thời quân quản (1963 – 1967)

    ● Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam (1967 – 1975)

    3. Sau chiến tranh (1975 – 1976)

    XXIV. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (1976 đến nay)

    1. Bao cấp (1976 – 1986)

    2. Đổi mới (1986 – 2007)

    3. Suy thoái (2007 đến nay)

  5. Văn hoá dân tộc says:

    Sử Việt theo cách mới (kỳ 2)

    THỜI TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ (? – 207 tr.CN)
    Giai đoạn tiền sử và sơ sử Việt Nam khởi đầu cách đây chừng 25 ngàn năm, lấy thời điểm Nam Việt Vũ Đế thôn tính Âu Lạc (207 tr.CN) làm mốc kết thúc – tương đương với thời điểm diễn ra cuộc Chiến tranh Punic lần II (218 tr.CN – 201 tr.CN). Nguồn tư liệu chủ yếu lấy từ cuốn Ánh sáng mới trên một quá khứ bị lãng quên (New Light on a Forgotten Past) của Tiến sĩ Wilhelm G.Solheim II (giáo sư Nhân chủng học trực thuộc Đại học Hawaii), xuất bản vào tháng 3 năm 1971.

    Trống đồng – Tuyệt tác của văn hóa Việt cổ.

    Những hiểu biết về đời sống người Việt Nam thời cổ đại phần nhiều dựa vào di chỉ khảo cổ, lớp truyền thuyết giải thích nguồn gốc quốc gia – con người Việt Nam thường không đáng tin. Tuy nhiên, sự hình thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn còn gây tranh cãi. Xét khái lược thì phân tách thời cổ đại thành hai giai đoạn : tiền sử (hình thành cư dân và phong tục tập quán) và sơ sử (các liên minh bộ lạc được thiết lập).

    I. THỜI TIỀN SỬ
    Niên biểu thời tiền sử về căn bản như sau :

    ● Hậu kỳ thời đại đồ đá cũ

    – Văn hóa Ngườm (23 ngàn năm tr.CN)
    – Văn hóa Sơn Vi (20 ngàn năm tr.CN – 12 ngàn năm tr.CN)
    – Văn hóa Soi Nhụ (18 ngàn năm tr.CN – 7 ngàn năm tr.CN)

    Mực nước biển rất thấp, phần lớn biển Đông còn là đất liền và khí hậu cũng mát mẻ hơn ngày nay. Các nhóm dân cư đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam đã biết chế tác vũ khí, công cụ săn bắt bằng đá ; tuy nhiên, đời sống con người thời kỳ này còn chất phác và bấp bênh.

    ● Thời đại đồ đá mới

    – Văn hóa Hòa Bình (12 ngàn năm tr.CN – 10 ngàn năm tr.CN)
    – Văn hóa Bắc Sơn (10 ngàn năm tr.CN – 8 ngàn năm tr.CN)
    – Văn hóa Quỳnh Văn (8.000 – 6.000 TCN)
    – Văn hóa Cái Bèo (7 ngàn năm tr.CN – 5 ngàn năm tr.CN)
    – Văn hóa Đa Bút (6 ngàn năm tr.CN – 5 ngàn năm tr.CN)

    Băng hà bắt đầu tan, biển Đông dần hình thành, nhưng bù lại đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long đã chớm xuất hiện. Cư dân trên lãnh thổ Việt Nam đã dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên, họ đẽo đá thành công cụ lao động (rìu, lưỡi cày…) và đời sống cũng cải thiện hơn thời kỳ trước.

    ● Thời đại đồ đồng đá

    – Văn hóa Hạ Long (3 ngàn năm tr.CN – 1.5 ngàn năm tr.CN)
    – Văn hóa Phùng Nguyên (2 ngàn năm tr.CN – 1.500 tr.CN)
    – Văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc
    – Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2 ngàn năm tr.CN – 1.000 tr.CN)

    Dân cư đông đúc hơn thời kỳ trước, họ quần tụ tại những nơi có dòng chảy (sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Cửu Long…), do đời sống khấm khá hơn nên tập quán đeo trang sức đã xuất hiện.

    ● Trung kỳ thời đại đồ đồng

    – Văn hóa Đồng Đậu (1.500 tr.CN – 1.000 tr.CN)

    Công cụ sản xuất và vũ khí bằng đồng đã chiếm vai trò quan trọng trong đời sống các cư dân, chúng thay thế đồ đá và dần dần tạo ra nhiều ngành nghề mới. Đáng chú ý là sự xuất hiện của đồ gốm, đồ gỗ và những chiếc trống đồng cầu mưa. Cuối thời kỳ này, sự xáo trộn thành phần dân cư bắt đầu diễn ra – những cuộc di cư và xung đột giữa các nhóm người đã bước đầu tạo nên nhu cầu liên minh bộ lạc.

    ● Hậu kỳ thời đại đồ đồng

    – Văn hóa Gò Mun (1.000 tr.CN – 600 tr.CN)

    Không dừng lại ở việc tự cung tự cấp, một vài hình thức trao đổi hàng hóa sơ khai đã xuất hiện và phát triển thành nghề buôn bán. Đồ gốm, phục sức và nhất là trống đồng đã từ lãnh thổ Việt Nam luân chuyển sang các khu vực lân cận. Đặc biệt, sắc dân Mã Lai – Đa Đảo (đặc điểm ngoại hình là tóc quăn, da ngăm và thấp đậm) đã dần bị thay thế bởi các nhóm dân cư đến từ khu vực cao nguyên Thanh-Tạng và phía Nam Trung Hoa (đặc điểm ngoại hình là tóc thẳng, nước da sáng và chiều cao cân đối), cho đến cuối thời kỳ thì vùng Bắc Bộ hoàn toàn do nhóm dân cư này làm chủ, một số ít người Mã Lai – Đa Đảo bị đồng hóa. Đây chính là sắc dân kiến tạo nên những nhà nước sơ khai trên lãnh thổ Việt Nam. Họ thường tự gọi mình là Văn Lang (theo sử gia Lê Văn Lan, đây là phiên âm Hán-Việt của từ Arang trong hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo, có nghĩa là con người), trước nay giới học giả thường gọi đây là những cư dân Việt cổ.

    Tranh phục dựng cảnh sinh hoạt của người Việt cổ, có thể thấy rõ hình dáng những ngôi nhà có mái mũi thuyền.

    II. THỜI SƠ SỬ
    Đây là giai đoạn đời sống người Việt cổ đã đi vào ổn định, vừa chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, các nhóm dân cư thù nghịch vừa tăng gia sản xuất. Dầu vậy thì văn hóa Việt cổ đã chớm hình thành, nó bao gồm tục thờ mặt trời, thần quỷ, chế tác đồ đồng (trống, thạp, chuông…), tục nhuộm răng đen, dựng nhà mái thuyền, làm mộ táng… Theo sử gia Trần Quốc Vượng, thức ăn chính của người Việt cổ là cơm, rau, cá – cơm làm bằng rễ cây quang lang hoặc gạo nếp, loại gia vị thường dùng là rễ gừng đốt cháy (cho vị mặn đắng). Bên cạnh đó, sự phân tầng xã hội cũng đã nở rộ – phân chia kẻ giàu người nghèo, quyền quý và nô lệ. Việc tìm ra quặng sắt đã hỗ trợ rất nhiều cho việc chế tạo vũ khí, đóng thuyền lớn. Tuy vậy, người Việt cổ vẫn là cộng đồng nhỏ, địa bàn cư ngụ cũng chỉ quẩn quanh khu vực ngày nay là Bắc Trung Bộ và phía Nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Khu vực Trung Bộ thuộc không gian văn hóa Sa Huỳnh, nơi định cư của hai bộ lạc lớn Cau và Dừa thuộc sắc dân Mã Lai – Đa Đảo.

    – Văn hóa Đông Sơn (700 tr.CN – 100)
    – Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 tr.CN – 200)
    – Văn hóa Đồng Nai (1.000 tr.CN – 1)

    Có nhiều cách ghi chép về buổi bình minh của lịch sử Việt Nam, tuy nhiên, chiếm số lượng đáng kể vẫn là lớp truyền thuyết Hồng Bàng thị. Chỉ biết rằng, giai đoạn này tương ứng với thời nhà Chu (Trung Hoa). Đã có một số giao dịch thương mại giữa các cư dân Việt cổ với người Trung Nguyên (tập trung ở hai bên bờ sông Hoàng Hà và Dương Tử), đặc biệt, người Trung Hoa (từ thời Hán) đã gọi các sắc dân ở phía Nam sông Dương Tử là Bách Việt (百越) – đó không phải tên gọi một dân tộc, bởi vì toàn bộ khu vực Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam bấy giờ còn ở tình trạng bán nguyên thủy, dân cư hỗn tạp. Sách Hán thư (漢書) viết : “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê, ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình“. Đáng chú ý, sử sách Trung Hoa cũng chép việc xung đột liên miên giữa các nhóm dân cư Bách Việt. Về căn bản, các sắc dân này tuy không đồng nhất về chủng tộc nhưng có tập quán ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

    Giới sử học từ lâu đã phân loại cộng đồng Bách Việt thành mấy nhóm chính :

    ● Sở (khu vực Hồ Bắc, Hồ Nam thuộc Trung Quốc)
    ● Đông Âu (khu vực Chiết Giang thuộc Trung Quốc)
    ● Mân (khu vực Phúc Kiến thuộc Trung Quốc)
    ● Thục (khu vực Tứ Xuyên thuộc Trung Quốc)
    ● Điền (khu vực Vân Nam thuộc Trung Quốc)
    ● Nam Việt (khu vực Quảng Đông thuộc Trung Quốc)
    ● Tây Âu (khu vực Quảng Tây thuộc Trung Quốc)
    ● Lạc (khu vực Bắc Bộ thuộc Việt Nam)

    Cách chia này chỉ mang tính tương đối và hầu hết không phải tên gọi các dân tộc từng tồn tại trên lãnh thổ. Tuy nhiên, điều này chứng tỏ sự liên hệ mật thiết giữa khu vực Bắc Bộ Việt Nam với vùng Hoa Nam thời điểm đó. Do sự tương đồng về tập quán nên giữa các khu vực này có sự trao đổi dân cư, thương mại rất dễ dàng. Cũng cần thừa nhận rằng, mặc dù cũng là khu vực đa dân tộc nhưng Trung Nguyên sớm thống nhất và tiến nhanh đến trình độ văn minh hơn Bách Việt (có nhà nước hoàn chỉnh và nền văn hóa chữ viết quy củ) ; các bộ lạc Bách Việt luôn chia rẽ và xung đột, khí hậu ôn hòa và điều kiện thổ nhưỡng không khắc nghiệt như Trung Nguyên, đó là căn nguyên chính dẫn đến sự phát triển chậm của khu vực này. Cho đến thời điểm Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên (249 tr.CN – 221 tr.CN), miền đất Bách Việt vẫn còn ở tình trạng bán khai. Một số bộ lạc có điều kiện phát triển nhanh hơn thì tiếp nhận mạnh mẽ bản sắc Trung Nguyên, trở thành chư hầu của nhà Chu (Sở, Ngô, Đông Âu, Mân), phần còn lại vẫn chỉ là những liên minh bộ lạc nhỏ bé, sức tự vệ thấp.

    Các bộ lạc Bách Việt nhìn chung có tổ chức cộng đồng còn đơn sơ (chức năng chính vẫn là lao động sản xuất và tự vệ trước ngoại thù), đặc biệt, vai trò của người phụ nữ được đề cao, cho đến khoảng thế kỷ III s.CN thì xã hội Bách Việt vẫn là chế độ mẫu hệ. Bằng chứng sống động là trong các cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng (40 – 43), Bà Triệu (248) thì nữ quyền hầu như áp đảo. Chế độ mẫu hệ chỉ chấm dứt khi các nhà cai trị Trung Hoa đem hệ tư tưởng Nho giáo (vốn trọng nam quyền) phổ cập vào đời sống người Việt. Trong mỗi bộ lạc, người đứng đầu thường được gọi là khún (phiên âm Hán-Việt : hùng ; nghĩa là tù trưởng), dưới khún có p’tao (phìa tạo, phiên âm Hán-Việt : phụ đạo), po t’linh (phiên âm Hán-Việt : bồ chính, bố chánh, bộ lĩnh ; nghĩa là thủ lĩnh, già làng), người thừa kế của khún được gọi là lang (phiên âm Hán-Việt : chàng), mế (phiên âm Hán-Việt : bà lớn), nàng (phiên âm Hán-Việt : nương) ; ngoài ra còn có các thầy mo, thầy tào chuyên việc tín ngưỡng (cúng tế, trừ ma quỷ…). Một số bộ lạc như Sở, Ngô, Đông Âu đã sớm bãi bỏ hệ thống hành chính Bách Việt khi thần phục nhà Chu (danh hiệu khún được thay bằng vương).

    Không gian văn hóa Bách Việt bị phá vỡ bởi cuộc thôn tính của nhà Tần (249 tr.CN – 221 tr.CN), nhiều bộ lạc bị diệt vong hoặc khuất phục, một lượng lớn nạn dân dồn ra biển hoặc chạy xuống phía Nam đã tạo ra làn sóng di cư thứ hai (sau cuộc di cư vào thời đại đồ đồng) từ khu vực Trung Hoa vào lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, do chung không gian văn hóa nên các bộ lạc tụ cư ở vùng Bắc Bộ đã tiếp nhận lớp dân cư mới một cách ôn hòa ; cũng chính nhờ thành phần dân cư này mà Bắc Bộ trở thành khu vực hiếm hoi trong cộng đồng Bách Việt tránh được cuộc xâm lăng tàn khốc của nhà Tần. Sử sách nhìn nhận khác nhau về giai đoạn này : Đại Việt sử lược (ra đời vào thế kỷ XIII) và Đại Việt sử ký toàn thư (ra đời vào thế kỷ XV) nói rằng, một tù trưởng Tây Âu tên là Thục Phán đã lãnh đạo người Việt chống Tần, sau đó tận dụng uy danh để phế truất vị Hùng Vương cuối cùng của nước Văn Lang, tự lập làm vua và lấy niên hiệu An Dương Vương (vua mặt trời), quốc hiệu mới là Âu Lạc (sáp nhập hai bộ lạc Tây Âu và Lạc Việt). Cuốn Sử ký (ra đời vào thế kỷ I tr.CN) của Tư Mã Thiên cũng nhắc đến một quốc gia tên là Âu Lạc, bị Triệu Đà thôn tính vào thời điểm Lữ Hậu nhà Hán qua đời (khoảng năm 180 tr.CN). Như vậy, rất có thể đã từng tồn tại một nhà nước sơ khai vào thời điểm đó, tuy nhiên đó chỉ là liên minh bộ lạc.

    Lược đồ di chỉ thành Cổ Loa.

    Quan điểm của TTXVA : Trong ngôn ngữ Nùng có từ tukpan để chỉ những người đứng đầu một tổ chức, nó gần gũi một cách đáng ngạc nhiên với tên gọi Thục Phán. Vậy, “thục phán” có thể chỉ là danh hiệu chứ không phải tên người và cũng không có nghĩa, An Dương Vương thuộc dòng vua nước Thục (nay là tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc). An Dương Vương cai trị từ 257 tr.CN đến 208 tr.CN (căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục) hoặc 208 tr.CN đến 179 tr.CN (theo Sử ký của Tư Mã Thiên), sự hiểu biết về giai đoạn trị vì của ông phần nhiều dựa trên chứng tích khảo cổ (cột đá thề, thành Cổ Loa) và lớp truyền thuyết dựng kinh đô. Theo Tiến sĩ Lê Chí Quế (nhà nghiên cứu văn học dân gian), tên gọi Cổ Loa là phiên âm Hán-Việt của chữ Kẻ La (hoặc k’la, có nghĩa là con gà), nó trùng hợp với địa danh xóm Gà tại địa bàn huyện Đông Anh (Hà Nội) và cũng khớp với huyền thoại thần Kim Quy đánh Bạch Kê Tinh (thần gà trắng). Vì thế, địa danh Cổ Loa thực chất là thành Gà – nơi định đô của An Dương Vương. Lớp huyền thoại rõ ràng phản ánh cuộc bình định các thế lực địa phương của vị vua mới – vốn thuộc bộ lạc thờ Rùa tại Cao Bằng và thần Rùa trở thành nhân vật bảo trợ cho thành quách. Ngoài bộ lạc thờ Gà, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay còn rơi rớt một số địa danh phản ánh bối cảnh sinh sống của người Việt cổ : Mê Linh (m’linh – một loại nhạc cụ), Cổ Nhuế (Kẻ Noi, k’noi – doi đất ven sông), Kẻ Lủ (k’lu / con trâu), Kẻ Cả (làng lớn), Cửa Lò (kuala / bãi bồi), Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Cáo… Căn cứ vào ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo, Âu Lạc thực chất là cách phiên âm Hán-Việt của từ Anak, có nghĩa là đất nước ; đây có thể là cách gọi các yếu tố cấu thành nên nhà nước sơ khai của An Dương Vương : bộ lạc Tây Âu – vốn từ khu vực Quảng Tây và vùng núi Bắc Bộ tràn xuống, các nhóm Lạc Việt – quần cư lâu đời ở vùng trũng hoặc lưu vực sông.

    Sách Thái bình hoàn vũ ký triều Tống có dẫn giải nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của Âu Lạc, đó là huyền thoại nỏ thần và mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy. Trong một bài thơ viết năm 1944, triết gia Lý Đông A (1921 – 1947) gọi nàng công chúa của An Dương Vương là Mế Hâu – căn cứ vào ngôn ngữ Mường, có thể dịch là (quý) bà Hâu, hàm ý tôn kính ; nhân vật Trọng Thủy là con trai duy nhất của Nam Việt Vũ Đế Triệu Đà, đến nay chưa rõ căn nguyên và thời điểm qua đời. Chỉ khẳng định được rằng, đến năm 203 tr.CN, An Dương Vương bị nhà Triệu tiêu diệt và đất Âu Lạc phải sáp nhập vào Nam Việt. Sử sách Trung Hoa cũng ghi nhận rằng, các hậu duệ của An Dương Vương vẫn được chẩn trị đất cũ, nhưng hàng năm phải tiến cống triều đình trung ương – đặt tại thành Phiên Ngung (nay thuộc Quảng Châu – Trung Quốc). Từ đây, giai đoạn sở sử Việt Nam chấm dứt.

    Quan điểm của TTXVA : Lớp truyền thuyết được thêu dệt quanh nhân vật An Dương Vương và nước Âu Lạc thực chất là phản ánh sự hình thành một liên minh bộ lạc sau khi không gian văn hóa Bách Việt bị nhà Tần cưỡng chiếm. Sự khởi đầu và chấm dứt của liên minh Âu Lạc đều do các cuộc chiến tranh bộ lạc.

  6. Văn hoá dân tộc says:

    Sử Việt theo cách mới (kỳ 3)
    Published on July 16, 2013 · 1 Comment
    Share
    TTXVA.ORG

    KỶ NHÀ TRIỆU (207 tr.CN – 111 tr.CN)
    Có nhiều cách diễn giải khác nhau về sơ kỳ hình thành quốc gia – con người Việt Nam : từ giai đoạn Lý-Trần trở về trước, sự kiện Triệu Đà xưng đế và sáng lập nước Nam Việt (207 tr.CN) được xem là dấu mốc bắt đầu chính sử nước ta ; tuy nhiên, sau khi triều Nguyên suy yếu thì ý thức tự chủ về chính trị – văn hóa gia tăng ở những nước lân bang, trong đó có Đại Việt (quốc hiệu thời Trần), cho nên từ thời mạt Trần về sau thì thời điểm khởi đầu chính sử Việt Nam được xem là ngày 10 tháng 3 năm 2879 tr.CN – Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ. Quan điểm này càng được cổ vũ bởi hệ thống truyền thuyết Hồng Bàng thị (được sự hô ứng bởi các cuốn sách Việt Nam thế chí, Việt Điện u linh tập, Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt sử lược, Việt sử thông luận…) ; ở giai đoạn hậu Đệ nhất Thế chiến, những khám phá về nền văn hóa Đông Sơn đã làm dấy lên làn sóng hướng về cội nguồn trong lớp học giả và một bộ phận dân chúng, cho đến nay, Hồng Bàng thị vẫn được người Việt Nam coi là một giai đoạn lịch sử đáng tự hào. Dầu vậy, trong mấy thập niên gần đây, dưới ánh sáng khoa học tân kỳ, luồng ý kiến phản bác về sự trung thực của Hồng Bàng thị ngày càng mạnh mẽ. Trên tinh thần trung thực – khách quan – đa chiều, BBT TTXVA tạm bỏ ngỏ Hồng Bàng thị để chờ quan điểm phản hồi của quý bạn đọc ; lúc này đây, giai đoạn lịch sử từ nhà Triệu cho đến đầu triều Nguyễn được đề cập dựa trên các cuốn sách sau : An Nam chí lược, Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt thông sử, Việt sử tân biên, Nam triều công nghiệp diễn chí, Việt sử tiêu án, Việt sử toàn thư, Bài sử khác cho Việt Nam, Sử Việt đọc vài quyển… Mọi quan điểm góp ý cũng như phản biện, quý bạn đọc vui lòng comment lịch thiệp bên dưới bài viết hoặc gửi thư về địa chỉ thongtanxavanganh@gmail.com, BBT TTXVA chân thành tiếp nhận !

    Bản đồ nước Nam Việt.

    Lịch sử nước Nam Việt bắt đầu khi Triệu Đà xưng đế (207 tr.CN) và kết thúc khi Hán tướng Lộ Bác Đức diệt xong nhà Triệu (111 tr.CN). Lãnh thổ Nam Việt bao gồm khu vực Lưỡng Quảng (Trung Quốc) và Bắc Bộ (Việt Nam), Triệu Đà cũng là nhân vật lịch sử đầu tiên xưng đế ngang hàng với vua chúa Trung Hoa, cho nên các sử gia Việt Nam thời quân chủ thường coi Lưỡng Quảng là đất cũ của người Việt, tuy nhiên, đến nay nhà Triệu vẫn không được công nhận về mặt chính thống ở cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Với quan điểm khách quan hóa sự thực lịch sử, TTXVA nhận thấy cần phải coi nhà Triệu là mốc khởi đầu cho thể chế quân chủ ở Việt Nam. Hơn thế nữa, những di chỉ được tìm thấy tại Quảng Châu (kinh đô Phiên Ngung thời nhà Triệu) cũng chứng minh rằng, nhà Triệu đã đem văn hóa cung đình tới mảnh đất phương Nam này, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ sự thống nhất các bộ lạc Bách Việt (vốn dĩ triền miên xung đột suốt nhiều thế kỷ). Thứ tự các đời vua Nam Việt :

    • Vũ Đế (húy Triệu Đà, 207 tr.CN – 137 tr.CN)
    • Văn Vương (húy Triệu Hồ/Mạt/Muội, 137 tr.CN – 124 tr.CN)
    • Minh Vương (húy Triệu Anh Tề, 124 tr.CN -113 tr.CN)
    • Ai Vương (húy Triệu Hưng, 113 tr.CN – 112 tr.CN)
    • Thuật Dương Vương (húy Triệu Kiến Đức, 112 tr.CN – 111 tr.CN)

    Văn Đế hành tỉ (文帝行璽) – Ấn của Triệu Văn Vương, được tìm thấy trong lăng mộ khai quật (di tích thành Phiên Ngung).

    Năm 214 tr.CN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đánh chiếm vùng Dương Việt, đặt ra Tượng quận (nay là Hồ Nam), Quế Lâm quận (nay là Quảng Tây), Nam Hải quận (nay là Quảng Đông). Sau khi bình định xong đất Dương Việt, Đồ Thư cử thuộc tướng chia giữ các nơi xung yếu. Tại quận Nam Hải có Quận úy Nhiệm Hiêu (任囂, cháu 7 đời của Nhiệm Bất Tề – một trong 72 môn đồ của Khổng Tử) mưu đồ cát cứ. Năm 210 tr.CN, Nhiệm Hiêu theo Đồ Thư đi đánh nước Âu Lạc nhưng bị thua trận, Đồ Thư chết và quân Tần phải rút về. Cùng năm đó, Tần Thủy Hoàng băng hà, Trung Nguyên rối loạn. Nhiệm Hiêu chưa kịp nổi dậy thì sinh bệnh hấp hối, trước khi chết, Nhiệm Hiêu trao lại binh quyền cho con nuôi là Lệnh úy huyện Long Xuyên (cũng thuộc quận Nam Hải) tên Triệu Đà, khuyên Triệu Đà chiếm lấy đất Âu Lạc mà xưng vương. Để gầy dựng thế lực, Triệu Đà tấu xin nhà Tần đem khoảng 50 vạn dân xuống Bách Việt với chiêu bài “Hoa Việt dung hợp” – đây có thể xem là cuộc di cư lớn đầu tiên của người Trung Nguyên vào đất Việt. Sẵn có lực lượng này dưới trướng, Triệu Đà nhanh chóng thống nhất được các bộ lạc Dương Việt và đến năm 208 tr.CN thì sáp nhập thêm Âu Lạc để lập nên nước Nam Việt. Đến năm 207 tr.CN, Triệu Đà xưng đế (thường gọi Triệu Vũ Đế, Nam Việt Vũ Đế), định đô tại thành Phiên Ngung (nay thuộc Quảng Châu – Trung Quốc). Ông được xem là thủy tổ của dòng họ Triệu Việt Nam. Cũng từ Triệu Đà trở đi, các vua Việt Nam thường xưng đế với thần dân và các nước phiên thuộc, riêng đối với vua chúa Trung Hoa thì chỉ xưng vương.

    Năm 206 tr.CN, nhà Hán được thành lập tại Trung Nguyên. Năm 196 tr.CN, Hán Cao Đế nhận thấy không thể dùng vũ lực bức hàng Nam Việt, mới sai Thái trung đại phu Lục Giả sang thông sứ – đây có thể xem là sự kiện mở đầu cho lịch sử bang giao Việt Nam – Trung Quốc. Lục Giả thay mặt hoàng đế Hán sắc phong Triệu Đà làm Nam Việt Vương, trao “tỉ thụ và phẫu phù” cho vua Triệu, lại khuyên vua giữ yên đất Việt và không gây sự tại biên giới. Theo cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Triệu Vũ Đế tỏ ý không muốn thần phục nhà Hán, khi Lục Giả đến yết kiến thì ngồi xổm mà tiếp. Đến lúc họ Lục về thì đút lót nhiều vàng bạc để y nói tốt về mình trước mặt hoàng đế Hán.

    Trong một bức thư gửi Hiếu Huệ Đế, Triệu Vũ Đế bộc bạch : “Man Di đại trưởng lão phu, thần Đà, mạo muội đáng chết, hai lạy dâng thư lên hoàng đế bệ hạ. Lão phu vốn là lại cũ ở đất Việt, Cao Đế ban cho ấn thao làm Nam Việt Vương. Hiếu Huệ Hoàng Đế lên ngôi, vì nghĩa không nỡ tuyệt nên ban cho lão phu rất hậu. Cao Hậu lên coi việc nước lại phân biệt Hoa – Di, ra lệnh không cho Nam Việt những khí cụ làm ruộng bằng sắt và đồng ; ngựa, trâu, dê nếu cho thì cũng chỉ cho con đực, không cho con cái. Lão phu ở đất hẻo lánh, ngựa, trâu, dê đã già. Tự nghĩ nếu không sắm lễ vật cúng tế, thì tội thực đáng chết, mới sai Nội sử Phan, Trung úy Cao, Ngự sử Bình, ba bọn dâng thư tạ lỗi, nhưng đều không thấy trở về. Lại nghe đồn rằng, phần mộ của cha mẹ lão phu bị đập phá, anh em họ hàng đều bị giết. Vì vậy, bọn lại bàn nhau rằng : “Nay bên trong không được phấn chấn với nhà Hán, bên ngoài không lấy gì để tự cao khác với nước Ngô”. Vì vậy mới đổi xưng hiệu là đế, để tự làm đế nước mình, không dám làm điều gì hại đến thiên hạ. Cao hoàng hậu nghe tin cả giận, tước bỏ sổ sách của Nam Việt, khiến cho việc sai người đi sứ không thông. Lão phu trộm ngờ là vì Trường Sa Vương gièm pha, cho nên mới đem quân đến đánh biên giới. Lão phu ở đất Việt 49 năm, đến nay đã ẵm cháu rồi, những vẫn phải dậy sớm, ngủ muộn, nằm không yên chiếu, ăn không biết ngon, mắt không trông sắc đẹp, tai không nghe tiếng chuông trống, chỉ vì không được làm tôi nhà Hán mà thôi. Nay may được bệ hạ có lòng thương đến, được khôi phục hiệu cũ, cho thông sứ như trước, lão phu dù chết xương cũng không nát. Vậy xin đổi tước hiệu, không dám xưng đế nữa. Kính cẩn sai sứ giả dâng một đôi ngọc bích trắng, 1000 bộ lông chim trả, 10 sừng tên, 500 vỏ ốc màu tía, một giỏ cà cuống, 40 đôi chim trả sống, hai đôi chim công. Mạo muội liều chết, hai lạy dâng lên hoàng đế bệ hạ“. Từ lúc này, bang giao Hán – Triệu được cởi mở ; để vỗ về vua Triệu, nhà Hán hạ lệnh tôn tạo mộ phần tổ tiên Triệu Vũ Đế tại huyện Chân Định (nay là huyện Chính Định, địa cấp thị Thạch Gia Trang, tỉnh Hà Bắc – Trung Quốc), anh em họ mạc của ông thì được phong tập tước.

    Triệu Vũ Đế (257 tr.CN/239 tr.CN – 137 tr.CN).

    Cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên chép : Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc.

    Sử gia Lê Văn Hưu nhận xét : Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được.

    Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét : Truyện [Trung Dung] có câu : “Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, ắt được sống lâu”. [Vũ] Đế làm gì mà được như thế ? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư ? Kinh Dịch nói : “Biêt khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua”. Vua chính hợp câu ấy.

    Triệu Vũ Đế ở ngôi đến năm 137 tr.CN thì băng, kế ngôi là cháu đích tôn Triệu Hồ (do cha là Triệu Trọng Thủy đã mất) – lấy hiệu Triệu Văn Vương.

    Năm 135 tr.CN, vua Mân Việt (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến – Trung Quốc) là Vô Sính đem quân quấy rối Nam Việt. Triệu Văn Vương giữ giao ước với nhà Hán, sai sứ giả tấu trình sự việc với hoàng đế Hán chứ không tùy tiện động binh. Hiếu Cảnh Đế khen vua Triệu biết trọng nghĩa, sai Vương Khôi từ Dự Chương, Hàn An Quốc từ Cối Kê cùng hợp sức với Nam Việt đánh Mân. Tuy nhiên, Hoài Nam Vương Lưu An dâng sớ can gián. Nội dung như sau :

    Việt là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được. Từ thời Tam đại thịnh trị, người Hồ, người Việt đã không nhận chính sóc, không phải là vì mạnh mà không hàng phục được, uy không chế ngự được, mà vì đất ấy không thể ở được, dân ấy không thể chăn được, không bõ làm phiền đến Trung Quốc vậy. Nay họ đánh lẫn nhau mà bệ hạ phát quân đến cứu, thế là trái lại đem Trung Quốc mà phục dịch di dịch vậy.

    Vả người Việt khinh bạc, tráo trở, không theo pháp độ, không phải mới có một ngày. Nay mới không vâng chiếu mà cất quân đi đánh giết, thần sợ sau này việc binh cách không biết đến lúc nào thôi. Vừa rồi mấy năm liền không được mùa, sinh kế của dân chưa lại như cũ, nay phát binh lấy lương, đi mấy nghìn dặm lại thêm rừng sâu tre rậm, nhiều rắn độc thú dữ, tháng hè mùa nắng, các bệnh thổ tả hoặc loạn phát ra luôn, tuy chưa từng ra quân đọ kiếm mà chết chóc tất đã nhiều rồi. Thần nghe rằng sau việc quân lữ, tất là mất mùa, là bởi cái khí sầu khổ phá sự điều hòa của khí âm dương, cảm đến tinh khí của trời đất, tai biến do đấy mà sinh ra. Bệ hạ đức sánh trời đất, ơn đến cỏ cây, một người đói rét không được hưởng trọn tuổi trời mà chết, bệ hạ cũng lấy làm thương xót trong lòng. Hiện nay trong nước không có tiếng chó sủa báo động mà khiến quân lính phải dãi dầu ở đồng nội, ngấm ướt ở núi hang, khiến dân ở biên cương phải đóng cửa sớm mở cửa muộn, bữa mai không kịp bữa hôm, thần An trộm xin bệ hạ thận trọng việc đó.

    Vả người Việt nhân tài vật lực yếu mỏng không biết đánh bộ, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, thế mà không thể đem quân vào được, là vì họ giữ được đất hiểm, mà người Trung Quốc thì không quen thủy thổ.

    Thần nghe ở đường sá người ta nói rằng : Mân Việt Vương bị em là Giáp giết chết, Giáp cũng đã bị giết rồi, dân nước ấy chưa thuộc về ai. Nếu bệ hạ sai trọng thần đến nơi thăm hỏi, ban đức cấp thưởng để chiêu dụ họ, thế tất họ sẽ dắt trẻ dìu già theo về thánh đức. Nếu [bệ hạ] không dùng đất ấy làm gì, thì nước đã mất làm cho còn, dòng đã tuyệt khiến nối lại, phong làm vương hầu, như thế tất họ phải đem mình làm tôi, đời đời nộp cống. Bệ hạ chỉ dùng cái ấn vuông một tấc, dây thao một trượng hai, mà trấn vỗ được đất ngoài, không phải nhọc mệt tên lính nào, không phải cùn một chiếc giáo nào, mà uy đức đều được cả. Nay đem quân vào đất họ, họ tất sợ hãi, trốn vào rừng núi ; nếu ta bỏ về, thì họ lại họp đàn tụ lũ, nếu ta ở để giữ, thì hết năm này sang năm khác, quân lính mệt mỏi, lương thực thiếu hết, một phương có việc gấp, thì bốn mặt đều sợ. Thần sợ rằng biến cố sẽ sinh, gian tà sẽ nổi, đều là bắt đầu từ đấy cả.

    Thần nghĩ rằng : Quân của thiên tử chỉ đi đánh kẻ dưới phạm lỗi, chứ không đi đánh nhau để tranh giành, vì là không ai dám đọ sức. Nếu người Việt làm liều chống lại quan chấp sự mà trong quân kiếm củi đẩy xe có kẻ nào không về đủ thì dù có chém được đầu của Việt Vương, thần cũng lấy làm xấu hổ . Bệ hạ lấy chín châu làm nhà, sinh dân đều là thần thiếp cả, đất của di địch nào có đủ làm nhàn hạ được một ngày mà phải phiền đến ngựa đổ mồ hôi mệt nhọc ? Kinh Thi có câu : “Đạo vương tin thực, đất Từ theo về”. Ý nói vương đạo rất lớn mà phương xa mến phục. Thần An trộm lo rằng tướng lại đem 10 vạn quân đi chỉ làm cái trách nhiệm của một người sứ giả mà thôi.

    Khi quân Hán còn chưa kịp vượt đèo vào đất Mân thì một người em của Vô Sính là Vô Dư Thiện bàn với người trong họ rằng : “Chỉ vì vua tự tiện đem quân đánh Nam Việt không xin phép nhà Hán, cho nên nhà Hán đem quân đến đánh. Quân Hán nhiều và mạnh, dù may mà mình có đánh được chăng nữa sau họ lại kéo sang nhiều hơn, chung quy nước cũng bị diệt, chi bằng giết vua để tạ lỗi với nhà Hán mà xin bãi binh“. Vô Sính bị sát hại, thủ cấp dâng cho tướng Vương Khôi. Hiếu Cảnh Đế cử sứ thần Trang Trợ sang báo cho Triệu Văn Vương biết việc, vua Triệu rập đầu nói : “Thiên tử vì quả nhân đem quân giết vua Mân, quả nhân dù chết cũng không báo đáp được ân đức ấy“. Triệu Văn Vương dự định tới Trường An (kinh đô nhà Hán) triều kiến Hiếu Cảnh Đế, nhưng quần thần can ngăn, nhà vua phải thác bệnh và cử thái tử Anh Tề sang làm con tin.

    Triệu Văn Vương (175 tr.CN – 124 tr.CN).

    Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét : Văn Vương giao thiệp với nước láng giềng phải đạo, nhà Hán khen là có nghĩa, đến mức dấy binh đánh giúp kẻ thù ; lại biết nghe lời can, thác bệnh không sang chầu nhà Hán, giữ phép nhà để mưu cho con cháu, có thể gọi là không xấu hổ với ông nội.

    Năm 124 tr.CN, Triệu Văn Vương băng hà, thái tử Anh Tề được nối nghiệp – hiệu là Triệu Minh Vương. Minh Vương phong Lữ Gia (hiệu Bảo Công, ?- 111 TCN) làm Thái phó, người thiếp yêu là Cù Thị được phong hoàng hậu (thường gọi Cù hậu), con của Cù Thị với Minh Vương là Triệu Hưng được chỉ định ngôi thái tử. Cù hậu vốn người Hàm Đan (kinh đô nước Triệu), thành thân với Minh Vương khi ông làm lính túc vệ ở Trường An ; trước khi sang đất Hán làm con tin, Triệu Minh Vương đã có một người con là Kiến Đức với vợ Việt – cần biết rằng, hầu hết các vua Triệu chỉ lập hoàng hậu người Việt. Việc Minh Vương lập hoàng hậu người Hán và thái tử chỉ là con thứ đã gây nên sự bất bình trong quần thần. Vào năm 113 tr.CN, Triệu Văn Vương băng, thái tử Hưng nghiễm nhiên được nối ngôi – hiệu là Triệu Ai Vương. Năm ấy, Ai Vương mới lên 5 tuổi. Cù Thị được sắc lập thái hậu. Mầm loạn bắt đầu nổi sóng từ vương cung nhà Triệu.

    Triệu Minh Vương (? – 113 tr.CN).

    Đại Việt sử ký toàn thư phê rằng : Vua (Triệu Minh Vương) không cẩn thận mối vợ chồng, gây thành loạn cho quốc gia, không có gì đáng khen.

    Trước khi làm vợ Minh Vương, Cù hậu có tình nhân tên là An Quốc Thiếu Quý. Năm 113 tr.CN, Hán Vũ Đế phong Thiếu Quý làm sứ thần, sang Nam Việt dự tang lễ Triệu Minh Vương, đồng thời chiêu dụ Cù hậu và tân vương về chầu. Hoàng đế Hán cũng cử thêm một biện sĩ là Chung Quân làm Giám đại phu để thuyết phục, cử thêm dũng sĩ là Ngụy Thần để hộ tống, Vệ úy Lộ Bác Đức được lệnh đóng quân ở quận Quế Dương để phòng xa. Như vậy, ý đồ gồm thâu đất Nam Việt của nhà Hán đã lộ rõ.

    Cù thái hậu tư thông với An Quốc Thiếu Quý, khuyên Triệu Ai Vương và triều thần nội thuộc nhà Hán, đồng thời dâng thư lên Hán Vũ Đế xin ba năm về chầu một lần, bãi bỏ cửa quan ở biên giới. Thừa tướng Lữ Gia dâng sớ can gián nhưng vua và thái hậu không nghe. Lữ Gia bất bình giả ốm, ngầm mưu khởi sự. Năm 112 tr.CN, Lữ Gia cùng một người em trai đem quân ập vào cấm cung, xử tử vua, thái hậu và tất cả sứ Hán, đưa Vệ Dương Hầu Kiến Đức lên ngôi – hiệu là Triệu Thuật Dương Vương (hoặc Triệu Vệ Dương Vương).

    Thái hậu Cù Thị.

    Đại Việt sử ký toàn thư phê rằng : Mẫu hậu ngang nhiên dâm loạn, quyền thần chuyên chính, vua hèn tuổi trẻ, giữ nổi thế nào được.

    Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét : Tai họa của Ai Vương, tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực thì gây mầm từ Cù hậu. Kể ra sắc đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước nhà người ta thì có nhiều manh mối, mà cái triệu của nó thì không thể biết trước được. Cho nên các tiên vương tất phải đặt ra lễ đại hôn, tất phải cẩn thận quan hệ vợ chồng, tất phải phân biệt hiềm nghi, hiểu những điều nhỏ nhặt, tất phải chính vị trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất phải dạy đạo tam tòng, thì sau đó mối họa mới không do đâu mà đến được. Ai Vương ít tuổi không thể ngăn giữ được mẹ, Lữ Gia coi việc nước, việc trong việc ngoài lại không dự biết hay sao ? Khách của nước lớn đến, thì việc đón tiếp có lễ nghi, chỗ ở có thứ tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người, sao đến nỗi để thông dâm với mẫu hậu ? Mẫu hậu ở thẳm trong cung, không dự việc ngoài : khi nào có việc ra ngoài, thì có xe da cá, có màn đuôi trĩ, cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với sứ khách được ? Bọn Gia toan dập tắt lửa cháy đồng khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ họa loạn từ khi chưa có triệu chứng gì có hơn không ? Cho nên nói : Làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác ; làm tôi không biết nghĩa Xuân Thu tất mắc phải tội cướp ngôi giết vua, tức như là Minh Vương, Ai Vương và Lữ Gia vậy.

    Biết tin mẹ con Cù hậu và đám sứ thần bị giết, Hán Vũ Đế sai tướng Hàn Thiên Thu và Cù Lại (em trai Cù hậu) đem quân sang đánh Nam Việt, cuộc chiến tranh Hán – Triệu bắt đầu. Quân Hán bị quân của Thừa tướng Lữ Gia tiêu diệt ở nơi cách Phiên Ngung 40 dặm. Năm 111 tr.CN, nhà Hán lại phong Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, đem chừng 10 vạn quân (có chiến thuyền) tấn công thành Phiên Ngung, trong đạo quân này có cả hàng tướng người Việt và tội nhân người Ba Thục. Quân Hán hầu như không gặp trở ngại gì, chỉ trong mùa đông năm ấy đã chiếm được Phiên Ngung, Thuật Dương Vương và Thừa tướng Lữ Gia phải chạy ra cửa biển. Hiệu úy Tư mã Tô Hoằng (hàng tướng người Việt) bắt được vua Triệu, quan lang Đô Kê (người Việt) bắt được Lữ Gia. Nhà vua, Thừa tướng và một vài thuộc hạ bị xử tử. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ba sứ giả của ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam đem 300 con trâu, 1000 chung rượu và sổ hộ khẩu dâng lên Lộ Bác Đức, xin nội thuộc nhà Hán. Lộ Bác Đức cử ba sứ giả làm thái thú các xứ ấy, cho chẩn trị như lệ cũ. Nước Nam Việt diệt vong, những người còn lại của vương thất Triệu phải tản mát lên rừng núi phía Tây, tạo ra dòng họ Triệu rất có thế lực từ bấy về sau (trong ngôn ngữ Thái, “Triệu” phát âm là “Đèo” ; ngôn ngữ Lào phát âm là “Chao”). Nhà Hán chia đất Nam Việt thành chín quận, bao gồm : Nam Hải (nay là Quảng Đông), Thương Ngô (nay là Bắc Bộ), Uất Lâm (nay là Quế Lâm), Hợp Phố (nay là Liêm Châu), Giao Chỉ (nay là Bắc Bộ), Cửu Chân (nay là Bắc Trung Bộ), Nhật Nam (nay là Nam Trung Bộ), Châu Nhai (nay là đảo Hải Nam), Đạm Nhĩ (nay là đảo Hải Nam). Đứng đầu mỗi quận là Thái thú (do triều đình trung ương chỉ định). Dưới quận là châu, đứng đầu mỗi châu là Thứ sử (do Thái thú chỉ định). Năm 111 tr.CN có thể xem là dấu mốc khởi đầu thời kỳ Bắc thuộc lần I cũng như trường kỳ Ngàn năm Bắc thuộc.

    Triệu Thuật Dương Vương (? – 111 tr.CN)

    Cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên nhận định : Úy Đà làm vương vốn do ở Nhiệm Hiêu, gặp lúc nhà Hán mới bình định thiên hạ, ông được liệt vào hàng chư hầu. Lâm Lư Hầu ngại khí thấp, bệnh dịch, không đi đánh, Đà càng được thể kiêu căng. Âu Lạc đánh nhau làm rung động nước Nam Việt. Quân nhà Hán tới cõi. Anh Tề vào chầu, sau đó mất nước, nguồn gốc đều do Cù Thị. Lữ Gia giữ lòng trung nhỏ mọn, khiến cho Đà không có người nối dõi. Lâu thuyền tướng quân làm theo ý muốn không biết tiết chế, lười biếng, kiêu ngạo, thành bị nhầm nhỡ. Phục Ba tướng quân gặp khốn cùng, càng nảy trí mưu, nhân họa thành ra phúc. Sự việc xoay vần thành và bại, ví như cái thừng, cái sợi, xoắn xuýt lấy nhau.

    Đại Việt sử ký toàn thư phê rằng : Xã tắc họ Triệu, Cù hậu làm cho nghiêng, gốc đã nhổ trước rồi, ngọn cũng theo mà đổ.

    Sử gia Lê Văn Hưu nhận xét : Lữ Gia can ngăn Ai Vương và Cù thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là biết trọng nước Việt vậy. Song can mà không nghe, thì nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu cũng nghe ra mà tỉnh ngộ. Nếu lại vẫn không nghe theo, thì nên tự trách mình mà lánh ngôi [Thừa tướng], nếu không thế thì dùng việc cũ họ Hoắc, chọn một người khác trong hàng con của Minh Vương để thay ngôi, cho Ai Vương được như Thái Giáp và Xương Ấp mà giữ toàn tính mệnh, như thế thì không lỗi đường tiến thoái. Nay lại giết vua để hả lòng oán, lại không biết cố chết để giữ lấy nước, khiến cho nước Việt bị chia cắt, phải làm tôi nhà Hán, tội của Lữ Gia đáng chết không dung.

    Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét : Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm cửa ngõ của nước cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam-Bắc vậy. Sau này các bậc đế vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong. Sĩ Vương tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết lại mất hết ; mà các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như vậy.

    Quan điểm của TTXVA : Nhà Triệu tồn tại ngót một thế kỷ (97 năm), chỉ vì mâu thuẫn nội bộ mà suy vong, để đến nỗi vùng đất tự chủ cuối cùng của không gian văn hóa Bách Việt cũng biến mất, mọi nỗ lực kiến tạo nền tự chủ của Triệu Đà xem như tan tành mây khói. Tuy nhiên, trong suốt quá trình chống mưu đồ thôn tính của nhà Hán, không hề thấy sự phản kháng nào từ cộng đồng Bách Việt, duy chỉ vua tôi nhà Triệu chống cự một cách yếu ớt ; bởi thế, người Việt ở vào cái thế bị động trước cuộc xâm lăng và tự thua trước khi quân Hán tràn vào Phiên Ngung. Điều này cho thấy, thời điểm Triệu Đà lập nước Nam Việt, khối Bách Việt vẫn chỉ là một cộng đồng bán khai, con người tụ cư trong những bộ lạc nhỏ bé và bị chia cắt bởi hệ thống núi non, sông ngòi chằng chịt, lại dễ dàng xung đột lẫn nhau. Rõ ràng, người Việt không đủ sức tự vệ trước sức ép từ bên ngoài, cho nên, cuộc xâm lăng của nhà Hán tuy vội vã và quy mô không lớn nhưng vẫn uy hiếp được các bộ lạc Việt (vốn dĩ không thể hợp nhất vì mục tiêu chung), chỉ vừa nghe tin nhà Triệu sụp đổ thì những vùng đất ở xa đã chủ động xin quy phục nhà Hán. Đó chính là sự thắng thế của nền văn minh lớn trước một tiểu khu văn hóa, nhưng dù sao sự xâm nhập của nhà Hán cũng khiến người Việt tiếp cận ánh sáng văn minh sớm hơn các cộng đồng Đông Nam Á

  7. thomastanda says:

    Bức Xức Về Tự Hào Dân Tộc
    JULY 16, 2013 BY GUEST 106 COMMENTS
    Bức Xức Về Tự Hào Dân Tộc

    Tác Giả: Huy Phương-
    “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”
    (Câu hỏi của báo Thanh Niên)

    Hãng hàng không đứng đầu Việt Nam
    Trong bài “Ðêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” đăng trên nhật báo Người Việt (2009) trước đây, ký giả Ðông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, “Con gái Việt Nam đẹp lắm!” Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”
    Câu trả lời tất nhiên là không! Ai lại hãnh diện khi có đồng bào, con em của mình, dù được khen là đẹp phải thất thân đi làm gái mại dâm. Không những được khen đẹp lắm, mà dân địa phương còn một “lắm” nữa, khi nói: “Con gái Việt Nam rẻ lắm!”
    Khi Ðông Bàn đang đứng trên đất Malaysia, không biết ông có hãnh diện là người Việt Nam?
    Theo số liệu thống kê kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Ðài Loan trong 14 năm (1995-2008) đã có 117,679 trường hợp, chiếm 82% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Trong một đảo quốc nhỏ như Ðài Loan đã có hơn 10,000 phụ nữ Việt bỏ xứ sang đây làm vợ người, dù hạnh phúc hay khốn khổ, thì cũng vì thân phận nghèo đói, tương lai mờ mịt, có vinh dự gì cho đất nước khi đàn bà phải ly hương, với những cuộc hôn nhân không tình yêu chỉ vì đồng tiền.
    Ðiều cay đắng nhất là trong tâm ý của người dân đồng bằng Cửu Long, “lấy chồng Ðài Loan” là chuyện mơ ước của tất cả mọi người. Một đôi vợ chồng đem con gái về thăm quê được một người bà con buột miệng khen: “Úi, con bé này ngộ quá, lớn chút nữa lấy chồng Ðài Loan được à nghen!”
    Cũng ở Ðài Loan, năm người lao động Việt Nam làm thuê ở một công ty thủy sản địa phương đã hợp lực khiêng lồng đi bắt hai con chó của dân địa phương bỏ vào bao tải, dìm xuống biển cho chết, sau đó mang lên làm thịt.
    Ngoài việc phải quỳ hai giờ cúi lạy bàn thờ chó để tạ tội và để quần chúng giảm cơn thịnh nộ, năm người lao động Việt Nam này còn bị phạt 10,000 tiền Ðài Loan.
    Không biết chúng ta có hãnh diện là người Việt Nam ở Đài Loan?
    Trên nhiều diễn đàn của Nhật, nhiều người Nhật “cực đoan” kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào… cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “sâu bọ” ở Việt Nam, sau những vụ: PCP, một tập đoàn cung cấp dịch vụ của Nhật bị Việt Nam đòi hối lộ 15% để được trúng thầu các dự án dùng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam; Nhân viên, tiếp viên hàng không và phi công Vietnam Airlines, tổ chức đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật để vận chuyển hàng gian về tiêu thụ tại Việt Nam; Các tu nghiệp sinh Việt Nam trước khi sang Nhật đã bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động CSVN bóc lột thậm tệ; Lãnh sự quán Việt Nam ở Nhật tại Osaka tổ chức bán giấy thông hành Việt Nam.
    Trong một số siêu thị tại Nhật, có bảng cảnh cáo dành cho người Việt về chuyện ăn cắp vặt sẽ bị vào tù! Bức ảnh đã làm rộ lên tin đồn về nạn ăn cắp vặt của người Việt ở bên Nhật. Nhiều người cho rằng, người Việt đã để lại ấn tượng xấu xa trong mắt người Nhật khi xuất ngoại sang đất nước của họ.
    Không biết chúng ta có hãnh diện là người Việt Nam ở Nhật?
    Trang mạng với tên gọi là Craigslist có mặt tại Singapore đưa thông tin rằng khách hàng có thể lựa chọn “gái Việt còn trinh,” giá khoảng $3,000 một tuần, ngay tại sân bay, khách sạn hoặc bất cứ nơi nào khách hàng yêu cầu. Tình trạng các cô gái Việt Nam bán trinh tại Singapore dường như công khai, ai cũng hay biết. Cảnh sát Singapore cho biết, hầu hết các cô gái Việt còn trinh đều ở độ tuổi từ 16 đến 17, đến và “làm việc” qua nhân vật trung gian, và năm ngoái, tại đây, một cô gái Việt Nam 17 tuổi cũng đã rao bán trinh tiết với giá $1,500!
    Không biết chúng ta có hãnh diện là người Việt Nam ở Singapore?
    Các đường dây buôn người đưa hàng nghìn phụ nữ Việt Nam vào các nhà chứa Nga, nhưng Ðại Sứ Quán Việt Nam tại Nga từ chối trả lời câu hỏi của BBC cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền để nói về việc này. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng: “Trong tất cả các trường hợp ở Nga này, thủ phạm là những người Việt được bao che bởi một số giới chức ở Tòa Ðại Sứ Việt Nam ở Nga, thậm chí họ biến thành Hiệp Hội May Dệt dưới sự bảo trợ của Tòa Ðại Sứ Việt Nam.”
    Cảnh sát Nga vừa khám phá một xưởng may “đen” dưới lòng đất tại khu chợ Cherkizov ở thủ đô Moscow, bắt hằng trăm di dân lậu Việt Nam. Nạn buôn lậu của người Việt tại Nga là chuyện xảy ra hằng ngày, có lẽ bởi nguyên nhân trong 80,000 người Việt ở Nga đã có 80% làm nghề buôn bán, phần lớn là chợ trời, mánh mung.
    Ở Ba Lan: “Cầm quyền Hà Nội và nhân viên Tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Warsaw là một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.” (Ðài báo Weltspiegel Ðức)
    Không biết chúng ta có hãnh diện là người Việt Nam ở nơi nào trên thế giới không?.
    Trên VietNamNet, người Việt Nam sinh sống ở Nhật, ở Nga, ở Anh, ở Úc, ở Nam Phi, ở Mozambique và ngay cả ở California, đã trình bày những những mẩu chuyện về người Việt đọc xong chỉ muốn “độn thổ,” với bao nhiêu thói hư, tật xấu khác của người Việt từ trong nước đến như trộm cắp, gian dối, đái bậy, khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, ăn uống thô tục, tranh giành, chen lấn nơi công cộng, không biết nói cảm ơn, xin lỗi khi cần. Nói về chuyện ăn cắp và ăn cắp vặt thì Việt Nam chắc hẳn bỏ xa đàn anh Trung Quốc. Ngay cả cuộn giấy đi cầu trong khách sạn, khách người Việt cũng không tha.
    Một người Việt làm nghề thông dịch cho tòa án và cảnh sát ở Úc, cho biết phần lớn thủ phạm ăn cắp trong siêu thị và trồng cần sa trong nhà là những người mới định cư, đặc biệt những người từ Bắc Việt Nam và du học sinh. Mỗi lần người này đi dịch là anh ta khổ tâm vì cảm thấy nhục nhã cho dân tộc mình.
    Trong khi trao đổi chuyện này với một phụ nữ trong nước, bà này đã viết cho chúng tôi: “Năm 2008 vào dịp Tết Nguyên Ðán, tôi được con trai cho di du lịch Doha (Qatar,) sẵn dịp công ty của con bảo lãnh qua chơi Dubai. Nhưng đến chiều về lại Doha thì bị giữ lại phi trường vì nghe nói có chuyện gì xảy ra ở một siêu thị mà có người Việt mình dính vô. Trong khi cả đoàn ‘check in’ thì riêng tôi bị giữ lại vì mang passport Việt Nam. Mang hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài buồn lắm ông ơi!!!”
    Lâu nay, người ta nhắc đến hai chữ Việt Nam hơi nhiều, không phải vì “tiếng tăm” mà vì “tai tiếng!”
    Còn nhớ câu nói của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt : “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế.”
    Nhân câu nói này, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam đã chỉ trích, lên án ông và đặt câu hỏi về lòng yêu nước của ông.
    Tôi thì nghĩ khác, vì yêu nước nên ông Ngô Quang Kiệt mới cảm thấy nhục nhã. Tôi cũng không hãnh diện lắm về chuyện làm người Việt Nam, nhưng không phải như vậy là tôi không yêu nước, mà có thể vì lòng yêu nước, biết đâu có tác giả sẽ cho ra đời một cuốn sách mang tên “Người Việt Xấu Xa”.
    Chúng ta đang nói chuyện người Việt dưới chế độ Cộng Sản. Ðể công bằng chúng ta nên có thêm một cái nhìn về người Việt ở Mỹ. Ngoài những chuyện được đề cao là làm “vẻ vang dân tộc Việt,” không có gì hơn là xin trích dẫn lời của ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc ngân hàng VNCH:
    “Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: Bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp.
    Không phải chỉ có những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp vai trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản, v.v.). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy 80 vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước chúng ta bên kia nữa!” (“Lời Nói Ðầu” – “Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới” hồi ký, XB 2004.)
    Như vậy, sau một người có tên tuổi trong nước là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cảm thấy “nhục nhã,” bây giờ một người ngoài nước, lại là một viên chức cao cấp của hai nền Cộng Hòa Việt Nam, cảm thấy “xấu hổ,” một phụ nữ bình thường thì than “buồn lắm!” Thế mà không biết sao thời “chống Mỹ” báo chí miền Bắc lại phịa ra câu chuyện một anh chàng “bá vơ” nước ngoài nào đó tuyên bố: “Mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người… Việt Nam!”
    Ông Nguyễn Hồi Thủ khi dịch cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” đã có nhận xét: “Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất ít người thật tình có can đảm và trung thực để tìm hiểu, phê bình, những cái xấu, cái dở của dân tộc mình. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng… Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình.”
    Báo Thanh Niên trong nước đã đặt câu hỏi: “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”
    Xin thưa, các yếu tố thông minh, chăm chỉ và nhất là kiểu “ra ngõ là gặp anh hùng,” chưa đủ để tạo thành một con người tử tế và một đất nước tử tế để cho thế giới tôn trọng và yêu mến!
    Huy Phương
    http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/ngi-vit-ngi-nht.html

  8. thomastanda says:

    NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI NHẬT
    JULY 18, 2013 BY ALAN PHAN LEAVE A COMMENT

    NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI NHẬT

    BLOG CỦA ALAN PHAN NGÀY THỨ SÁU 19 JULY 2013

    Hai bài vừa đăng trên GNA (Cúi mà không thấp và Bức xức về tự hào dân tộc) tạo nhiều tranh cãi và cảm xúc với các BCA. Mới biết cái tính sĩ diện hảo trong con người Việt vẫn còn cao lắm. Nhiều bạn quá khích cho là bất cứ phê bình gì về người Việt “anh hùng” (đúng hay sai) đều là phản động, (wow, chúng ta vẫn sống ở thập niên 1950s à?); nhiều bạn thì lại thấy xấu hổ nhục nhã với hiện trạng “cúi mặt”. Nhiều Emails hỏi ý kiến tôi…

    Thực sự, ông già Alan không có xúc cảm gì về vấn đề này. Mỗi con người là một vũ trụ riêng biệt, cái chân giá trị của cá nhân chỉ mình mình định phẩm và đặt mục tiêu; ý kiến của người khác chỉ là…chuyện người ta. Ai khen thì cám ơn, ai chê hay chửi thì cũng không có gì để phản ứng. Vả lại, nói về cả xã hội, thì luôn luôn có đủ loại người, mọi phương thức để phân tích đánh giá đều không khoa học lắm. So sánh về mức độ giàu nghèo hay tỷ lệ tội phạm và môi trường sống có tự do dân chủ hay sạch bẩn thì khá hiển nhiên, nhưng để cho rằng dân tộc này “có đời sống tốt” hơn dân tộc kia sẽ gây nhiều mâu thuẫn vì không thể thống nhất tiêu chuẩn.

    Với Alan, tôi không hãnh diện hay xấu hổ khi làm người Việt, người Mỹ hay người ngoài hành tinh. Và chắc chắn là không ai quan tâm là tôi có quốc tịch gì, trừ khi mình ra ứng cử hay đi bầu cử. Vả lại, tôi vẫn thường nói, một thằng “chó đẻ” vẫn là một thằng chó đẻ dù nó có bạc tỷ hay được phong thánh phong thần.

    Tuy nhiên, sự so sánh điểm mạnh hay yếu của hai dân tộc Việt Nhật là một đề tài thú vị. Hai dân tộc này đều có “tiếng tăm” về thành tích anh hùng trong chiến tranh. Nhất là khi anh hùng Việt đánh bại Pháp rồi Mỹ; trong khi anh hùng Nhật thua đau đớn tại thế chiến 2 và trả giá khá nặng. Hai xã hội cũng nằm trong ảnh hưởng của Khổng Nho và Phật giáo cả ngàn năm; nên có thể cũng đồng nhất về chuẩn mực đạo đức và trí tuệ.

    Nhưng nhìn lại lịch sử, từ đống tro tàn năm 1945, con phượng hoàng Nhật đã hồi sinh mạnh mẽ 40 năm sau đó. Giữa thập niên 1980’s, nhiều trí thức Âu Mỹ phải báo động là mặt trời Nhật sắp khống chế và trở thành nền kinh tế số 1 của thế giới. Bất cứ một người Á Châu giàu có và trí thức nào đều được đồng hóa với người Nhật trong mọi cắp mắt Âu Mỹ. Giới nghệ sĩ, khoa bảng và đại gia của họ đã say mê khám phá văn hóa Nhật và sao chép cùng sáng tạo nhiều truyền thuyết Nhật qua các bài giảng, mô hình kinh doanh và phim ảnh tiểu thuyết.

    Cũng khoảng 40 năm sau “mùa xuân đại thắng”, mọi khía cạnh từ chính trị kinh tế đến văn học thể thao của người Việt là một trò cười lớn của nhân loại. Sau khi tiếp xúc va chạm với đủ thành phần người Việt, gần như tất cả mọi dân tộc toàn cầu bắt đầu coi thường khi dễ người Việt, kể cả những đồng minh anh em bằng hữu “hảo hảo” như Trung Quốc, Liên Xô…

    What went wrong? (Cái gì sai trái đã xẩy ra?).

    Chúng ta không thể chỉ phiến diện quy tội cho một cơ chế vay mượn tệ hại. Những yếu tố lịch sử, văn hóa hay dân trí nào khác đã cấu tạo nên tư duy và cư xử hiện tại của người Việt? Khi so sánh với các dân tộc láng giềng, sự lựa chọn của Việt Nam trước đây và bây giờ có là một lầm lỡ vô phương cứu chữa?

    Đây là chủ yếu của đề tài Alan muốn mời các bạn BCA đăng đàn. Xin động não và đóng góp.

    Alan Phan

    P.S. Riêng các dư luận viên, tôi nghĩ các bạn cứ gởi thẳng bài cho báo Nhân Dân, chúng tôi đã quá quen thuộc với quan điểm của các bạn về “sự thật”, về “biện bạch”, về “răn đe” 70 năm rồi. Tôi nghĩ chúng ta không nên làm mất thì giờ của nhau, vì lương các bạn là do người dân trả đấy chứ không phải ông sếp, ông kẹ nào đâu.

    Hai bài nói trên:

    http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/ci-nhng-khng-thp.html

    http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/bc-xc-ho-dn-tc.html

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s