TỪ TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO ĐẾN VĂN HÓA

TỪ TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO ĐẾN VĂN HÓA

TỪ TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO ĐẾN VĂN HÓA

Tín ngưỡng và tôn giáo là những đề tài phong phú xưa nay đã thu hút rất nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, triết gia tham khảo, bàn luận trên nhiều khía cạnh, khen có, chê có, bài bác có, tán đồng có.
Nhưng các khảo cứu đều nhìn nhận từ khi có loài người, tín ngưỡng đã xuất hiện. Rồi từ tín ngưỡng thành lập tôn giáo. Và trải qua chiều dài lịch sử tiến hóa của nhân loại, qua bao nhiêu cuộc thương hải tang điền, qua các triều đại hưng thịnh suy vong, tín ngưỡng và tôn giáo vẫn tồn tại trong xã hội đến ngày nay.

Lão Tử Đạo Đức Kinh Ch.62 lại viết : 
1. Đạo giả, vạn vật chi áo , thiện nhân chi bửu, bất thiện nhân chi sở bảo. 
2. Mỹ ngôn khả dĩ thị tôn. Mỹ hạnh khả dĩ gia nhân. Nhân chi bất thiện hà khí chi hữu. 

Dịch xuôi:(theo Nhân tử Nguyễn Văn Thọ):
Đạo là bí quyết muôn loài, là châu báu của người lành, là chỗ dựa nương của người bất lương (chưa lành- NV). (Nhờ Đạo) mà có những lời hay việc đẹp (Nhờ Đạo mà những lời hay được tăng giá trị, được trọng vọng; mà những việc đẹp tăng phẩm cách con người). (Nhờ Đạo) mà những kẻ bất lương (chưa thiện-NV) không bị ruồng rẫy.

Vậy qui chiếu chữ « Đạo » ở chương này của Đạo Đức Kinh vào Tín ngưỡng và Tôn giáo thì yếu tố nào làm cho tín ngưỡng và tôn giáo có được giá trị của « lời hay [mỹ ngôn],việc đẹp [ mỹ hạnh] làm tăng phẩm cách con người» ? Phải chăng những giá trị đó chính là VĂN HÓA ?
Trước khi trả lời câu hỏi, chúng ta hãy tìm hiểu, tín ngưỡng, tôn giáo là gì.

TÍN NGƯỠNG LÀ GÌ ?

“Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo; tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.” (Wikipedia)
Đó là định nghĩa theo Bách Khoa Tự Điển Wikipedia nổi tiếng, nhưng chính hai chữ “niềm tin” mới là vấn đề tốn nhiều giấy mực. Bởi vì niềm tin là một tâm lý trừu tượng, và người ta chỉ có thể đánh giá nó qua các biểu hiện vật thể hay phi vật thể. Nghĩa là từ những biểu hiện ấy, người ta xem xét nó có công dụng gì trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội của con người. Những công dụng đó là thực tiễn thì “niềm tin” là chánh tín; ảo tưởng là mê tín. Đến phiên thực tiển hay không thực tiễn, ở đây không thể đánh giá bằng lợi nhuận, bằng công danh, sự nghiệp, mà nó có thể hướng con người vào một nếp sống tốt đẹp, một xã hội có văn hóa. 
Một sự kiện văn hóa tín ngưỡng quan trọng mới đây khiến mọi người có thể khẳng định khái niệm ấy. Đó là quyết định của UNESCO công nhận“Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Một nhà nghiên cứu viết:

“Như chúng ta đã thấy, trải suốt chiều dài lịch sử, biểu tượng Vua Hùng được thừa nhận trên cả nước Việt Nam như một biểu tượng cội nguồn chung cho cả dân tộc vượt qua mọi rào cản của các triều đại phong kiến, sự khác biệt tôn giáo và các chế độ xã hội. 
“Trong mỗi gia đình Việt Nam, việc thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng vô cùng quen thuộc và bình dị. Vì vậy khi xây dựng lên hình tượng Vua Hùng đã tạo nên một tín ngưỡng Hùng Vương với tư cách là biểu tượng cội nguồn của quốc gia – dân tộc. 
[ . . .] “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” với đầy đủ ý nghĩa như vậy nên khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể có tính tiêu biểu của nhân loại. Chúng ta nên hiểu cho đúng giá trị của nó mà từ đó có những kế hoạch để bảo tồn và phát huy . . .” ( Hoàng Nguyên, Việtnamnet)

                                                 LỄ RƯỚC TỔ TRONG NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (Phú Thọ)

TÔN GIÁO LÀ GÌ ?

Tác giả Phạm Thiên Thơ viết:
“Tôn giáo giữ vai trò tiền phong trong việc khai sáng nền văn minh nhân loại, điều này đối với các nhà chân tu mang lý tưởng cứu đời, ai cũng đều nghĩ như vậy; nhưng việc khai sáng đó có đúng với khả năng và tầm vóc hiện có của tôn giáo hay không đó chính là những khó khăn mà tôn giáo cần phải vượt lên: khai triển giáo lý thật sâu rộng, thích ứng phù hợp được với toàn diện đời sống, nơi gặp nhau của mọi nền tôn giáo, mọi trào lưu tư tưởng tinh hoa của nền văn minh nhân loại còn đang tồn tại trong dung hợp khai phóng. http://www.danchimviet.info/archives/28751/th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%A1i-van-hoa-v%E1%BB%9Bi-ton-giao/2011/02)
Giáo sư Trần Văn Toàn viết trong đề tài “Tôn giáo và văn hóa” (trên trang web conggiaovietnam.net) như sau:

« Tôn giáo không phải là một sự kiện tự nhiên, một đặc tính sinh lý, hay là một nhu cầu sinh lý (tâm lý ? NV) của cá nhân. Thực tại tôn giáo không phải là một số đồ vật có chiều dài vắn, có bề nặng nhẹ, mà khoa học tự nhiên có thể đo lường. Đó là một sự kiện văn hóa, và có lẽ là một sự kiện văn hóa phổ biến và lâu dài bền bĩ nhất trong lịch sử nhân loại. »
Trong Thánh giáo đạo Cao Đài, Đức Vạn Hạnh Thiền Sư dạy về tôn giáo như sau :
« Than ôi! Tôn giáo là gì? Phải chăng Tôn giáo là phương hướng giáo thuyết để dạy đời nhìn thấy những gì thiêng liêng cao cả. Chẳng những chỉ ở phần tâm linh tối thượng mà Tôn giáo còn dạy người đời xem nhau như tình ruột thịt huynh đệ đại đồng. Tuy khác ở màu da sắc tóc, nhưng cũng đồng thọ bẩm đức háo sanh dưỡng dục an bài của luật đương nhiên Tạo hóa.
Tôn giáo dạy người phải lấy tình thương yêu hòa ái từ xã hội nhỏ, như gia đình, phu thê, phụ tử, đệ huynh, bằng hữu, đến một xã hội bậc trung là đoàn thể quốc gia dân tộc và chí đến nữa là đại xã hội nhân loại đại đồng. Xã hội nhỏ có thương yêu hòa ái thì gia đình được hạnh phúc, phụ từ tử hiếu, huynh hữu đệ cung.
Một xã hội bậc trung có thương yêu hòa ái thì đoàn thể được phát triển nảy nở mau lẹ trong sự dìu dắt giáo dục bảo vệ cho nhau. Một quốc gia toàn thể dân trong nước đó, từ vua quan cho đến lê thứ dân giả cùng đinh mà biết thương yêu hòa ái thì quốc gia đó được thạnh trị, dân đó được phú túc sung mãn hùng cường. 
Nếu một xã hội nhân loại đại đồng biết thương yêu hòa ái nhau thì đại xã hội đó là một Thiên-Đàng Cực-Lạc tại thế gian.” 
(Vạn Hạnh Thiền Sư, MLTH, 08-09-KD, 18-10-1969)

Như thế thì tôn giáo có công dụng rất tốt đẹp, ngoài phương diện tâm linh hướng thượng còn tích cực góp phần hoàn thiện xã hội từ gia đình, dân tộc đến nhân loại. Do đó tôn giáo không phải là những gì huyền ảo, là mơ hồ vì các tôn giáo chân chính đều nêu lên giáo thuyết về mối quan hệ đạo đức giữa người và người. 
Sách Trung Dung viết: “Nhân giả, nhân dã”. Chữ nhân đầu gồm chữ nhị và chữ nhân ; chữ nhân sau là một chữ nhân . Giáo sư Trần Văn Toàn giải thích: “có lòng « nhân » (chữ nhị và chữ nhân), có được ở với người khác và có ở được với người khác, thì mình mới nên người ». Và « Đức Khổng Tử còn nói đến tam cương hay ngũ luân, là những liên hệ của ta với người khác, đã được lập thành định chế, để bình thường hóa nếp sống. Có như thế ta mới ở được với người khác. »

Trong nhà thờ Thiên Chúa giáo, khi vị chủ tế chúc: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”, cộng đoàn thưa: “Và ở cùng cha (linh mục. NV)”. Và chủ tế nói thêm: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”. 
Một linh mục viết trên Trang Web Tổng Giáo Phận TP. HCM : “Chúng ta đừng nghĩ rằng việc chúc bình an ở đây cũng giống như việc thân hữu ngoài đời trao tặng cho nhau. Không, đây là một sự hòa giải. Thật vậy, trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu nói rõ rằng trước khi thực hiện mọi hành vi phụng tự, cần phải làm hòa với anh chị em mình trước đã: “Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ” 
(Mt 5, 23-24). ((Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Nhận định về cử chỉ “chúc bình an cho nhau” trong thánh lễ trên đây cho thấy tôn giáo có tính nhân bản rất cao trong quan hệ giữa người và người như ý nghĩa chữ NHÂN có chữ “nhị” của Đức Khổng (tứ là đức Nhân). Xét về mặt mỹ cảm hay thiện cảm thì đó là một nét văn hóa đặc biệt.

VĂN HÓA LÀ GÌ ?

Để hiểu được cương vị và vai trò của Tín ngưỡng và Tôn giáo trong tổng thể Văn hóa, chúng ta cần tìm hiểu thêm Văn hóa là gì.
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:” Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. “
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:

-Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội
. (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a

Văn hóa có ý nghĩa là văn minh và giáo hóa, phản ảnh những lề lối, tổ chức sinh hoạt của một quốc gia dân tộc trong sự phát triển tinh thần, đạo đức, nghệ thuật sống trong những hài hòa chung giữa con người và xã hội, những điều này hoàn toàn phù hợp với chức năng của tôn giáo, vì thế văn hóa chính là nền tảng thực thi của tôn giáo hướng đến chân trời văn minh nhân bản.” (Phạm Thiên Thơ, sđd)

Cụ Nguyễn Đặng Thục gắn liền văn hoá với tiến hoá. Tiên sinh viết: Văn hoá có nghĩa là tiến hoá, tiến từ trình độ thô sơ đến trình độ văn vẻ từ thấp đến cao, từ vật chất hữu hình lên tinh thần vô hình. 

Arnold cho rằng: Văn hoá là sự cố gắng của con người để vươn lên tới mức độ cao siêu hơn, hoặc là vươn lên cho tới hoàn thiện.
Phương tiện của sự siêu thăng này chính là văn chương và nghệ thuật và sự học hỏi về những tư tưởng và hành động cao đẹp của tiền nhân 

Vậy, có thể tóm tắt rằng: Văn hóa là tài sản, là di sản những thành tựu của lao động và tư duy, những tinh hoa của con người thể hiện thành vật thể hay những giá trị tinh thần phi vật thể, tất cả đem lại cái đẹp, cái thiện, cái chân lý phổ quát trong quá trình tiến hóa của loài người. (NV)

Nói như thế thì phải chăng chính TÔN GIÁO cũng là VĂN HÓA bởi vì Tôn giáo có nguồn gốc nhân bản, có những bản sắc nhân văn. Nói cách khác, Tôn giáo gắn liền với CON NGƯỜI và tác động vào quá trình thăng hoa, tiến hóa của con người.

DI SẢN VĂN HÓA CỦA TÔN GIÁO
Những di sản văn hóa tôn giáo của các bậc Giáo tổ, Tông đồ các tôn giáo truyền thừa gần 3000 năm qua mà đến nay tín đồ tôn giáo khắp thế giới vẫn còn học tập, tu tập, truyền tụng vì bao hàm đạo lý, chân lý vĩnh cửu. Đơn cử như:
_ Tam tạng Kinh-Luật-Luận của đạo Phật 
_ Đạo Đức Kinh, Thanh tịnh kinh, Cảm ứng kinh, Nam Hoa Kinh của đạo Lão
_ Tứ thư Ngũ kinh của đạo Nho
_ Thánh Kinh của Ki-tô giáo
Ngoài ra còn nhiều di sản khác như chùa, đền, nhà thờ, tượng thờ . . .

NỘI ĐIỆN CHÙA BÁI ĐÍNH (Ninh Bình)

ĐỀN THỜ HỒI GIÁO

TÒA THÁNH CAO ĐÀI TÂY NINH

CHÙA HỘI KHÁNH BÌNH DƯƠNG (xây 1741)

TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA TÍN NGƯỠNG-TÔN GIÁO & VĂN HÓA 

_ Các lễ hội là văn hóa tín ngưỡng, văn hóa tôn giáo làm phong phú hóa bản sắc văn hóa của xã hội, của dân tộc
_ Các nghi thức hành lễ, lễ nhạc, thánh thi, thánh ca là văn hóa trong sinh hoạt tâm linh
Công giáo:Hợp xướng thánh ca
Ban Hop XuongCa Đoàn GH Phước Lý http://www.baicamoi.com
 http://youtu.be/tNDX8GKW3lE
Cao Đài:Hành lễ tại đền thánh
(Trích đoạn Video “80 Năm Đại Đạo hoằng dương” tren YOUTUBE (từ phút 06:10 > 06: 30)

* * *

Thánh giáo Cao Đài dạy về văn hóa như sau: “Văn hóa là sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc. Văn hóa có ảnh hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhơn loại. Nó tế nhị mà bao la, trầm lặng mà mạnh mẽ. Có thể đưa dân tộc từ chỗ đồi trụy trở về cuộc sống thanh cao. Bản chất của văn hóa là đạo đức. Hình thức của nó là ngôn từ, chương cú, giáo dục . . .” 
(Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Tuất thời, Rằm tháng 7 Ất Mão (21-8-1975)

Nếu ta khẳng định Tôn giáo cũng là hoạt động văn hóa hay là một thành phần của văn hóa nhân loại, ta có thể thay những chữ “văn hóa” bằng hai chữ “tôn giáo” trong thánh ngôn trên cũng vẫn có ý nghĩa.

Tôn giáo là sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc. Tôn giáo có ảnh hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhơn loại. Nó tế nhị mà bao la, trầm lặng mà mạnh mẽ. Có thể đưa dân tộc từ chỗ đồi trụy trở về cuộc sống thanh cao. Bản chất của tôn giáo là đạo đức. Hình thức của nó là ngôn từ, chương cú, giáo dục . . .”

TẠM KẾT

“……Tôn giáo là những khuôn vàng thước ngọc để khép con người từ chỗ sa đọa trở nên hiền Thánh Tiên Phật, ung đúc con người từ chỗ trọng trược lòng trần được thanh thoát cao siêu. Tôn giáo là mối dây liên quan, là cửa thông đồng cho vạn dân chủng tộc……..”
“Hỡi những ai là người thức tri thời vụ, ai là người đang đi trên đường đạo học, ai muốn tìm chỗ uyên thâm của đạo lý, ai muốn thoát khỏi cảnh ràng buộc trí não tâm linh giữa cõi đời hỗn loạn này, hãy tự tin, tự giác, để tìm hiểu nguyên nhân nào đưa con người vào hoàn cảnh tối tăm loạn lạc nầy. Có tìm thấy mới biết quay về với nhân bản, với bản tính chất thuần lương mà từ thuở sơ sinh đã có hằng hữu Thượng Đế giáng trung”.

(Vạn Hạnh Thiền Sư, Trúc Lâm Thiền Điện, Tuất thời Mùng 7 tháng 2 Tân Hợi (3.3.1971)

Liên hệ Tín ngưỡng-Tôn giáo với Văn hóa, hay nhìn Tôn giáo với góc độ Văn hóa cho thấy Tôn giáo có những động năng rất tích cực vì con người, vì sự an lạc và tiến bộ của xã hội. 

Tôn giáo ấy cửa vào tìm đạo,
Đạo là đường hoài bão nhơn sanh;
Người tu ý thức tri hành,
Hễ vào cửa đạo chí thành mà tu.
Ôi ! Bốn vách trần tù vọi vọi,
Hỡi người đời nhìn lối xa xa;
Nước non vũ trụ bao la,
Chơn thân bể tục xét ra dại khờ.
Ơn Tạo Hóa xây bờ đắp móng,
Nghiệp tiền nhân đỡ chống nhiều phen;
Lương tri, lương thức, lương năng,
Giác quan sinh lực kém hèn chi ai.
Nước không đạo hữu tài vô dụng,
Người không tu hữu dũng nan thành;
Đạo là cội phúc nẩy sanh,
Sanh dân, sanh nước và sanh Thiên Đàng. 

(Giáo Tông Đại Đạo, Thiên Lý Đàn, Tuất thời 20 tháng 5 Ất Tỵ (19.6.1965)

About thomastanda

1. Management consulting : Working with many kinds of customers including both Vietnamese and foreigners, good experience, Business Process outsourcing, BPI : document templates as well as professional skills in some areas:Banking, Financial management, DD 2. Information technology: ERP, SCM, CRM, MIS, BI, DIS and Specific Industry Solutions, BSC, PBSC, TPS: More than 18 years implementing EUROJOB, iFlex -Core Banking, Microsoft Dynamics-Navision, Solomon, Axapta, especially BizForceOne® for outstanding successful customer implementations. 1997 – 1998: Pixibox, French company 1998 – 2000 Vietnam Bank for Agriculture and Rural 2. Development, HCM Branch : IS Manager and Accountant 2000 -> 2002 Eaten Asia Bank as IS MIS Project manager 2002 at Ben Thanh Brewery and Beverage 2004> 2006: Kimdosoft (Time shared Real Estate – Phú Hải resort) and ERP-with Navision implementation: Sanofy pharma. 2006-2007: BMI founder with MegasolutionCenter, USA 2007 -> now: BizForceOne Country manager with BFO Implementation: >30 projects with BizForceOne® Projects: Casumina JSC, TTA Group, DANAPHA, Vinpharco, Indico,CPC1, Duoc Hau Giang, Vimedimex, Danameco, Medochemie, VTJ, Vietceramic, PhuongNga, Samco… 2011 -> now: CENFORD : Center of Research and Development Association – Center of Asia R&D Association- VN Gorvement. Xem tài liệu powerpoint về hệ sinh thái quản trị (Business Management ecology system): http://www.authorstream.com/channels/thomastanda/Business-Management-Ecology/
This entry was posted in Management consulting. Bookmark the permalink.

5 Responses to TỪ TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO ĐẾN VĂN HÓA

  1. thomastanda says:

    Nhân quả
    “ Người đã chứng kiến bao sự đau khổ ở trước mắt, tại sao không làm cho chúng sanh được an vui? Nếu người ấy có nhiều thần lực, tại sao không dùng thần lực để cứu độ chúng sanh? Tại sao những con sanh của người ấy lại phải chịu lắm điều khố sở? Tại sao người ấy không ban phước lành đến cho con họ? Tại sao những xảo quyệt giả dối mê lầm vẫn tồn tại mãi mãi? Tại sao gian xảo càng ngày càng tăng tiến, còn chân lý và công bằng lại phải lu mờ? Ta xem thần Brahma như một người vô cùng bất công đối với kẻ bị sanh ra trong thế giới đầy dẫy nhơ bẩn, xấu xa này”. (Kinh Bhucidatta Jataka).

    Nếu bảo rằng mọi sự vật ở đời đều do một sức mạnh tiền định, chi phối tất cả, thì thử hỏi sức mạnh ấy là sức mạnh gì? Của ai? Có sáng suốt hay mù quáng? Nếu không giải đáp được những câu hỏi phụ thuộc ấy, mà cử quyết đoán như thế, thì thật là quá nông nổi.

    Còn nếu bảo rằng sự hiện hữu của cõi đời này, không do một nguyên nhân gì cả, thì thật là vô cùng phi lý! vì chúng ta hãy nhìn chung quanh ta, có một cái gì sanh ra mà không có nguyên nhân không?

    Riêng nói về sanh mạng con người, có hai quan niệm thông thường, trái ngược nhau:

    – Quan niệm chấp đoạn, cho rằng con người chỉ có một dời trong hiện tại, trong khoảng một trăm năm; đến khi nhắm mắt xuôi tay, thân thể tan ra tro bụi và kiến văn, tri giác cũng không còn gì hết. Chết là hết, là hoàn toàn mất hẳn.

    – Quan niệm chấp thường, cho rằng linh hồn bất tử? sau khi chết, thân thể tan rã, nhưng linh hồn thường còn mãi mãi, sẽ lên cõi Thiên đường đề thọ hưởng vĩnh viễn những sự an vui khoái lạc (nếu trong đời hiện tại ăn ở hiên lương) hay sẽ bị đoạ xuống địa ngục chịu khổ mãi mãi (nếu trong đời hiện tại làm nhiều điều tội lỗi).

    Nhân quả là một định luật, mới ngó thì rất giản dị, nhưng nếu càng đi sâu vào sự vật để nghiên cứu thì lại càng thấy phức tạp, khó khăn. Trong vũ trụ mọi sự vật không phải đơn thuần tách rời từng món, mà có liên quan mật thiết với nhau, xoắn lầy nhau, đan lấy nhau ảnh hưởng lẫn nhau, tương phản nhau, thừa tiếp nhau. Để nói đúng trạng thái chằng chịt giữa sự vật, đạo Phật thường dùng danh từ “Nhân duyên”, nghĩa là mọi sự, mọi vật có ra là nhờ duyên với nhau, nương vào nhau, hay tương phản nhau mà thành, chứ không có một cái nào đứng biệt lập được. Trong sự phức tạp của sự vật ấy, tìm ra được cái nhân chánh của quả, hay cái quả chính của nhân, không phải là việc dễ. Do đó mà nhiều người không quen suy nghĩ tìm tòi sâu xa, sanh ra nghi ngờ thuyết “Nhân quả”. Thí dụ: hạt lúa có thể làm nhân cho những chẹn lúa vàng là quả trong mùa gặt sau, nếu người ta đem gieo nó xuống đất; nhưng nó cũng có thể làm cho người ta no bụng, biến thành máu thành thịt trong cơ thể và thành phân bón cho cây cỏ, nếu chúng ta đem nấu nó để mà ăn. Như thế một nhân chính có thể thành ra quả này hay quả khác, nếu những nhân phụ khác nhau: muốn hạt lúa ở mùa này thành chẹn luá ở mùa sau, thì phải có đất, có nước, có ánh sáng, có không khí, có thời gian, có nhân công; muốn nó thành máu huyết thì phải nầu, phải ăn, phải có bộ máy tiêu hóa. Cho nên, khi nói nhân quả là tách riêng sự vật ra khỏi cái chung cùng toàn thể của vũ trụ, lấy một khía cạnh nào đó, đề dễ quan sát, nghiên cứu, chứ muốn nói cho đúng thì phải dùng hai chữ “Nhân Duyên”. Cũng như một nhà khoa học, khi muốn nghiên cứu một bộ phận nào trong cơ thể, khu biệt, cắt xén bộ phận ấy ra khỏi cơ thể, để nghiên cứu cho dễ, chứ thật ra bộ phận ấy không phái biệt lập, mà trái lại có liên quan mật thiết đến toàn cả cơ thể.

    Nếu ta muốn có quả cam thì ta phải ương hạt giống cam; nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trong cam mà lại thấy đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. Nói một cách khác nhân với quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi. Nếu nhân đổi ít thì quả cũng đổi ít, nếu nhân đổi nhiều thì quả cũng đổi nhiều.
    Quả còn tùy thuộc ở những duyên phụ, mà trong đạo Phật gọi là tãng thượng duyên hay trợ duyên. Thí dụ: Hạt lúa là nhân; đất, nước, không khí, ánh sáng, nhân công, là trợ duyên. Nếu trồng lúa mà thiếu nước thì hạt lúa bị lép. Khi chúng ta muốn có những trái cam thật to, chúng ta hãy ghép cái mụt cây cam vào gốc cây bưởi. Vậy cái kết quả tốt đẹp là những trái cam to lớn, nhiều nước ấy, không phải chỉ do cái mụt cam, mà còn do gốc bưởi nữa. Cho nên khi chúng ta muốn có cái kết quả như thế nào đó, thì phải hội cho đủ điểu kiện, nghĩa là cho đủ nhân duyên, thì kết quả mới được như ý ta mong muốn. Có nhiều người muốn được kết quả như thế này, nhưng lại không hội đủ nhân duyên như thế ấy, nên kết quả đã sai khác với ý mong muốn của mình, và do đó, họ đâm ra nghi ngờ sự đúng đắn của luật “Nhân quả”.

    Về phương diện tinh thần.- Những tư tường và hành vi trong quá khứ tạo cho ta những tánh tình tốt hay xấu, một nếp sống tinh thần trong hiện tại; tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tánh tình, nếp sống tinh thần trong hiện tại là quả. Tánh tình và nếp sồng này làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.
    Phương diện tinh thần này, hay nói theo danh từ nhà Phật, phương diện nội tâm, là phần quan trọng. Vậy chúng ta phải đặc biệt chú ý đến hành tướng của nó.

    a) Tham: Thấy tiền của người nổi lòng tham lam, sanh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân; bị chủ đánh đập hoặc chém giết, phải mang tàn tật, hay bị nhà chức trách bắt giam trong khám đường, chịu những điều tra tấn đau khố là quả.
    b) Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con phá hạị nhà cửa, chém giết người không gớm tay là nhân; khi hết giận, đau đớn nhìn thấy vợ con bịnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, luật pháp trừng trị phải chịu nhiều điều khổ cực, là quả.
    c) Si mê: Người say mê sắc dục, liễu ngõ hoa trường không còn biết sự hay dở, phải trái, đó là nhân. Làm cho gia đình lủng củng, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám, là quả.
    d) Nghi ngờ: Suốt đời cứ nghi ngờ việc này đến việc khác, ai nói gì cũng không tin, ai làm gì cũng không theo đó là nhân. Kết cuộc không làm nên được việc gì cả, đến khi lâm chung, buông xuôi hai bàn tay trắng, đó là quả.
    đ) Kiêu mạn: Tự cho mình là hơn cả, khinh bỉ mọi người, chà đạp nhân phẩm người chung quanh, là nhân; bị người ghét bỏ, xa lánh, sống một đời lẻ loi, cô độc là quả.
    e) Nghiện rượu trà: Chung nhau tiền bạc ăn nhậu cho thỏa thuê là nhân, đến lúc say sưa, chén bát ngổn ngang, ghế bàn nghiêng ngã, nhiều khi rầy rà chém giết nhau, làm nhiều điều tội lỗi, phải bị phạt vạ và tù tội là quả.
    g) Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người muốn hốt về mình, đắm đuối quanh năm suốt tháng theo con bài lá bạc, là nhân; đến lúc của hết, nhà tan, nợ nần vây kéo, thiếu trước hụt sau, là quả.

    Khi chúng ta đã biết rõ luật Nhân quả, nhưng nếu chúng ta không đem nó ra ứng dụng trong đời sống của chúng ta, thì sự hiểu biết ấy trở thành vô ích. Cho nên chúng ta đã hiểu rõ luật nhân quả thì phải cố gắng thật hành cho được bài học ấy trong mọi trường hợp. Nếu chúng ta biết đem luật nhân quả làm một phương châm hành động và suy luận, thì chúng ta sẽ thuộc lượm được rất nhiều lợi ích:
    Khi đã biết cuộc đời là do nghiệp nhân của chính mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở mình thì còn tin tưởng ở ai nữa? Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng quí báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt, vì những hành động tốt đẹp ấy, ho biết sẽ là những cái nhân quí báu đem lại những kết quả đẹp đẽ.

    Chúng ta đã thấy rõ những ích lợi do sự hiểu biết luật nhân quả đem lại cho mỗi chúng ta. Đến đây chúng tôi muốn dành riêng một đoạn, để nhấnn mạnh vào một điểm vô cùng quan trọng, mà nếu chúng ta biết triệt để khai thác trong khi áp dụng luật nhân quả, thì lợi ích sẽ vô cùng rộng lớn. Đó là trong mọi hành động của chúng ta, bao giờ cũng nên nghĩ đến quả, mà trồng nhân. Những người không nghĩ đến quả mà cứ gieo nhân bừa bãi, thì thế nào cũng gặt nhiều tai họa, gây tạo cho mình nbh điều phiền phức, có khi làm ung độc cả cuộc đời, cả sự sống. Chỉ có những người nông nỗi, liều lĩnh mới không nghĩ đến ngày mai, mới sống qua ngày. Chứ những người sáng suốt làm việc có kế hoạch khôn ngoan, thì bao giờ cũng nhắm cái đích, rồi mới đi tới, hình dung rõ ràng cái quả rồi mới trồng nhân.
    Câu chuyện sau đây có thể chứng minh một cách hùng hồn ý nghĩa nói trên:
    Xưa có một vị Hiền giả nêu ở giữa chợ một tấm bảng như sau:
    “Ai chịu trả một ngàn lượng vàng,
    Tôi sẽ bán cho một bài học”.
    Tấm bảng treo đã nhiều ngày mà không ai thèm hỏi đến. Một hôm, một vị vua, nhân đi dạo chơi ngang qua chợ, trông thấy, động tánh hiếu kỳ, mới đến chỗ Hiền giả, lấy một ngàn lượng vàng, hỏi mua bài học ấy.
    Sau khi nhận đủ số vàng, nhà Hiền triết đưa bài học ra. Bài học vỏn vẹn chỉ có một câu giản dị như sau:
    “Phàm làm việc gì, trước phải xét kết quả của nó về sau”.
    Các quan tùy tùng thấy vậy, xầm xì với nhau: “Nhà vua bị gạt! Một câu nói như thế, có hay ho gì đâu mà phải mua đến một ngàn lượng vàng?”
    Trong lúc đó, nhà vua cũng phân vân, không hiểu bài học giản dị ấy, tại sao lại đắt giá đến thế?
    Khi về cung, nhà vua cứ suy nghĩ mãi về câu nói ấy. Trong lúc ấy như mọi đêm khác, trong cung đều có mở yến tiệc linh đình, cung phi mỹ nữ ca hát suốt đêm, để nhà vua mặc tình vui chơi với tửu sắc. Nhưng hôm nay, vì bị bài học của nhà Hiền triết ám ảnh, bắt vua suy nghĩ:
    “Nếu ta say mê tửu sắc mãi như thế này, thì kết quả sẽ ra sao? Thân thể sẽ suy nhược tinh thần tiều tụy và mau chết, việc triều đình phế bỏ, rồi sẽ đi đến chỗ mất nước, dân chúng trở thành nô lệ cho ngoại bang, đời đời nhục nhã và khổ đau! …”
    Nhận thấy rõ cái kết quả xấu xa nghuy hiểm của tửu sắc như thế, vua liền truyền lịnh dẹp ngay yến tiệc, ca hát, và bd từ đó vua lo chỉnh đốn lại nước nhà, sửa sang binh bị …
    Hai năm sau, một nước láng giềng đem binh đến cướp nước, nhà vua nhờ sớm giác ngộ, lo xây dựng cho nước được hùng cường, nên đã đuổi lưi được quân giặc. Bấy giờ nhà vua mới tự bảo:
    “Bài học của nhà Hiền triết quý giá lắm! Một ngàn lượng vàng còn rẻ”.
    Nhà vua bèn ra lịnh chép bài học ấy, dán khắp tất cả mọi nơi, cho đến mâm cơm, chén nước cũng truyền khắc vào.
    Một hôm có người trong hoàng thân muốn tiếm đoạt ngôi vua, nên thuê quan Ngự y một số tiền lớn để thừa lúc vua đau, tráo dâng thuốc độc. Lãnh tiền xong, quan Ngự y sau khi chế thuốc độc xong, lén rót vào chén, định dâng lên vua uống, nhưng khi nhìn thấy mấy chữ khắc trong chén:
    “Phàm làm việc gì, trước phải xét kết quả của nó về sau”.
    Quan Ngự y sực tỉnh và suy nghĩ: “Tội thí vua này, nếu bị phát giác ra, sẽ bị tru di tam tộc, chứ không phải tầm thường”. Quan Ngự y sau khi xét kết quả việc làm của mình gớm ghê như thế, nên đã đổ chén thuốc và thú tội với nhà vua. Nhà vua thấy quan Ngự y đã biết ăn năn hối cải như thế, nên rộng lòng ân xá và còn ban cho một số tiền bạc to tát nữa. Nhờ bài học này, nước nhà khỏi mất, dân tộc khỏi làm nô lệ cho ngoại bang, nhà vua khỏi chết, nên vua cho bài học này là vật báu vô giá.

  2. thomastanda says:

    Luân hồi
    Có thể nói một cách chắc chắn rằng, chúng ta lúc sinh tiền tạo nhân gì, thì khi chết rồi, nghiệp lực dắt dẫn tinh thần đến chỗ đó thọ quả báo không sai. Nếu tạo nhân tốt, thì luân hồi đến cảnh giới giàu sang, thân người tốt đẹp. Còn tạo nhân tội ác thì luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân hình xấu xa, đen đúa, hoặc tàn tật, khi thăng khi giáng, lúc bỗng lúc trầm …

    NHÂN QUẢ LUÂN HỒI TRONG SÁU CÕI PHÀM

    1.- Địa ngục: Tạo nhân sân hận, độc ác làm nhiều điều tội lỗi vừa hại mình vừa hại người, phải luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ sở.

    2.- Ngạ quỉ: Tạo nhơn tham lam, bỏn xẻn, không biết bố thí giúp đỡ người. Trái lại, còn mưu sâu kế độc, để cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỉ.

    3.- Súc sinh: Tạo nhân si mê, sa đọa, theo thất tình lục dục, tửu, tài, sắc, khí, không xét hay dở, tốt xấu, chết trồi luân hồi làm súc sinh.

    4.- A tu la: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sái quấy cũng không tránh, vừa cang trực, mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tánh tình hung hăng nóng nảy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A tu la, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.

    5.- Loài người:

    a) Biết giữ gìn lòng nhân từ, không sát nhân hại vật, không làm những điều đau khổ cho người.

    b) Không tham lam trộm cướp tiền của, từ vật lớn như ngọc, ngà, châu báu đến vật nhỏ như cây kim, sợi chỉ.

    c) Không trêu hoa ghẹo nguyệt, dâm loạn vợ con, phá hoại gia cang của người.

    d) Không nói lời dối trá, xảo quyệt, thêm bớt, đâm thọc, không nói lời cộc cằn, thô tục.

    đ) Không rượu trà say sưa, không làm những điều lầm lỗi. Tu nhân ngũ giới như vậy, đời sau sẽ luân hồi trở lại làm người, cao quý hơn muôn vật.

    6.- Cõi trời: Bỏ 10 điều ác: không sát sinh, hại vật, không trộm cướp, tà dâm, không nói lời đâm thọc, hung ác, dối trá, thêu dệt, không tham dục, giận hờn và si mê. Trái lại, còn làm 10 điều lành là: phóng sinh, bố thí, giữ hạnh trinh tiết, nói lời chắc chắn, đúng lý và nhu hòa, trau giồi đức hỷ xả, từ bi và trí huệ. Tu nhơn thập thiện như vậy, thì sau khi chết được sanh lên cõi trời, nhưng nên nhớ cõi trời này cũng còn ở trong vòng phàm tục, chịu cảnh sinh tử Luân hồi.

    Muốn thoát ra ngoài cảnh sinh tử luân hồi và đến bốn cõi thánh thì phải tu nhân giải thoát.

    Tại Ấn Độ, ở thành Delhi, có một cô gái 8 tuổi tên Phanti Devi. Cô đã nhiều lần khóc lóc với cha mẹ đòi về thành Mita thăm chồng là một giáo viên. Thành Delhi các thành Mita trên 200km. Cha mẹ cô gái lấy làm lạ mời một phóng viên nhà báo đến để nhờ anh điều ra giùm.

    Phóng viên nhà báo đến hỏi, thì được cô cho trả lời rằng: cô là vợ của một giáo viên, ăn ở với nhau sanh được một đứa con. Khi đứa con lên 11 tuổi thì cô lâm bịnh từ trần. Người phóng viên hỏi xem cô ta có gì làm bằng chứng không? Cô trả lời là cô có để lại vàng bạc cà đồ đạc chôn ở chỗ nọ chỗ kia … và cô còn nhớ rõ có một cái quạt do người chị em bạng tặng, trên quạt có ghi lại mấy dòng chữ, rồi cô đọc mấy dòng chữ ấy cho phóng viên chép vào sổ tay.

    Phóng viên liền đến thành Mita, tìm hỏi tên họ ông giáo viên, thì thật quả không sai. Phóng viên hỏi ông giáo:

    – Ông có người vợ đã chết độ 8, 9 năm nay phải không?

    Ông giáo trả lời:

    – Vâng, có! Vợ tôi chết nay đã chín năm. Chẳng biết ông hỏi có việc chi?

    Phóng viên trình bày những lời cô bé đã nói.

    Ông giáo nghe đều cho là đúng cả.

    Phóng viên lại lấy quyển sổ tay đưa mấy dòng chữ cho ông giáo đọc và hỏi:

    – Khi vợ ông mất, có để lại một cây quạt, trên ấy có ghi mấy dòng chữ như thế này có phải không?

    Ông giáo trả lời:

    – Trúng y như vậy cả.

    Qua ngày sau, phóng viên lại mời cha mẹ và cô Phanti Devi cùng đi xe tới thành Mita. Từ khi sanh ra đến 8 tuổi, cô chưa từng đi xa, thế mà đường đi trong thành Mitha cô đều thuộc cả, cô chỉ đường này là đường gì, đi về đâu, đường kia tên gì, đi về đâu, và còn nói trúng cả tên những nhà quen ở hai bên đường nữa. Gần đến nhà ông Giáo, cô bảo đi xe chậm lại và dừng ngay trước nhà ông Giáo.

    Vào đến nhà, gặp một ông già độ 80 tuổi, đầu tóc bạc phơ, cô vừa mừng vừa khóc òa mà nói rằng:

    – Đây là cha chồng của tôi.

    Cô chỉ ông giáo mà nói:

    – Kia là chồng tôi.

    Rồi cô chạy lại ôm đứa con 11 tuổi khóc và nói:

    – Đây là con tôi!

    Mọi người trông thấy, ai cũng đều cảm động.

    Việc này làm sôi nổi cả dư luận Ấn Độ và các báo trên thế giới, đều bàn tán xôn xao … Các nhà bác học ra sức tìm tòi, nghiên cứu, nhưng không một ai giải thích được. Chúng ta đã rõ biết lý luân hồi, thì việc này cũng chẳng lấy làm lạ.

    Ở Cà Mau, cách đây vào khoảng 30 năm, có một câu chuyện lạ lùng đã làm dư luận bàn tán xôn xao:

    Ông Cả Hiếu, ở làng Tân Việt, xứ Đầm Giơi (Cà Mau) cũng có một cô con gái mới 19 tuổi, lâm bệnh rồi chết. Cách đó độ 100 km, ông Hương Thừa ở làng Vĩnh Mỹ Bạc Liêu, cũng có cô con gái đau rồi chết, nhưng lại sống lại. Khi sống lại, cô này nhìn không biết cha mẹ và nói những chuyện đâu đâu không ai hiểu gì cả, cha mẹ cô tưởng rằng vì cô đau nên lãng trí nói bậy, nhưng khi cô lành mạnh hẳn, cô lại khóc lóc, một hai đòi về nhà ông Cả Hiếu và chỉ luôn nơi ở, làng tổng rõ ràng nữa.

    Cha mẹ cô cho người đến tìm ông Cả Hiếu và thuật câu chuyện cho vợ chồng ông này nghe. Vợ chồng ông Cả và con cái trong nhà, nghe xong đều đi đến xem thật hư như thế nào.

    Khi mọi người đến nơi, cô gái chạy ngay đến ôm ông Cả, bà Cả khóc kể … Rồi cô thuật những việc đã xảy ra trong nhà ông Cả không sai một mảy. Vợ chồng ông Cả tuy thấy xác cô gái này không phải con mình, nhưng về tinh thần lại chính là con họ, nên đều thương yêu và công nhận là con. Về sau, cô hưởng được hai phần gia tài của cả hai bên cha mẹ.

    Những câu chuyện tương tợ như những bằng chứng đã kể ở đoạn trước nhiều không thể kể xiết.

    Ngoài ra còn bao nhiêu vị thần đồng, những cậu bé có thiên tài xuất chúng ở rải rác trong thế giới và trong lịch sử mà chúng ta thường nghe nói đến như: Ông Pascal, một Triết gia và một nhà Toán học Pháp, mới 7 tuổi mà đã thông thạo phương pháp kỷ hà học, ông Mạc Đỉnh Chi 12 tuổi đậu Trạng Nguyên, nhạc sĩ Mozart mới 7 tuổi đã biết đặt những bản nhạc hòa âm, ông Christian Heinecken vài giờ sau khi ra đời đã nói chuyện được, khi lên 1 tuổi đã học thuộc lòng vài đoạn kinh Thánh giáo trong cuốn thánh kinh, lên 2 tuổi đã trả lời tất cả những câu hỏi về địa dư, lên ba tuổi đã nói được tiếng Pháp, tiếng La tin, lên 4 tuổi đã có thể theo học các lớp triết học. Ông Stuart Mill lên ba đã học chữ Hy Lạp; Ông William James Sidis lên hai đã đọc và viết chữ mẹ đẻ (Hoa Kỳ), lên tám đã nói được tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Đức và một ít tiếng Latin, Hy Lạp. Cậu bé Silvanorigoll ở Ý, mới 3 tuỗi đã làm nhạc sư và điều khiển một giàn nhạc, chưa biết đọc và viết nhưng lại chép bản nhạc rất tài tình, đánh dương cầm và phong cầm không thua gì những nhạc sĩ hữu danh.

    Những bằng chứng rõ ràng trên không ai có thể chối cãi được, nhưng cũng không ai có thể giải đáp được lý do đâu có hiện tượng lạ lùng như thế, nếu không tin có nhân quả luân hồi. Các nhà khoa học cố gắng giải thích là tại những hạch tuyến trong người các thiên tài ấy phát triển một cách nhanh chóng khác thường, nhưng tại sao hạch tuyến chỉ phát triển trong một số người ấy mà thôi? Có người giải thích là do di truyền, nhưng lời giải thích nào cũng không làm cho người ta thỏa mãn, vì ông cha những thần đồng ấy cũng không có gì xuất sắc hơn những người khác, Vả lại, con cháu các vị thần đồng ấy về sau cũng không thừa hưởng được gì của ông cha cả.

    Chỉ còn một lối giải thích duy nhất có thể đứng vững được là: nghiệp nhân của nhiều đời kiếp trước đã phát triển thành quả trong đời hiện tại.

    Người đời nay giàu có là trước tạo nhân giàu có, nhưng họ chỉ tạo nhân giàu có mà không tạo các nhân khác như trường thọ, trí tuệ v.v… nên đời nay họ chỉ giàu mà thôi, chứ không sống lâu, không thông minh v.v… Trái lại, có người kiếp trước chỉ tạo nhơn trường thọ, trí tuệ mà không tạo nhân giàu có, nên kiếp này được hưởng quả trường thọ và trí tuệ mà không hưởng được quả giàu có. Nhân nào mình có tạo mới có quả ấy, còn nhân nào mình không tạo thì làm sao có quả được? Nên trong kinh nhân quả có nói: Nhân quả báo ứng như ảnh tùy hình” (nhân quả trả nhau, như bóng theo hình. Hình ngay thì bóng thẳng, hình vạy thì bóng cong).

  3. thomastanda says:

    Nghiệp chướng

    đâu là nguyên nhân, là nguồn gốc của sự bất công giữa chúng sinh? Tại sao có kẻ chết yểu, có người sống lâu, có kẻ khỏe mạnh, có người tàn tật, có người đẹp đẽ, có kẻ cô độc, có người đông con, có kẻ nghèo khó, có người giàu sang, có kẻ sanh trong gia đình đê tiện, có người sanh trong dòng dõi quí phái, có kẻ ngu muội, có người khôn ngoan?

    Chữ nghiệp là do dịch nghĩa chữ Kamma trong tiếng Pali ra. Dịch âm là Kiết ma. Nghiệp nghĩa là hành động, việc làm của thân, khẩu, ý. Khi chúng ta nghĩ một điều gì, nói một câu gì, làm một việc gì, lành hay dữ, xấu hay tốt, nhỏ nhặt hay to lớn, mà có ý thức, đều gọi là nghiệp. Những việc làm vô ý thức không phải là nghiệp. Đức Phật dạy: “Này các thầy Tỳ kheo, Như Lai nói rằng tác ý là nghiệp”. Tác ý bắt nguồn sâu xa trong vô minh và ái dục, còn vô minh, còn ái dục, còn ham muốn, thì mọi hành động, lời nói, tư tưởng đều là nghiệp.

    “ Do nơi sự khác nhau trong nghiệp mà có những sự khác nhau trong chúng sinh, kẻ sanh ra trong gia đình quyền quý, người sanh ra trong gia đình đê tiện, kẻ sanh ra trong sự nguyền rủa, người sanh ra trong sự tôn trọng, kẻ sanh ra được hưởng hp, người sanh ra phải chịu khổ sở”.

    Đứng về phương diện thời gian, kinh “Nhân quả” có chia các nghiệp như sau:

    1. Thuận hiện nghiệp: Đời nay tạo nghiệp, đời sau thọ quả.

    2. Thuận sinh nghiệp: Đời nay tạo nghiệp, đời sau chịu quả.

    3. Thuận hậu nghiệp: Đời nay tạo nghiệp, cách mấy đời sau mới chịu quả.

    4. Thuận bát định nghiệp: Nghiệp quả xảy đến không nhất định thời nào, có khi trong đời này, có khi đời sau, có khi nhiều đời sau.

    Đứng về phương tiện tính chất, trong các kinh thường phân loại các nghiệp như sau:

    i. Tích lũy nghiệp: Là những nghiệp tạo tác trong nhiều đời trước chất chứa lại.

    ii. Tập quán nghiệp: Là những nghiệp tạo trong đời hiện tại, luôn luôn tiếp diễn, nên thành thói quen, thành tập quán, thành nếp sống riêng biệt.

    iii. Cực trọng nghiệp: Là những nghiệp quan trọng có năng lực tác động mãnh liệt hơn cả các nghiệp khác và chi phối tất cả. Nó phát hiện nghiệp quả ngay trong đời hiện tại, hay trong đời kế tiếp. Nó có thể là kết quả của những hành vi tốt đẹp nhất như hành vi của kẻ tu hành chân chính, nó cũng có thể là kết quả của những hành vi xấu xa, vô đạo nhất như tội ngũ nghịch: giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm hại Phật và chia rẽ Tăng chúng.

    iv. Cận tử nghiệp: Là những nghiệp lực gần lúc lâm chung, cũng rất mãnh liệt và chi phối rất nhiều trong sự đi đầu thai.

    a. Việc nặng mà ý nhẹ: như khi quăng đá để dọa người, mà lỡ tay giết phải người.

    b. Việc nhẹ mà ý nặng: như khi thấy một tượng đá, tưởng là kẻ thù của mình, nắm dao đến đâm, kết quả của việc làm vì tượng đá bị sứt mẻ, nhưng ý thì nặng là muốn giết người.

    c. Việc và ý đều nhẹ: như vì không thích một người nào, nên dùng lời để châm biếm người ấy.

    d. Việc và ý đều nặng: như vì thù, cố ý giết người và đã giết thật.

    Cũng trong kinh Ưu bà tắc, có sự phân chia tội báo nặng nhẹ thành tám loại như sau:

    a) Phương tiện nặng nhưng căn bản và thành dĩ nhẹ: như lấy dao dọa người, chẳng may động đến họ, họ bị thương. Phương tiện (cầm dao) thì nặng, nhưng căn bản (dọa người, chứ không phải ác ý) thì nhẹ và thành dĩ (bị thương) cũng nhẹ.

    b) Căn bản nặng, nhưng phương tiện và thành dĩ nhẹ: như muốn giết người, nhưng chỉ lấy đá ném và vì thế, họ chỉ bị thương thôi. Căn bản (muốn giết) thì nặng, nhưng phương tiện (lấy đá ném) và thành dĩ (vết thương) đều nhẹ.

    c) Thành dĩ nặng, nhưng căn bản và phương tiện nhẹ: như ném đá chơi, chẳng may vỡ sọ người ta. Thành dĩ (vỡ sọ) nặng mà căn bản (chơi) và phương tiện (ném đá) đều nhẹ.

    d) Phương tiện và căn bản nặn, thành dĩ nhẹ: như muốn giết người, chém một nhát mạnh vào yết hầu, nhưng người ấy chỉ bị thương xoàng thôi. Phương tiện (cầm dao chém) và căn bản (muốn giết người) đều nặng, nhưng thành dĩ (vết thương xoàng) nhẹ.

    e) Phương tiện và thành dĩ nặng, căn bản nhẹ: như vô ý để xe cán người chết. Phương tiện (xe cán) và thành dĩ (người chết) đều nặng, nhưng căn bản (vô ý) thì nhẹ.

    f) Căn bản và thành dĩ nặng, nhưng phương tiện nhẹ: như ác ý nói láo, đến nỗi kẻ kia phải bị tù tội. Căn bản (ác ý) và thành dĩ (tù tội) đều nặng, nhưng phương tiện (nói láo) thì nhẹ.

    g) Căn bản, thành dĩ và phương tiện đều nặng: Muốn giết người và đã dùng dao chém người đến chết. Căn bản (muốn giết người) thành dĩ (người chết) và phương tiện (chém) đều nặng.

    h) Căn bản, thành dĩ và phương tiện đều nhẹ: như giả giết bằng cách quơ dao làm người kia sợ trong chốc lát. Căn bản (giả giết) thành dĩ (làm sợ hãi) và phát triển (quơ dao) đều nhẹ.

    Y báo có thể sáng sủa hay tối tăm, an vui hay buồn thảm, thanh tịnh hay ô uế … tùy sự lựa chọn thích hợp của nghiệp quá khứ. Như luồng điện phát ra ở đài phát thanh ngắn hay dài, bao nhiêu thước tấc thì nó sẽ tìm máy thu thanh vặn đúng thước tấc ấy để vào. Chỉ có khác là luồng điện có thể vào một lúc nhiều máu thu thanh, còn nghiệp lực thì chỉ đi dầu thai ở một nơi mà thôi.

    Người đời nay giàu có là trước tạo nhân giàu có, nhưng họ chỉ tạo nhân giàu có mà không tạo các nhân khác như trường thọ, trí tuệ v.v… nên đời nay họ chỉ giàu mà thôi, chứ không sống lâu, không thông minh v.v… Trái lại, có người kiếp trước chỉ tạo nhơn trường thọ, trí tuệ mà không tạo nhân giàu có, nên kiếp này được hưởng quả trường thọ và trí tuệ mà không hưởng được quả giàu có. Nhân nào mình có tạo mới có quả ấy, còn nhân nào mình không tạo thì làm sao có quả được? Nên trong kinh nhân quả có nói: Nhân quả báo ứng như ảnh tùy hình” (nhân quả trả nhau, như bóng theo hình. Hình ngay thì bóng thẳng, hình vạy thì bóng cong).

  4. thomastanda says:

    Trong cõi mung lung, vô cùng vô tận của trời đất, con người thật bé nhỏ, như một hòn sỏi, như một hạt cát; trong cái vĩnh viễn không đầu không cuối của thời gian, con người xuất hiện và mất đi nhanh như ánh sáng chợt đỏ, chợt tắt của con đôm đốm, như ánh sáng của một làn chớp. Nhưng khổ thay, con người bé nhỏ và chóng tan biên ấy lại mang trong đầu óc những câu hỏi quá to lớn: “Ta từ đâu đến đây? Ta đến đây để làm gì? Đến đây rồi ta sẽ chấm dứt cuộc hành trình sau hơi thở cuối cùng ở đây, hay còn tiếp tục đi nữa? Đi đâu? Đi hay về? Đi theo một con đường thẳng hay đường cong? Đi xuống hay đi lên?” Quá khứ đã không hay; tương lai cũng sẽ không biết, còn hiện tại thì quá ngắn ngủi phù du!

    Và than ôi! ngay trong cái hiện tại ngắn ngủi ấy, cũng đã chứa đựng không biết bao nhiêu sự bất công, vô lý:

    -“Tại sao người ấy đẹp mà ta xấu? người kia giàu mà ta nghèo? người ấy sướng mà ta khổ? Tại sao có người chết yểu, có người sống lâu? có người thông minh có người ngu muội? có người hiển lương, có kẻ ác độc?

    -“Tại sao và tại sao!” Bao nhiêu câu hỏi xoay tít trong đầu, như những cái chong chóng, gầm thét kêu gào, đòi hỏi, làm cho người ta điên đầu, lộn não. Để chấm dứt sự hoành hành của những câu hỏi ấy, có người đã tìm cách chấm dứt đời mình với thuộc độc; có người lẫn tránh trong thuốc phiện, trong rượu nồng dê béo, trong sóng mắt làn môi …

    http://www.nhipcaugiaoly.com/post?id=775

    TỪ TÍN NGƯỠNG & TÔN GIÁO ĐẾN VĂN HÓA – Nhịp Cầu Giáo Lý
    http://www.nhipcaugiaoly.com
    Tín ngưỡng và tôn giáo là những đề tài phong phú xưa nay đã thu hút rất nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, triết gia tham khảo, bàn luận trên nhiều khía cạnh, khen có, chê có, bài bác có, tán đồng có. Nhưng các khảo cứu đều nhìn nhận từ khi có loài người, tín ngưỡng đã xuất hiện. Rồi từ tín ngưỡng…

    http://tuvien.com/triet_hoc/show.php?get=1&id=65hieudaophat

    Triết Học Phật Giáo – Tu Viện Phật Giáo Việt Nam – TUVIEN.com
    tuvien.com
    Website TUVIEN.com là cổng thông tin Phật Giáo Việt Nam, là kho tư liệu Phật Giáo lớn nhất nước từ trước đến nay.

    http://www.vn-zoom.com/f362/bang-so-sanh-hoi-giao-do-thai-giao-va-kito-giao-1768121.html

    Bảng So Sánh Hồi Giáo , Do Thái Giáo , và Kitô giáo
    http://www.vn-zoom.com
    Mỗi tôn giáo có điểm hay riêng , có ưu và nhược riêng , không có gì là hoàn hảo cả , ngay cả tôn giáo cũng vậy Có người thích Hồi Giáo, vì họ thích cầu.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Kitô_giáo

    Kitô giáo – Wikipedia tiếng Việt
    vi.wikipedia.org
    Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán-Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham[1][2][3][4], Abraham là tổ phụ của dân Do Thái và dân Ả Rập (hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáo và Hồi giáo), đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại củ…

    Trong mỗi tôn giáo thường thì có 50% là tín ngưỡng và 50% là triết. Tâm thức là phần cao nhất của con người thể hiện qua Ý Thức hay mô tả bằng triết. Khoa học giải thích được bề nổi của vạn vận, nhiều hiện thì logics qua triết học và tôn giáo!

    « Than ôi! Tôn giáo là gì? Phải chăng Tôn giáo là phương hướng giáo thuyết để dạy đời nhìn thấy những gì thiêng liêng cao cả. Chẳng những chỉ ở phần tâm linh tối thượng mà Tôn giáo còn dạy người đời xem nhau như tình ruột thịt huynh đệ đại đồng. Tuy khác ở màu da sắc tóc, nhưng cũng đồng thọ bẩm đức háo sanh dưỡng dục an bài của luật đương nhiên Tạo hóa.
    Tôn giáo dạy người phải lấy tình thương yêu hòa ái từ xã hội nhỏ, như gia đình, phu thê, phụ tử, đệ huynh, bằng hữu, đến một xã hội bậc trung là đoàn thể quốc gia dân tộc và chí đến nữa là đại xã hội nhân loại đại đồng. Xã hội nhỏ có thương yêu hòa ái thì gia đình được hạnh phúc, phụ từ tử hiếu, huynh hữu đệ cung.
    Một xã hội bậc trung có thương yêu hòa ái thì đoàn thể được phát triển nảy nở mau lẹ trong sự dìu dắt giáo dục bảo vệ cho nhau. Một quốc gia toàn thể dân trong nước đó, từ vua quan cho đến lê thứ dân giả cùng đinh mà biết thương yêu hòa ái thì quốc gia đó được thạnh trị, dân đó được phú túc sung mãn hùng cường.
    Nếu một xã hội nhân loại đại đồng biết thương yêu hòa ái nhau thì đại xã hội đó là một Thiên-Đàng Cực-Lạc tại thế gian.”Đức Vạn Hạnh Thiền Sư”.

    Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:” Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. “

    “Văn hóa có ý nghĩa là văn minh và giáo hóa, phản ảnh những lề lối, tổ chức sinh hoạt của một quốc gia dân tộc trong sự phát triển tinh thần, đạo đức, nghệ thuật sống trong những hài hòa chung giữa con người và xã hội, những điều này hoàn toàn phù hợp với chức năng của tôn giáo, vì thế văn hóa chính là nền tảng thực thi của tôn giáo hướng đến chân trời văn minh nhân bản.” (Phạm Thiên Thơ, sđd).

    “Tôn giáo là sản phẩm tinh thần của xã hội dân tộc. Tôn giáo có ảnh hưởng một phần rất to tát trong xã hội nhơn loại. Nó tế nhị mà bao la, trầm lặng mà mạnh mẽ. Có thể đưa dân tộc từ chỗ đồi trụy trở về cuộc sống thanh cao. Bản chất của tôn giáo là đạo đức. Hình thức của nó là ngôn từ, chương cú, giáo dục . . .”

    « Tôn giáo không phải là một sự kiện tự nhiên, một đặc tính sinh lý, hay là một nhu cầu sinh lý (tâm lý ? NV) của cá nhân. Thực tại tôn giáo không phải là một số đồ vật có chiều dài vắn, có bề nặng nhẹ, mà khoa học tự nhiên có thể đo lường. Đó là một sự kiện văn hóa, và có lẽ là một sự kiện văn hóa phổ biến và lâu dài bền bĩ nhất trong lịch sử nhân loại. »

    http://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/viet-nam/thuong-ngoan-kien-truc-toa-thanh-tay-ninh-2864092.html

    Thưởng ngoạn kiến trúc tòa thánh Tây Ninh – VnExpress Du lịch
    dulich.vnexpress.net
    12h trưa là thời gian thăm quan lý tưởng cho khách đến với tòa thánh nổi tiếng trong địa phận tỉnh Tây Ninh, cách TP HCM khoảng 100 km.

  5. Van hoa dan toc says:

    Xung đột toàn cầu!
    XUNG ĐỘT BẢN CHẤT LÀ HƯ HỎNG CÁC TƯƠNG TÁC DO CON NGƯỜI GÂY RA !

    Xem tin nguồn: http://ttxva.org/nhan-loai-va-xung-dot/#ixzz2dgan8q5U
    Follow us: thongtanxavanganh on Facebook
    Không nghi ngờ gì : trí tuệ của Nhân loại tích lũy suốt hơn chục ngàn năm từ thời Cổ đại cho đến nay là vô cùng to lớn, trải dài theo các lưu vực sông Nile, sông Hằng, Amazon, Mekong, sống Đông…làm nên các nền văn minh châu thổ…rồi gặp nhau, lan tỏa ở Năm châu Bốn Bể… Rồi văn minh thương mại, văn minh công nghiệp, văn minh tin học viễn thông, đều quy mô toàn cầu…. Những kỳ tích thám hiểm vượt ngoài vành đai của Thiên Hà, cho đến mô tả chi tiết về bản đồ Gene con người….
    Trải dài những năm tháng lịch sử tiến hóa…Nhân Loại đã tự nghiên cứu về bản thân mình đến tận cùng…triết học và khoa học, văn nghệ và thẩm mĩ, văn học và thơ ca, âm nhạc và hội họa…có thể nói đã đến mức tột đỉnh…. Thật khổng lồ và quý hóa không kể xiết… Tôi rất thấm thía và phát triển câu nói của Kant ( nhà triết học vĩ đại Đức ) : trí tuệ Nhân Loại có thể đi đến khả năng lý giải mọi chuyện, với khát vọng hiểu biết mãnh liệt không bao giờ nguội tắt và dường như vô tận…thì khả năng của Nhân Loại lại ngày càng bị suy yếu đi vì những gì con người tạo ra từ tí tuệ đó, theo nghĩa Nhân Loại thích ‘chinh phục’ hơn là an bằng hòa hợp…
    Nhưng cùng với quá trình như vậy vấn đề muôn thưở của Nhân Loại là xung đột ! Không hề giảm đi mà dường như không bao giờ có thể chấm dứt …! Xung đột giữa các Dân tộc, Quốc gia, giữa các khu vực, giữa các họ mạc, giữa quan hệ của từng con người…. xung đột sắc tộc, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị…..bởi vậy thay vì trong ‘Thế giới phẳng’, không gian kinh tế mở toàn Cầu…. do Nhân Loại nỗ lực tạo ra ở Thế kỷ 21 thì Thế giới ngày nay được dựng và mọc lên vô vàn các ‘hàng rào’ vừa là nguyên nhân, vừa là tiềm năng của những xung đột mới, phức tạp và bất tận….cũng do Nhân Loại tiếp tục sản sinh và gây nên trùng trùng điệp điệp…. Kant đã tiên lượng đúng về Nhân Loại !
    Nhưng đâu là giới hạn và giải pháp của điều này ? Nhân Loại vĩ đại có tìm ra và thực thi cho được hay không ? Đã có vô vàn các ‘nhà thông thái’ trả lời là ‘không !’ và đó là cách giải thích về sự ra đời, cũng như tính hữu ích của Tôn Giáo !
    Những xung đột từ đâu ? Có muôn vàn chi tiết, nhưng tôi tựu lại trong mấy nhóm vấn đề sau :
    – Lý thuyết sinh tồn của Con người là ‘dựa trên sức mạnh’
    – Tính không đồng nhất và đồng đều về các vùng tài nguyên ngày càng khan hiếm
    – Sự phân hóa và phân cực về kinh tế – xã hội trong quá trình phát triển của Nhân Loại
    – Những khác biệt và mâu thuẫn trong quá khứ, lại bị thổi quá đà bởi chính trị vị kỷ
    – Các hàng rào khác biệt về tín ngưỡng, văn hóa và khả năng tiếp cận văn minh của mỗi Dân tộc
    – Cách quan niệm quản trị và khoảng cách thực thi pháp luật của các Chính phủ
    …….

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s