Tôn giáo và văn hoá

Ngay trong nhân học tôn giáo, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm tôn giáo từ nhiều góc độ khác nhau. Những người theo trường phái chức năng quan tâm đến vai trò của tôn giáo trong văn hóa – xã hội(4). Tôn giáo gắn kết xã hội bằng cách kết nối các thành viên lại vói nhau trong nghi lễ và lễ hội cộng đồng. Tôn giáo tác động lên các cá nhân làm giảm bớt đi nỗi lo lắng, tính không chắc chắn bằng cách cung cấp những lời giải thích và ý nghĩa cuộc sống. Ví dụ, tôn giáo cung cấp những giải thích về việc con người đối đầu với những vấn đề khó khăn, rủi ro, bất trắc, hoạn nạn. Hay tôn giáo giải thích về những sự kiện như điều gì xảy ra sau khi chết, tại sao lại có những phép lạ, tại sao lại có những trải nghiệm khác thường. Tôn giáo không chỉ cung cấp những giải thích từ góc độ tâm linh, tình cảm đơn giản, mà tôn giáo còn góp phần an ủi giúp cho con người đối đầu với cái chết hay những điều rủi ro khác. Tôn giáo còn là hệ thống đạo đức, ban thưởng, trừng phạt, quở trách của thánh thần đối với những ai vi phạm điều cấm, vi phạm cái thiêng.
http://younganthropologists.com/2013/12/khai-niem-ton-giao-tu-goc-do-nhan-hoc-van-hoa-2/
Posted in Management consulting | 1 Comment

TINH VA TIEN trong đạo cuộc đời

TÌNH VÀ TIỀN…

Tình và tiền – Hai thứ quá quan trọng mà bất cứ một ai đều biết sự quan trọng của 2 khái niệm này, vai trò của nó trong cuộc sống hiện nay. Dẫu bạn buồn hay vui, hạnh phúc hay đau khổ thì bạn vẫn phải sống, thời gian không chờ một ai trong khi cuộc sống vẫn tiếp diễn. Và chúng ta không thể nào phủ định được vai trò của vật chất mang lại cho chúng ta trong cuộc sống hiện tại.

Tình và tiền – Hai thứ có vẻ như hoàn toàn không có mối liên hệ gì với nhau khi một thứ có giá trị vật chất, một thứ là giá trị tinh thần, tình yêu thương giữa con người và con người. Tình yêu là con người sống tốt hơn, trách nhiệm hơn, vui vẻ và yêu đời hơn. Tình yêu chính là món quà vô giá mà không gì có thể thay thế được. Và để có được tình yêu thì chúng ta phải nắm lấy, hoặc duyên phận sẽ giúp chúng ta chọn được tình yêu của mình. Tiền không mua được tình yêu cao thượng nhưng sẽ giúp bạn thoải mái hơn trong tình yêu.

Tiền không làm cuộc sống sống chúng ta hạnh phúc hơn, không mua được cho chúng ta tất cả mọi thứ, không mua được một người yêu đích thực nhưng nó sẽ giú mọi thứ trở nên đơn giản hơn, hạnh phúc dễ dàng hơn và cung cấp – Đảm bảo cho tình yêu được bền vững.

Tình không làm chúng ta thoải mái hơn trong vật chất, nhưng ai dám bảo rằng yêu nhau chỉ cần nhìn nhau là đủ, thời đại của câu chuyện cổ tích ”1 túp lều tranh 02 trái tim vàng” đã là chuyện không tưởng. Khi yêu hay không yêu người ta đều cần một khoản tiền nhất định để đảm bảo và duy trì cuộc sống vật chất trước mắt. Vật chất thoải mái mới làm tinh thần thoải mái hơn phần nào và tình yêu cũng dễ dàng hơn

Khi có tiền mọi chuyện sẽ nhanh hơn, đơn giản hơn. Trong tình yêu, tình cảm xuất phát từ 2 phía tất nhiên là quan trọng nhất, nhưng mọi thứ sẽ đơn giản hơn khi có TIỀN. Có tiền ta có thể thoải mái mua sắm cho người ấy những bộ cánh thật đẹp, những bộ trang sức đắt tiền, những chiếc đầm rực rỡ, những chiếc đồng hồ, xe hơi… Những món quà này sẽ giúp bạn nhanh chóng có được tấm lòng của người ấy hơn. Tất nhiên trong tình yêu niềm vui vẫn là được nhận quà, nhưng vui hơn vẫn là những món quà đắt tiền đúng sở thích.

Tất nhiên trong tình cảm thì tình yêu từ 2 người mới là quan trọng, nhưng tình yêu mà không cần tiền có lẽ hơi khó. Ở xã hội mà vật chất lên ngôi và bản chất con người ngày càng xa đọa theo tiếng gọi của đồng tiền, của quyền lực thì những ”tình yêu trong sáng” có lẽ chỉ là chuyện cổ tích. Cho nên thường người ta ta nói rằng tình yêu thời học sinh chính là tình yêu đẹp nhất, vô ưu vô tư, hồn nhiên trong sáng và cũng là tình yêu sâu đậm khó phai nhất của mọi người.

Có những tình yêu “đơn giản” rất đẹp, như một câu chuyện cổ tích. Bạn cùng người ấy có thể nhẹ nhàng bước đi trong công viên ngắm nhìn cuộc sống, tâm sự mọi chuyện gia đình và đời sống. Nhưng trong năm luôn có những ngày đặc biệt mà bạn bắt buộc phải thể hiện tình yêu của mình như ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, ngày lễ Tình Nhân 14/2, ngày sinh nhật, ngày kỉ niệm… Quá nhiều lý do để bạn và người ấy cùng nhau. Bạn phải tìm cách xoay sở chi phí và cảm giác sẽ không thoải mái chút nào, bạn sẽ mong ước mình có thật nhiều tiền mọi thứ sẽ đơn giản hơn và bạn và người ấy có thể thoải mái cùng nhau những ngày hạnh phúc.

Một ví dụ đơn giản cho sự giúp ích của tiền trong tình yêu: Bạn nghĩ ”người ấy” sẽ vui như thế nào khi bất ngờ nhận được món quà xinh xinh, một bó hoa thật đẹp vào một ngày bình thường nào đó. Lúc này đây hạnh phúc sẽ dâng lên vô số lần và niềm vui của người ấy sẽ xua tan mọi mệt mỏi của bạn. Nhưng đằng sau ấy, nhưng hoa hồng xinh đẹp kia là bạn phải bỏ tiền ra mua đấy.

Dẫu thành công hay thất bại, buồn hay vui thì không một ai có thể phủ nhận được giá trị của vật chất mang lại và không ai có thể thoát được sự liên quan dù nhiều hay là ít tới các vật chất hiện hữu trong cuộc sống.

Posted in Management consulting | Leave a comment

Thuong De

Một hôm vào sáng sớm khi Phật đi dạo buổi sáng, một người hỏi ông ấy, “Có Thượng đế không?”
Phật nhìn một chốc vào mắt người này và nói, “Không. Không có Thượng đế chút nào – chưa bao giờ đã có, không bao giờ sẽ có. Ông gạt bỏ mọi điều vô nghĩa này đi.”
Người này choáng.

Đến trưa cùng ngày đó một người tới và hỏi, “Có Thượng đế không?”
Phật nói, “Có, có chứ – bao giờ cũng có, bao giờ cũng sẽ có. Tìm và thấy đấy.”

Đến chiều tà, một người khác tới ngay khi mặt trời đang lặn. Và Phật đang ngồi bên ngoài dưới gốc cây, chỉ quan sát mặt trời lặn và mây đẹp, và người này hỏi, “Có Thượng đế không?”
Phật đơn giản vẫy tay, làm cử chỉ bảo người đó ngồi xuống, và bản thân Phật nhắm mắt lại. Người này làm theo. Họ ngồi trong im lặng vài khoảnh khắc, thế rồi người này đứng dậy. Trời đã tối, mặt trời đã lặn. Người này chạm chân Phật, nói, “Tôi rất biết ơn câu trả lời. Cám ơn thầy nhiều lắm,” và đi mất.

Bây giờ Ananda sôi cả người lên. Khi không còn ai ở đó, Ananda hỏi, “Tôi sẽ không thể ngủ được đêm nay chừng nào thầy chưa trả lời cho tôi. Trong một ngày, cùng câu hỏi – và thầy trả lời theo ba cách. Với người thứ nhất thầy nói ‘Không, không có Thượng đế.’ Với người thứ hai thầy nói, ‘Có, có chứ.’ Và với người thứ ba thầy đơn giản vẫy tay với tình yêu thế dành cho anh ta để ngồi xuống và nhắm mắt. Thầy chẳng nói gì với anh ta, nhưng cái gì đó phải đã xảy ra, bởi vì người này rơi vào trong im lặng sâu sắc, người này chạm chân thầy, người này cám ơn thầy về câu trả lời của thầy, mặc dầu tôi có đó và thầy đã không trả lời chút nào. Cái gì diễn ra? Thầy đã thách đố tôi lắm đấy.”

Phật nói, “Người thứ nhất là người tin, người đó tin vào Thượng đế. Người đó đã không thực sự đến để truy hỏi, người đó đã đến để được xác nhận. Người đó muốn niềm tin của người đó đươc ta hỗ trợ, để cho người đó có thể đi và nói cho mọi người, ‘Không chỉ tôi tin vào Thượng đế, Phật cũng tin.’ Anh ta muốn dùng ta cho chủ định riêng của anh ta, do đó ta phải nói không. Và ta phải rất cứng rắn với anh ta, bằng không anh ta đầy những ý tưởng riêng của anh ta, anh ts sẽ không lắng nghe. Anh ta là học giả, rất quen thuộc với kinh sách – ta có thể nghe thấy tiếng ồn trong đầu anh ta, ta có thể nhìn thấy rối loạn trong bản thể anh ta. Ta phải rất ác và cứng rắn như búa, vì chỉ thế thì mới có khả năng anh ta có thể nghe. Anh ta cần cú choáng. Ta gây choáng anh ta, vì ta không muốn hỗ trợ cho niềm tin của bất kì người nào. Mọi niềm tin đều là giả. Việc biết là vấn đề khác toàn bộ.

“Và người thứ hai là người vô thần, anh ta không tin vào Thượng đế. Anh ta cũng là một học giả, anh ta cũng đầy mọi loại ý tưởng, nhưng anh ta chính là người đối lập với người thứ nhất. Anh ta cũng đã tới với cùng chủ định. Họ là đối lập, kẻ thù, nhưng chủ định là như nhau. Anh ta muốn ta hỗ trợ cho việc không tin của anh ta, việc hoài nghi của anh ta. Đó là lí do tại sao ta phải nói với anh ta một cách có thẩm quyền thế: ‘Vâng, có Thượng đế – duy nhất Thượng đế có, và không cái gì khác.’ Theo cách đó ta làm tan tành niềm tin của anh ta.

“Và người thứ ba thực sự là người tìm kiếm. Anh ta đã không muốn có câu trả lời, anh ta muốn có kinh nghiệm. Anh ta đã không tới để hỏi – anh ta không có ý tưởng, không định kiến – anh ta đã đi tới cởi mở, sẵn có. Anh ta mong manh với ta, anh ta là con người của tin cậy lớn lao. Anh ta muốn ta để lộ cái gì đó cho anh ta, do đó ta đã không trả lời anh ta, ta đơn giản nói anh ta ngồi cạnh bên ta. Và, vâng, ông đúng, cái gì đó đã xảy ra….”
… Bởi vì cái gì đó bao giờ cũng xảy ra khi hai người có thể xoay xở ngồi trong im lặng sâu sắc. Và nếu bạn có thể xoay xở ngồi trong im lặng sâu sắc với vị phật, cái gì đó cực kì có giá trị sẽ xảy ra. Im lặng của ông ấy có tính lây nhiễm. Nếu bạn sẵn có và cởi mở, im lặng của ông ấy sẽ rót vào trong bản thể bạn. Nó sẽ như việc tắm; bạn sẽ được tắm trong tâm thức của ông ấy. Bạn sẽ được lau sạch, bạn sẽ được làm thuần khiết. Bụi của bạn sẽ biến mất khỏi tấm gương của bạn. Đột nhiên bạn sẽ có khả năng thấy; mắt bạn sẽ rõ ràng.

“… Cho nên không cho anh ta câu trả lời nào, anh ta đã nhận được câu trả lời. Anh ta đã nhận được câu trả lời của mọi câu trả lời, chính là im lặng. Đó là lí do tại sao anh ta biết ơn thế, đó là lí do tại sao anh ta cúi lạy và chạm chân ta, đó là lí do tại sao anh ta đã cám ơn ta.”

Posted in Management consulting | 1 Comment

PHẬT GIÁO VÀ PHỤ NỮ

Tạ Chí Hồng – Nguyên Đạo
Tạ Lê Cẩm Tú – Karma Drola

Chuyện nam nữ có lẽ là vấn đề (tạm gọi) – là muôn thuở. Nó bắt đầu từ thời kỳ hồng hoang mà đến nay vẫn mang tính thời sự nóng hổi! Để bàn vấn đề này liên quan đến tổ chức, quan điểm của Phật giáo, có lẽ phải bắt đầu từ những lý do căn bản như sau.

1. Tại sao lại có phân biệt nam nữ?

Đứng ở góc độ nhân thế để mà bàn, F.Engels cũng như C. Marx đã đưa ra lời nhận xét dí dỏm. Mới đầu ở chế độ nguyên thủy, mọi người đều bình đẳng. Sau khi sự phân công lao động lần thứ nhất của nhân loại ra đời, người phụ nữ ở nhà (thường là hang động) đảm nhận vai trò, chăn nuôi, thuần dưỡng súc vật, trồng trọt v.v… Đó là chưa nói đến thiên chức của người đàn bà là sinh con để duy trì nòi giống, tham gia vào việc nuôi dạy con cái, nấu nướng v.v…, người đàn ông đảm nhận vai trò đi săn bắn. Từ đó, năng suất của người phụ nữ thường ổn định và phát triển, còn năng suất của người đàn ông vốn bấp bênh, sau này lại càng bấp bênh vì “chim trời, cá nước” nên khi được khi không. Đó là chưa nói đến việc đi săn bắt rất nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng tính mạng của mình. Chuyện này không phải hiếm. Về kinh tế, cũng từ năng suất lao động quyết định nên người đàn bà giữ vai trò chính, dần dà trở thành chế độ mẫu quyền. Một công thức rất hiển nhiên là: khi người ta nắm kinh tế, trước sau người ta sẽ nắm chính trị. Theo các nhà sử học, chị em đã “lên ngôi” trong khoảng 300 ngàn năm, nó bắt đầu từ thời kỳ đồ đá mới! Đó cũng là một minh chứng để lý giải tại sao, sau này chỉ nói riêng thời bà Trưng ở Việt Nam cũng có nhiều nữ tướng như vậy. Với Việt Nam, chế độ mẫu quyền còn mang dấu vết đến ngày nay như dân tộc Chăm và các dân tộc thiểu số khác.

Sau này cũng từ việc săn bắn thất bát, người đàn ông trở về cùng người đàn bà thuần dưỡng súc vật. Đến lúc này do sức vóc, sự dẻo dai, chịu đựng của người đàn ông tốt hơn, nên như F.Engels đã đưa ra ví dụ, chỉ cần phải lùa một đàn cừu trên núi trong cơn bão tuyết thì rõ ràng người đàn ông làm việc này tốt hơn người đàn bà. Dần dà người đàn ông nắm kinh tế. Đối với người đàn bà, F. Engels nhận xét rất dí dỏm: từ khi người đàn bà khoác lên vai kẻ chiến thắng vòng nguyệt quế thì từ đó người ta phục tùng vô điều kiện! Đến đây, rõ ràng kinh tế giữ vai trò hết sức quan trọng!

2. Tư tưởng trọng nam khinh nữ của phong kiến

Nối tiếp từ chế độ phụ quyền, chế độ phong kiến hầu hết cả phương Đông và phương Tây, nhìn chung đều giống nhau là tư tưởng đẳng cấp và trọng nam kinh nữ. Chỉ nói riêng ở Ấn Độ thời Phật còn tại thế, Bà La môn (Bràhmana) đã chia con người trong xã hội đó thành bốn đẳng cấp:

1. Bà La Môn (Bràhmana): đây là đẳng cấp tối linh, chủ trương về việc nghi lễ và tôn giáo.

2. Sát đế lỵ (Khattiya): đẳng cấp vua quan, tướng binh, nắm quyền thống trị.

3. Tỳ Xá Vệ (Vessa): đẳng cấp bình dân, công, nông, thương.

4. Thủ Đà La (Duddra): đẳng cấp tiện dân, bần cùng, nô lệ.

Điểm chú ý sự kỳ thị giữa các đẳng cấp này rất nhiệt ngã. Chẳng hạn cấm được kết hôn với nhau. Có trường hợp nếu người nô lệ chỉ nhìn vào giếng nước của đẳng cấp trên thì cái giếng ấy được coi là nhơ bẩn, không dùng được nữa và người nô lệ này phải bị ném đá cho đến chết! Đi theo tư tưởng này cùng với vấn đề lịch sử như trên, dĩ nhiên vai trò của người phụ nữ rất thấp kém. Người phụ nữ thời ấy bị khinh rẻ và chỉ là những món đồ chơi của đàn ông. Sự bắt cóc, cưỡng ép, buôn bán phu nữ, thiếu nữ thường xuyên xảy ra. Trong đời sống thường nhật, người phụ nữ phải chịu khá nhiều về thiệt thòi: không được ra khỏi nhà, nếu không được phép và không có mạng che mặt; không có quyền trong sinh hoạt xã hội và tôn giáo…

3. Vai trò phụ nữ trong Phật giáo

Có thể nói, hơn 95 học phái tư tưởng, tôn giáo lúc bấy giờ, đạo Phật ra đời như một ngôi sao lớn nhất, tỏa sáng lung linh trên bầu trời đầy sao của trí tuệ; một hồi chuông lớn gióng lên, đánh vào Bà La môn giáo cả 3 phương diện: xã hội; tôn giáo và nghi lễ.

Khác với nhiều hệ tư tưởng đương thời, Phật giáo xây dựng trên cái nền bình đẳng giai cấp. So với các hệ tư tưởng Đông Tây cả đương thời và sau này, tư tưởng bình đẳng của Phật giáo rộng vô biên như tấm lòng của Bồ Tát và Phật vậy! Một lời tuyên bố nổi tiếng của Phật trong kinh Tăng Chi đủ chứng minh cho tư tưởng bình đẳng rộng lớn của Phật giáo, trong này bao hàm sự bình đẳng nam nữ, sự giải phóng phụ nữ, mà các hệ tư tưởng khác nhìn chung đã không làm được:

“Ví như, này Pàhàràda, phàm các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamuhà, sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước, trở thành biển lớn. Cũng vậy, này Pahàràđa, có bốn giai cấp này: Sát đế lỵ, Bà La Môn, Phệ xá, Thủ Đà, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong pháp và luật được Như Lai tuyên bố này, chúng từ bỏ tên và họ của chúng trước, và chúng trở thành những Sa môn Thích Tử” (1)

Trước và sau khi thành lập giáo đoàn Tỳ kheo Ni, Phật đã nhìn thấy năng lực của phụ nữ không thua kém đàn ông về tu chứng và giải thoát. Có thể nói, Phật là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã nhìn thấy và nâng cao vị trí của hàng phụ nữ đến mức quan trọng nhất. Câu chuyện về bà Mahaprajapatì (kế mẫu của Thái tử Sĩ Đạt Ta) liên quan đến giáo đoàn Tỳ kheo Ni, dù có người nhầm lẫn về sự đắn đo của Phật, nhưng nó đã minh chứng cho điều đó.

Ngoài ra, Phật còn đánh giá rất cao vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong quan hệ xã hội. Điều này được thể hiện trong Kinh Thiện Sinh và các kinh khác.

4. Phụ nữ ngày nay

Ngày nay, trên khắp thế giới đã dấy lên phong trào giải phóng phụ nữ, cũng tức là giải phóng trong tư tưởng phong kiến trong đầu người đàn ông quan niệm về phụ nữ. Với khoa học phát triển, với phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng bùng nổ, phụ nữ nhận thức được rằng: họ chẳng có điều gì thua kém nam giới. Thậm chí, có những mặt phụ nữ còn vượt trội hơn nam nhân.

Từ mục đích cao cả của nhà Phật là giải thoát (cũng có nghĩa là giải phóng), đến đây chúng ta mới thấy đức Phật là một nhân vật thật vĩ đại. Ngài đã làm một cuộc cách mạng long trời, lở đất từ hơn 2500 năm về trước. Chẳng những Ngài giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự kìm kẹp, áp bức của xã hội, mà còn tạo điều kiện cho phụ nữ vững bước vào đời, tự quyết định tương lai của mình.

Trong ánh sáng tâm linh của đức Phật, không có vấn đề kỳ thị, mà trái lại, mọi người, mọi loài đều hiển thị đúng chỗ của chúng, đều cần thiết ngang nhau, đều bình đẳng như nhau. Trong giáo đoàn Phật giáo, người phụ nữ thật sự được tôn trọng, được kính nể, được đề cao như một vị Phật tương lai.

—————————–

(1). Giáo hội Phật giáo Việt Nam, KinhTăng Chi Bộ, tập III, bản dịch của Thích Minh Châu, Viện nguyên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1996, tr. 562.

Posted in Management consulting | Leave a comment

3 Dieu tu Bài phát biểu của TS Trần Vinh Dự tại Lễ tốt nghiệp của Trường Cao Đẵng Nghề Việt Mỹ

Trong ngày vui này, tôi muốn chia sẻ với các bạn 3 điều với tư cách là mộtngười bạn. Chỉ có 3 điều thôi, không có gì là lớn lao.

Tôi rất hân hạnh được có mặt trong buổi lễ tốt nghiệp ngày hôm nay của các bạn, những cựu sinh viên yêu quý của trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ. Trong ngày vui này, tôi muốn chia sẻ với các bạn 3 điều với tư cách là một người bạn. Chỉ có 3 điều thôi, không có gì là lớn lao.

Điều thứ nhất là về sự thất bại.

Tôi tự cho mình là một người dám chấp nhận thất bại. Thất bại đầu đời của tôi là trong năm đầu Đại học. Tôi vào học Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 1995 và đặt mục tiêu phải lấy được học bổng để đi Úc học ngay trong năm đầu tiên. Để làm được việc đó, tôi phải đứng đầu trường về thành tích học tập. Kết quả học tập của tôi năm đó đứng đầu trường. Nhưng đáng tiếc là chương trình học bổng của Úc mà tôi nhắm tới năm đó kết thúc. Giấc mơ không thành, tôi đã khóc nhiều ngày, nhưng tôi không bỏ cuộc.

Khi tốt nghiệp Đại học, tôi cũng tốt nghiệp đứng đầu khoá. Tôi được trường Đại học Quốc Gia Hà Nội giữ lại làm giảng viên. Thế nhưng mức lương khi đó chỉ có 400 nghìn Đồng mỗi tháng, đủ cho tôi uống café và ăn sáng vài ngày. Tôi nộp hồ sơ xin việc ở nhiều nơi, và trong suốt 6 tháng trời, tôi chỉ nhận được hết cái lắc đầu này tới cái lắc đầu khác. Lại một thất bại nữa.
Sự thất bại trong việc tìm việc làm tốt và lương cao khiến tôi nhận ra tôi cần phải làm tốt hơn nữa. Tôi đã dành một năm tự học và xin học bổng. Thời kỳ này áp lực lớn tới mức tóc trên đầu tôi rụng từng mảng. Tôi cao 1m74, và khi đó tôi chỉ nặng hơn 50 kg đôi chút. Nhưng nỗ lực của tôi cuối cùng không uổng. Tôi được nhận học bổng của viện Harvard Yenching tại trường Đại học Harvard và được nhận vào học tại Đại học Tổng hợp Texas tại Austin. Năm 24 tuổi, tôi bắt đầu qua Mỹ học tiến sĩ Kinh tế.
Gần 6 năm học tiến sĩ là một thời kỳ gian khổ, đặc biệt là trong giai đoạn làm luận án. Các thất bại liên tiếp trong nghiên cứu và áp lực phải thành công để tốt nghiệp là đặc biệt nghiêm trọng. Nếu thời gian kéo dài quá lâu, học bổng của tôi sẽ hết, và tôi sẽ phải bỏ cuộc và về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Vì thế nhiều lúc quẫn trí tôi đã tính đến việc tự sát.
Thế nhưng cuối cùng tôi vẫn vượt qua được. Khi tôi tốt nghiệp đầu năm 2007, tôi là một trong 3 nghiên cứu sinh được đánh giá cao nhất trong số khoảng gần 20 tiến sĩ Kinh tế tốt nghiệp năm đó của trường. Ngay từ trước khi ra trường, tôi đã có việc làm tại Mỹ với mức lương khởi đầu 6 con số, tức là hơn 100 nghìn USD/năm.
Năm 2010, tôi về Việt Nam và bắt đầu làm việc cho một Quỹ đầu tư lớn nhất nhì Việt Nam trên cương vị cố vấn kinh tế cao cấp. Nhiều người ngăn cản quyết định này. Nhiều người cho tôi là ngu ngốc. Và quả thật, tôi bị sa thải chỉ sau 3 tuần làm việc ở tập đoàn này. Lý do, các lãnh đạo của họ sợ những gì tôi nói và viết có thể ảnh hưởng đến tương lai chính trị của tập đoàn. Lại một thất bại nữa. Lần này nặng hơn vì tôi đã 33 tuổi.
Nhưng chính nhờ thất bại này, sự nghiệp của tôi rẽ sang một lối đi mới. Tôi tham gia cùng các bạn bè thân hữu của mình xây dựng công ty tài chính TNK Capital, giờ là một công ty tư vấn tài chính uy tín ở Việt Nam. Từ công ty này, chúng tôi lập ra Ismart Education, một công ty tiên phong ở Việt Nam trong lĩnh vực giải pháp giáo dục số, và đầu tư vào Học viện Giáo dục Hoa Kỳ, là công ty sở hữu trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ. Đó cũng là lý do mà tôi đứng trước các bạn ngày hôm nay với tư cách Chủ tịch của Trường.
Những thất bại mà tôi gặp phải trong 20 năm qua có thể chưa phải là những thất bại lớn. Tôi có thể sẽ còn gặp thêm nhiều thất bại nữa trong những năm tới. Nhưng mỗi khi thất bại, tôi lại thấy mình trưởng thành hơn và quyết tâm hơn.
Ngày hôm nay các bạn ra trường, cũng giống như tôi ra trường hồi 15 năm trước. Dù học giỏi tới đâu, hành trang lập nghiệp của các bạn cũng giống như tôi ngày đó, vẫn còn nghèo nàn lắm. Các bạn chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, và sẽ có nhiều thất bại. Có những thất bại sẽ làm các bạn bật khóc. Có những thất bại sẽ làm các bạn không thể khóc thành lời.
Có những thất bại sẽ làm các bạn mất niềm tin và gục ngã. Có những thất bại thậm chí làm các bạn đau đến mức ước như mình chưa bao giờ được sinh ra. Trong những giờ phút ấy, hãy nhớ rằng ai cũng sẽ phải trải qua những thử thách tương tự. Cái gì không giết chết được chúng ta thì sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn. Tôi mong điều ấy ở các bạn. Và đó là chia sẻ đầu tiên.

Điều thứ hai là về sự hữu hạn của cuộc đời.

Khi tôi còn ở những năm đầu của tuổi 20, tôi không bao giờ nghĩ đến một ngày nào đó mình trở nên già đi. Với tôi khi đó chỉ có tuổi trẻ. Thế nhưng đứng trước các bạn ngày hôm nay ở đây, tôi nhận ra 15 năm đã trôi qua như một giấc mơ. Chỉ 3 năm nữa tôi sẽ bước vào tuổi 40. Thêm một giấc mơ 15 năm nữa giống như giấc mơ vừa qua và tôi sẽ ngoài 50 tuổi. Điều đó cũng sẽ đến với các bạn. Rất nhanh thôi, 10 năm, 20 năm, rồi 30 năm sẽ trôi qua và một sáng thức dậy các bạn sẽ thấy tóc trên đầu mình có nhiều sợi bạc.
Điều đó không có gì là đáng buồn. Ngược lại, nó là một động lực lớn nếu các bạn biết tận dụng. Hiểu rằng mình sẽ già đi và biến mất khỏi trái đất này như là một lẽ tự nhiên cũng có nghĩa rằng bạn sẽ biết yêu quý từng ngày còn lại và biết dùng nó một cách có ích nhất.
Thế nào là có ích? Tôi không có ý nói đến việc bạn phải có những đóng góp lớn lao cho xã hội hoặc những hi sinh phi thường. Cái có ích mà tôi nói đến ở đây là các bạn chỉ sống có một lần cuộc sống này, vì thế hãy làm những gì các bạn thực sự yêu thích nhất.
Tôi muốn mượn lời Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp năm 2005 của Đại học Standford. Jobs nói rằng “thời gian của các bạn là hữu hạn, vì thế đừng phí phạm thời gian để sống cuộc đời của người khác. Đừng bị xập bẫy các giáo điều để phải sống cuộc sống của mình theo cách nghĩ của người khác. Đừng để tiếng nói quan điểm của người khác nhấn chìm tiếng nói sâu thẳm trong lòng bạn. Và điều quan trọng nhất là hãy có can đảm để đi theo tiếng gọi của trái tim và trực giác của bạn. Chúng là thứ biết rõ rất bạn thực sự muốn trở thành một người như thế nào. Những thứ khác đều là thứ yếu.”
Khi các bạn thực sự làm việc gì mà các bạn yêu thích nhất, các bạn sẽ dễ vượt qua những thử thách hơn. Công việc chiếm một phần lớn cuộc đời của các bạn, vì thế, các bạn sẽ chỉ cảm thấy thực sự mãn nguyện khi được làm việc mà các bạn cho là thích hợp nhất với mình.
Tôi là một người ham viết lách từ nhỏ. Ngay khi còn là học sinh phổ thông cơ sở, tôi đã viết tiểu thuyết và làm thơ. Tiểu thuyết của tôi chưa bao giờ được đăng, và thơ của tôi cũng vậy. Có lẽ tiểu thuyết của tôi quá dở và thơ của tôi cũng cộc cằn.
Tôi không làm thơ và viết văn nữa, nhưng niềm yêu thích viết lách thì ngày một lớn. Cuối cùng, tôi trở thành một nhà phân tích và bình luận về kinh tế và quan hệ quốc tế. Trong mười năm nay, tôi đã có gần 1 nghìn bài viết đăng tải trên nhiều báo và tạp chí trong và ngoài nước. Đó là sở thích của tôi. Nó làm tôi cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa. Nếu như nhiều tuần qua đi không thể viết những gì mình muốn viết, tôi cảm thấy thiếu hụt như thiếu hụt ô xi để thở, và tôi phải quay lại viết bằng được.
Trong số các bạn ngồi đây ngày hôm nay, hẳn sẽ có một số bạn đã thực sự biết mình muốn làm gì. Các bạn thật may mắn. Với phần lớn các bạn khác, có lẽ các bạn vẫn còn chưa biết mình muốn làm gì. Các bạn hãy tiếp tục tìm kiếm. Cũng giống như tất cả các vấn đề thuộc về trái tim, các bạn sẽ biết mình tìm ra nó khi gặp nó. Các bạn không được dừng lại trước khi tìm ra.
Và khi đã tìm ra công việc mà mình thực sự ưa thích, các bạn hãy theo đuổi nó bằng toàn bộ năng lượng của mình. Vì thời gian của các bạn trên đời này chỉ là hữu hạn, các bạn sẽ già đi, và chắc chắn các bạn không muốn trở thành một người già chìm đắm trong hối tiếc về quá khứ bị bỏ lỡ.

Điều thứ ba là sự thành đạt và hạnh phúc.

Không phải ai sinh ra cũng là thiên tài, cũng có cơ hội để trở thành một thiên tài. Không phải ai sinh ra cũng trong một gia đình giàu có, hoặc có cơ hội để trở thành giàu có. Tôi không phải là một thiên tài, và cho đến giờ tôi cũng chưa bao giờ là một người thực sự giàu có. Có thể trong số các bạn tốt nghiệp ngày hôm nay sẽ có một số ít bạn trở thành những người đặc biệt nổi tiếng hoặc giàu có về sau, nhưng chắc chắn phần lớn trong số các bạn sẽ là những người có cuộc sống bình thường.
May mắn là không cần phải là một thiên tài hoặc một người đặc biệt giàu có thì mới có hạnh phúc. Thậm chí trong nhiều trường hợp điều này còn ngược lại, có nghĩa là người đặc biệt nổi tiếng hoặc giàu có nhiều khi không có hạnh phúc.
Lý do là, hạnh phúc là cảm nhận chủ quan của bạn đối với những gì bạn làm, những gì bạn có, và những gì xung quanh bạn. Hạnh phúc không phải là một khái niệm vật lý với những công thức khô cứng. Nó là thứ thuộc về con người, và vì thế, nó có có vẻ đẹp và sự bí ẩn mà chỉ có chính bạn mới giải mã cho mình được. Nếu biết cách giải mã, hạnh phúc đến từ những điều nhỏ nhặt nhất. Trong bước đường sắp tới, các bạn sẽ phải luôn bám đuổi trong một cuộc cạnh tranh gay gắt về danh lợi. Nhưng hãy đừng để nó cuốn các bạn đi vĩnh viễn. Hãy biết dừng lại, dành thời gian để cảm nhận và tự vui với những gì mình có.
Và lý do để tôi chia sẻ điều này là vì hôm nay là ngày của các bạn. Các bạn đã đặt thêm được một dấu mốc hết sức quan trọng trong cuộc đời mình. Những khó khăn cực nhọc trên ghế nhà trường đã qua, những khó khăn cực nhọc trên con đường mưu sinh và khẳng định bản thân đang đến.
Nhưng ngay lúc này, chính lúc này đây, các bạn có quyền dừng lại trong một ngày, có quyền tự hào vì những gì mình đã làm được, có quyền vui chơi với các bạn đồng khoá và thầy cô thêm một ngày nữa như những sinh viên còn đang học, có quyền tổ chức tiệc tùng để ăn mừng thành tựu của mình.
Không có ai sống thay cuộc sống của các bạn, và các bạn cũng không cần phải sống thay cuộc sống của ai. Vì thế, không ai có quyền đánh giá hay nghi ngờ những nỗ lực mà các bạn phải trải qua để đến được với thời khắc này. Chúng tôi, những người đàn anh, đàn chị, những người đã đi trước, vui mừng và nghiêng mình trước các bạn. Chúc tất cả các bạn thành công và hạnh phúc.

Posted in Management consulting | Leave a comment

Tu de co dao hay co duc!

PHẬT DẠY HAI MƯƠI ĐIỀU KHÓ.
Ai cũng biết chữ tu, nhưng để hiểu được chữ tu, ta phải trải qua đoạn đường dài và vất vả, không phải thong dong bước đi, người thường cho rằng điều khó là chướng việc tu hành, chẳng biết rằng vì khó mới tu, chẳng tu thì không có điều nào là không khó. Trên đường tu, nhân tu hành thì vất vả còn quả thì an lành; nếu không tu thấy nhân thì ngọt ngào nhưng quả thì cay đắng. Thấy được điều đó, nên qua bài kinh Tứ Thập Nhị Chương chương 12, Đức Phật đã đưa ra “Hai Mươi Điều Khó Làm” nhằm khuyên tu. Trên bước bước đường tu, ta phải song hành, giữa tu và học nên cổ Đức có dạy: “Tu không học là người mù, người học mà không tu như Từ Điển biết đi ”.

Tuy nhiên, những điều khó làm, không phải là không làm được nên rất cần sự kiên trì, dày công tu luyện, mới có được kết quả.
Có một nhà văn đã viết :

“Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi

Mà khó vì lòng người ngại núi e sông

Trong cuộc sống thực tại, biết bao phiền não đoanh vây, bao nghịch duyên trái ngang và bao khổ đau phiền lụy, trải qua bao cuộc sống thăng trầm, chúng con gặp bao nhiêu điều khó khăn nhưng cũng còn có “Hai Mươi Điều” rất khó làm mà đức Phật đã phương tiện đưa ra, nhằm cho người thực hành hoàn thiện nhân cách con người và cũng là hoàn thiện nhân cách của chính mình và giờ đây ta cùng tìm hiểu về Hai Mươi Điều Khó Làm.

Điều thứ nhất

NGHÈO HÈN BỐ THÍ LÀ KHÓ

Bố thí: Phân phát cho cùng khắp, bố thí là hình thức ta đang gieo trồng cây phước đức.

Bố thí có bốn loại: Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí, Tùy hỷ thí .

1.
Tài thí có 2 loại: nội tài và ngoại tài

Nội tài: Chỉ phần thân thể của mình như : hiến máu, cho mắt, tim, gan, mật…

Ngoại tài: Dùng tiền bạc, thuốc men, thực phẩm bố thí

2.
Pháp thí: Giáo pháp, thuyết pháp, ấn tống kinh điển.

3.
Vô úy thí : Bố thí cho sự không sợ hãi, giúp người an tâm.

4.
Tùy hỷ thí: Đồng tình vui vẽ, không sanh tâm ganh ghét, đố kỵ với người đang thực hành bố thí.
Bố thí phải là người có lòng từ bi cao độ, người phải có tâm hoan hỹ rất cao, mới có thể bố thí vì khi mở tấm lòng phát tâm bố thí thì cái gì cũng có thể cho và bố thí cũng là phương tiện trị đi bệnh tham lam, bỏn xẻn vì bố thí càng nhiều, lòng tham từ từ rơi rụng và bớt đi ta sẽ khoan dung độ lượng hơn.

“ Bố thí người nghèo khó
Lòng quảng đại hải bố
Ban ra không màn trả”
Đời , Đạo khéo điểm tô”.

Với người nghèo họ nghĩ rằng lo cho mình còn chưa đủ thì ít ai làm bố thí, tâm lý luôn co cụm, làm sao xã ly vì họ nghĩ rằng người giàu bố thí còn khó thì người nghèo như họ bố thí càng khó hơn.

Trong Kinh Tăng Chi có dạy, có bốn điều mà người nghèo khó bố thí:
1.
Do không có lòng tin, sợ bố thí là hết của, không còn cái để ngày mai ăn nên họ không bố thí.

2.
Không sợ hãi những điều tội lỗi, nên đã có nhiều người lấy tiền của người bằng hình thức trộm cắp, rồi đem đi bố thí, chẳng những không có phước mà còn có tội, mà phước lại thuộc về người bị trộm như kẻ chăn bò thuê , bò thì nhiều nhưng là của chủ thực chất họ chẳng có con bò nào mà còn phải đi làm thuê mướn.

3.
Không biết đoạn trừ điều ác, người này nghèo về tinh thần, không biết rõ nhân quả nghiệp báo, dù cho có lúc họ giàu có nhưng đến lúc nào hết phước thì họ cũng sẽ nghèo sát xơ , đến chết đi, qua đời sau sanh ra tiếp tục nghèo.

4.
Người không trí tuệ, không có sự hiểu biết sáng suốt, ai nói gì cũng không biết thật hay giả, ai nói gì cũng nghe, dù họ có bố thí vẫn có phước nhưng không nhiều.

Trong bốn loại bố thí: Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí và Tùy hỷ thí, thì Vô úy Thí là điều khó làm nhất, bố thí xuất phát từ lòng từ bi vô hạn mà làm, khi nào còn chúng sanh đau khổ, thì ta còn bố thí và bố thí với tinh thần Tam Luân Không Tịch, vắng lặng ở ba điều :

Không thấy mình là người bố thí
Không thấy vật  mình bố thí
Không thấy người nhận bố thí
Và không thấy ở đây là không phải thấy bằng mắt mà là không chấp thủ, không vướng mắc hay nói cách khác ở ba phương diện người cúng với tâm thanh tịnh hoan hỷ, vật cúng thanh tịnh bằng đồng tiền chơn chánh và người nhận thanh tịnh, người bố thí với tâm lượng như vậy là bố thí Ba La mật (đáo bĩ ngạn) và khi thực hành bố thí Ba La mật, là ta đang thực hành theo tinh thần Bồ Tát đạo.

Tóm lại: Ai cũng có thể thực hành bố thí, không kể là giàu hay nghèo, kẻ ngu hay người trí, người nghèo mà có tâm bố thí thì vẫn có thể bố thí, nhưng người nghèo không có tâm bố thí và không chịu thực hành bố thí thì bố thí đối với họ là khó.

Điều thứ hai

GIÀU SANG HỌC ĐẠO KHÓ THÀNH

Người giàu sang là người có phước báu, có đầy đủ nhu cầu thiết yếu về cái ăn, cái mặc và chỗ ở, họ có của cải sung túc thì họ ít chịu đi tu, vì đi tu thì thiếu tiện nghi họ chịu không nổi do vậy họ không cần phải học đạo làm gì, với người càng giàu càng khó đi tu vì trong đầu óc của họ chỉ có chữ tiền ví như có chín đồng rồi họ cố gắng kiếm thêm một đồng, để cho đủ và cất vào tủ, như vậy họ vô cùng vất vả, lo giữ tài sản, không ngủ được thì họ còn thì giờ đâu tìm cầu học đạo.
Người giàu có lòng tham lam còn nặng hơn, chính vì tham mà họ mất đi nhân cách đạo đức như có câu “Vi phú bất nhơn” .
Người giàu có chỉ thích hưởng lạc thú, tìm cầu lạc thú như trong xã hội hiện nay có bao nhiêu người, nhưng có được bao nhiêu người đi học đạo so với số lượng trên vậy thì họ đi đâu, họ đi tìm cầu dục lạc ở nhà hàng, rạp hát, tụ điểm ca nhạc,…
*Tuy nhiên trong số đó, cũng có nhiều người hiếu học vì họ thấy và hiểu được rằng chỉ có con đường học đạo, mới là con đường hạnh phúc, giàu trên tinh thần hơn giàu trên tài sản, vì tài sản không bền chắc và nó không phải là của ta mà là của năm nhà: vua quan, giặc cướp, nước trôi, lửa cháy và vợ hay chồng, con cái phá tán cũng sẽ mất hết tài sản. Tóm lại: nếu người giàu mà còn biết đi học đạo thì ta trọn cả hai phần “phước và huệ song tu”, nếu người giàu sang mà chỉ biết nắm giữ chất chứa, thì đối với họ việc để thời gian học đạo là rất khó.
Điều thứ ba

BỎ THÂN MẠNG QUYẾT CHẾT LÀ KHÓ

Kỷ niệm 50 năm Bồ Tát Thích Quảng Đức tử vì đạo, pháp nạn vào ngày 11 tháng 6 năm 1963, tức ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão, Bồ Tát đã quyết định thực hiện tâm nguyện của ngài là được thiêu đốt nhục thân để cúng dường chư Phật và bảo vệ đạo pháp, ngài ra đi để thức tỉnh nhân thế, cảnh tỉnh chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và đánh thức lương tri con người:

“Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình
Làm đèn soi sáng nẻo vô minh
Khói không cảnh tỉnh bao người ác
Tro trắng phản sang hố bất bình”
hân năm uẩn này là giả tạm, chỉ có làm sao cho chánh pháp được trường tồn, sự thiêu thân của Bồ Tát vì pháp, vì chân lý không vì quyền lợi hay danh vọng và trước khi từ giả cõi đời ngài đã thốt lên lời nói thật Từ Bi đối với người ác, lời nhắn nhủ sau cùng của ngài thể hiện tràn đầy tình thương, không hề sân hận hay sợ sệt. Câu nói của ngài gợi cho ta nhiều suy nghĩ: “Tôi xin trân trọng gởi đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên lấy lòng từ bi mà đối với quốc dân” và ngài đưa ra năm yêu cầu:

1.
Yêu cầu chính phủ Việt Nam thu hồi lệnh triệt giáo kỳ Phật giáo.

2.
Yêu cầu Phật giáo được hưởng chế độ đặc biệt như bao tôn giáo khác.

3.
Yêu cầu chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tinh thần tín đồ Phật giáo.

4.
Yêu cầu tín đồ Phật giáo được truyền đạo và học đạo.

5.
Yêu cầu chính phủ đền bù xứng đáng cho những người bị chết oan vô tội và kẻ chủ mưu phải đền tội đúng mức.

– Bồ Tát còn gởi đến tất cả tín đồ Phật giáo lời ước nguyện sau cùng: “Phật tử! Chúng ta hãy cùng nhau tự nguyện, tự giác, bền chí với sứ mạng duy trì chánh pháp và bảo vệ lá cờ Phật giáo”.
Cuối cùng sự hy sinh vì đạo của Bồ Tát đã làm cho Ngô Đình Diệm vô cùng hoảng hốt và lo sợ, tìm mọi cách đối phó, bằng mọi thủ đoạn thâm độc và chính điều đó càng làm cho phong trào đấu tranh của Phật giáo trở nên cuồn cuộn như sóng thần và đã đi đến kết thúc, chế độ độc tài gia đình Trị của họ Ngô hoàn toàn sụp đổ vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 và Phật giáo thoát qua Pháp nạn.
Hình ảnh Trái tim bất diệt của Bồ Tát như một minh chứng mầu nhiệm cho tinh thần Từ bi – Trí tuệ – Dũng mãnh, Bồ Tát ra đi đã để lại niềm tôn kính vô biên và cảm xúc sâu đậm trong lòng người con Phật nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.
Và không chỉ có gương sáng của Bồ Tát Thích Quảng Đức mà còn có các vị Thánh tử đạo cũng vị Pháp thiêu thân, điển hình như có: Hòa Thượng Thích Nguyên Hương, Ni sư Thích Nữ Diệu Quang, Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu, Đại Đức Thích Quảng Hương, Đại Đức Thích Thiện Mỹ và song song đó cũng có các cư sĩ Phật tử như Cư sĩ Nhất Chi Mai, Cư sĩ Quách Thị Trang và còn nhiều cư sĩ khác ở Huế cũng trong pháp nạn 1963 cũng đã anh dũng vị pháp thiêu thân.
Dù xuất gia hay tại gia, không tập trung trên màu sắc áo cũng vì đạo pháp trường tồn, đã dùng thân mình thắp lên Ngọn Lửa Từ Bi.
Và thời Phật còn tại thế, có tôn giả Phú Lâu Na, một trong Thập Đại đệ tử của Phật, không sợ chết vì lợi ích của chúng sanh, đem giáo pháp của Đức Thế Tôn truyền bá khắp nhân gian dù cho có phải mất mạng vẫn giữ vững khí tiết, giữ vững điều thiện và giữ vững lý tưởng cao cả.
Nhưng qua đó, cũng có những cái chết không có ý nghĩa, đôi khi vì muốn tồn tại con người đã phải liều mạng, đâm chết người và có những người vì ức chế quá lớn đi đến quyên sinh, họ nghĩ rằng chết là sẽ chấm dứt khổ đau và cái chết của họ chưa phải là phương pháp tâm an và dù cho có cầu nguyện cho họ, họ cũng không siêu thoát được.
Tóm lại
: Chỉ có những người vì chân lý hy sinh vì lý do cao cả đem lại lợi ích cho nhân quân, xã hội, con người, mới là sự hy sinh có ý nghĩa và khó làm.

Điều thứ tư

THẤY ĐƯỢC KINH PHẬT LÀ KHÓ

“Nhân thân nan đắc, Phật Pháp nan văn ”. Làm được thân người đã là khó, nên trong kinh Đức Phật có dạy: “Trong vòng luân hồi bất tận, cơ may được làm người rất khó. Đức Phật đã khẳng định : Này các tỳ kheo! Có rất ít chúng sanh được tái sanh làm người và có rất nhiều chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài người.”
Làm được thân người đã là khó, đọc được kinh Phật lại còn khó hơn. Đức Phật có dạy: “Sống trăm năm không hiểu Phật pháp hơn sống một ngày hiểu Phật pháp.”
Pháp cú 182 : Đức Phật dạy:
“Khó mà sanh được làm người
Rồi ra sống được trọn đời khó hơn
Được nghe chánh pháp tuyên dương
Cũng là điều khó trăm đường mà thôi
Duyên may gặp Phật ra đời
Là điều hy hữu, tuyệt vời biết bao
““.
Và nay ta đã được làm thân người, được đọc kinh Phật là duyên lành nhiều đời kiếp, được nương tựa ba ngôi quý báu: Phật-Pháp-Tăng, thì ta phải làm gì trong kinh có dạy :
“ Phật-Pháp cao siêu lý ẩn sâu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Duyên lành nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu
”.
Tóm lại
: Trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo, vào năm 30, 40, Hòa

Thượng Khánh Anh đã bán đất chùa để lấy tiền in kinh nuôi tăng chúng, đó là điều rất khó làm, chỉ có những vị Trưởng Thượng, những vị lãnh đạo giáo hội, giữ gìn mạng mạch Phật Pháp mới làm được những điều khó này.

Điều thứ năm
.    SANH NHẰM ĐỜI CÓ PHẬT LÀ KHÓ

Ví như Hoa Ưu Đàm, ngàn năm mới nở, người mà không đủ nhân duyên gặp Phật, lúc nào cũng sống trong u mê, tăm tối và cũng có khi sanh vào thời Phật, chưa chắc gặp Phật như thời Phật có sáu vị ngoại đạo nổi tiếng, trong đó có phái Lỏa Thể Ni Kiền Tử do Đại sư Niganta Nataputta lãnh đạo, họ sống giới luật rất nghiêm ngặt, xem giới như là sự chứng quả, do chấp chặt nên họ rơi vào giới cấm thủ, không buông bỏ được và do họ không phải là đạo chánh, chưa gặp được Đức Thế Tôn, nên họ tự hủy diệt, nếu duyên may gặp Phật, đức Thế Tôn sẽ khai sáng cho một con đường, họ sẽ chứng quả, nếu ta được gặp Phật, ngài sẽ dạy cho ta những điều nên làm và không nên làm, con đường nào nên đi và con đường nào không nên đi, đâu là khổ đau bất hạnh, đâu là an vui hạnh phúc và Phật sẽ chỉ cho ta trên bước đường tu, chổ nào ta đang vướng mắc và ta sẽ được giải thoát an lành, vì ta đang sống trong ma giới, tâm tham, tâm sân, tâm si còn đầy ấp và ai được gặp Phật và ta được Phật hộ niệm, ta sẽ đổi tâm rời cảnh giới của ma.

Do vậy! Nhớ lại ngài Tam Tạng Pháp sư Trần Huyền Trang, đã từng than thở khi đến Khổ Hạnh Lâm:

“Phật tại thế thời, ngã trầm luân
Kim đắc nhân thân, Phật diệt độ
Áo nảo tự thân đa nghiệp chướng
Bất kiến Như Lai kim sắc thân.”

* Ngài không chỉ than oán cho nghiệp chướng của ngài mà buồn rầu cho cả chúng sanh vì nghiệp chướng đa mang,  không sanh nhằm thời Phật, không được chiêm ngưỡng tướng hảo quang minh của Như Lai, không được nghe chánh pháp diệu kỳ mà phải trôi lăn trong sanh tử.
Điều thứ sáu

NHỊN SẮC, NHỊN DỤC LÀ KHÓ

– Dục: là lòng ham muốn. Ở thế gian có rất nhiều sự ham muốn, nhưng tất cả không ngoài năm món: ngũ dục lạc.
1.
Tài: tiền tài.
2. Sắc: sắc đẹp của mình.
3. Danh: danh lợi, danh vọng.
4. Thực: ăn uống .
5. Thùy: ngủ, nghỉ.
Và cũng có những ham muốn, bên ngoài thân mình đó là năm trần :
1.

Sắc: sắc đẹp của người.
2.

Thinh: âm thanh.
3.

Hương: mùi hương.
4.
Vị: vị nếm.
5.

Xúc: sự xúc chạm.
Trong các ham muốn, thì sắc dục đối với thế gian ai cũng điêu đứng, khi lòng ham muốn dục, thì bản năng sanh khởi, nhan sắc càng đẹp, trói buộc càng lớn, sự trói buộc của sắc dục như vòi con bạch tuộc, sắc dục hấp dẫn khó thể buông bỏ và khi chết, người nữ sắc dục này vẫn còn hấp dẫn người nam.
Ở Trung Quốc có Tứ Đại Mỹ Nhân: Tây Thi, Dương Quý Phi, Đắc Kỷ và Điêu Thuyền.
Mỹ nhân Dương Quý Phi là người được vua thương nhất và cũng là người bị chết thê thảm nhất, chính nhà vua giết người này và sau khi chết vẫn còn được đám quân lính ôm ấp,…
Với người xuất gia, không vướng vào dục, không mong muốn vào dục, Đức Phật dạy, hàng xuất gia phải biết tự mình chế ngự, kinh trung bộ 22 “Sự nguy hiểm của dục” và Phật đưa ra mười hình ảnh về dục, để thấy ai vướng vào dục thì vui ít, khổ nhiều:
1.

Dục như một khúc xương.
2.

Dục như miếng thịt.
3.

Dục như bó đuốc củi khô.
4.

Dục như hố than hừng.
5.

Dục như cơn mộng.
6.

Dục như trái cây.
7.

Dục như vật mượn của người.
8.

Dục như lò thịt.
9.

Dục như gậy nhọn.
10.

Dục như đầu rắn.
Những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại, tự mình phải chế ngự nghĩ nhớ đến tiền tài thì khổ sở, nghĩ đến sắc đẹp thì đau khổ, nghĩ đến danh lợi thì mệt mỏi, nghĩ đến ăn uống thì vất vả, nó sẽ làm ta mệt mỏi cả đời, cần phải buông bỏ. Và với sắc dục, ví như con rắn độc, con trùng độc, phải thấy rõ thân này là đải da hôi thối, chứa 36 món đồ bất tịnh, phải nhìn rõ sắc dục là huyển ảo, không thật.

Phật dạy: Tỳ kheo phải biết tự mình hộ trì khi sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần bên ngoài: sắc tướng, âm thanh, hương thơm, vị nếm, xúc chạm và khi tiếp xúc với nữ sắc thì không phân biệt tướng chung, tướng riêng và biết rõ đây chính là nguyên nhân của tham ái, ưu bi và các bất thiện pháp sẽ khởi sanh:

“ Mắt là đại dương sâu
Với những đợt sóng ngầm
Với những loài thủy quái
Với những trần cuồng phong
Thuyền đi trong chánh niệm
Hãy nắm vững tay chèo
Để đừng bị đắm chìm
Trong biển sắc mênh mông”.
Phật dạy: “Sắc là cửa ngỏ đi đến sanh tử, chính sắc dục là chướng ngài vật, từ xưa đến nay, chính sắc dục, khiến ta không ra khỏi luân hồi, sanh tử, không mở được cánh cửa niết bàn.”
Tóm lại: Nhịn sắc, nhịn dục là rất khó, nếu ai vượt qua được thì con đường Thánh đạo mở ra .

Điều thứ bảy

THẤY TỐT KHÔNG HAM CẦU LÀ KHÓ

Thấy tiền, thấy sắc không tham cầu là khó, chính do tham cầu mà có sự tranh chấp xãy ra, vì ham cầu mà bất chấp làm những việc bất chính để hại người như người xưa có dạy: “ Không có buổi tiệc nào mà không có giá trị của nó”.

Với người xuất gia thời Phật còn tại thế, chỉ cần ba y, một bát, ăn thì đi khất thực, mặc thì lấy vải từ bãi tha ma giặt sạch và nhuộm hoại sắc và ngủ, ở gốc cây và một gốc cây không ngủ quá hai đêm, để ta không tham đắm, không dính mắc, không ràng buộc, không tham cầu:

“Một bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa
Mắt xanh nhìn trần thế
Mây trắng hỏi đường qua”.

Còn thời nay, Đức Phật dạy hàng xuất gia, tu sĩ, xã hội ngày càng phát triển, vì vậy người tu sĩ, đời sống cũng được nâng cấp, không như xưa, không phải đi khất thực, Phật tử mang đến chùa cúng và để tiện việc hoằng pháp lợi sanh, Phật tử cúng dường phương tiện, vật dụng như xe cộ, kinh sách, băng dĩa,… với mục đích ủng hộ Phật pháp trường tồn cho người xuất gia có phương tiện điều kiện tốt hơn trên bước đường phụng sự đạo pháp và người tu sĩ, sử dụng vật chất, xem đó như là phương tiện, không dính mắc, không thắc mắc, không tham cầu và phải biết nhận lãnh vừa đủ, không tham cầu.
Đức Phật dạy:

“ Như Ong đến với hoa

Không hại sắc và hương

Che chở hoa lấy nhụy

Bậc Thánh đi vào đời

Không trái bẻ việc người”.

(Kinh Pháp cú, thi kệ 49)

Tóm lại: Chỉ có bằng trí tuệ mới thấy tốt không cầu.

Điều thứ tám

BỊ NHỤC KHÔNG GIẬN TỨC LÀ KHÓ

Sĩ nhục là đụng đến tự ái, đến tự ngã, nên khó ai nhịn được, chỉ có phương pháp nhẫn nhục ta mới có thể vượt qua.
Nhẫn nhục: nhịn chịu những điều sĩ nhục, chấp nhận những khổ đau nghịch cảnh, những điều trái ý, nghịch lòng, những la mắng vu oan, những bất công.
Chỉ với người trí mới thấy bằng trí tuệ, thân này do năm uẫn : Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức và do tứ đại : đất nước gió lửa hợp thành

Sắc: Hình sắc, sắc tướng, thuộc về vật chất.

Thọ: Cảm thọ ở ba loại :vui, khổ, không vui không khổ.

Tưởng: Nhận thức những gì đã được biết qua.

Hành: Sự vận chuyển của tâm thức.

Thức: Sự phân biệt của tâm thức thuộc về tinh thần.

Đất: Những vật cứng trong thân như xương, móng, tóc,…

Nước: Những nước trong thân như máu mũ, mồ hôi..

Gió: Hơi thở ra vô

Lửa: Nhiệt độ trong cơ thể
Khi đã nhận rõ thân này là do duyên hợp, không có tự ngã thì khi bị la mắng, bị sĩ nhục, ta nhẫn nhục thì bao nhiêu phiền não so sánh hơn thua, tranh giành, đấu đá trên cuộc đời đều rơi rụng.

“ Thắng thì thêm hận thù
Thua thì thêm sầu não
Thắng, thua ta bỏ cả
An lạc tại nơi đây”.

Chỉ có người trí mới hiểu và thực tập nhẫn nhục, vì có thực tập nhẫn nhục mới thấy được bản chất Vô thường – Duyên sanh – Vô ngã – Rỗng không của các pháp, khởi tâm từ bi, bình đẳng với tất cả mọi người thân như sơ, thù cũng như bạn.

Và cũng có dạng người, khi bị sĩ nhục, họ không khởi tâm tức giận mà họ đè nén trong lòng, ngày càng lớn và họ chờ khi nào có thời cơ, thì họ trở thành kẻ ác độc không thể ngờ.

*Thánh nhân có dạy: “Kẻ mà ta nói cho tức giận, mà họ không giận nếu chẳng phải người đại lượng, thì chính là kẻ nham hiểm.”

Điều thứ chín

CÓ THẾ LỰC KHÔNG Ỷ LÀ KHÓ

Ở thế gian, có những người có quyền hành, thế lực, họ dựa vào thế lực đó mà áp đảo lấn lướt người khác.

Ví như trong xã hội này, những gia đình có chức, quyền thì những đứa con của họ lại ỷ vào quyền thế của người cha, mà coi thường luật pháp buôn lậu, trốn thuế, đua xe, thậm chí đi cướp giật, đến khi họ bị bắt thì dùng danh của cha, ô dù của mẹ, mà đi qua các cửa luật pháp và họ cũng được an toàn.

Cũng vậy! Ở một số chùa, cũng có những vị đệ tử ỷ vào quyền thế của thầy trụ trì mà khống chế lấn lướt chúng Tăng và Phật tử cũng có những người ỹ dựa vào thầy tin cậy, từ đó coi rẻ những Phật tử khác.

Tóm lại
: Người có quyền thế, mà biết dùng quyền lực để khống chế cái ác là điều tốt, nếu dựa vào thế lực hay dựa vào cái ác để áp đảo lấn lướt thì là chết, họ trở thành kẻ hại dân, hại nước và người tu ỷ vào danh vào chức thì gây lắm điều tội lỗi, Phật tử đi chùa mà dựa dẫm vào thế lực của người trên, thì rốt cuộc việc đi chùa của họ không đúng mục đích mà còn bị tổn phước. Vì vậy! Người có thế lực mà không ỷ vào thế lực là rất khó.
Điều thứ mười

GẶP VIỆC VÔ TÂM LÀ KHÓ

Vô tâm: tâm không phân biệt đối đãi, không để tâm, không chấp trước, không dính mắc bởi công việc.

Ví như: khi gia đình ta có hữu sự: cha chết hoặc mẹ chết, người thân ta mất thì ta không giữ được tâm an, ta bị động tâm, quýnh quáng, đó là tâm lý chung của người thế gian.

“Khi sướng thì vui, khi khổ thì buồn, gặp phúc thì hớn hở, gặp họa thì héo tàn”.

Với người tu, tâm luôn luôn bình tĩnh chánh niệm, lấy trí tuệ sáng từ nơi việc làm, lời nói và suy nghĩ nên ít bị sai sót và luôn khiêm nhường, chọn việc không ai làm, thì ta làm, không dành việc với ai.

Ví như việc làm khó nhất là làm vệ sinh tolet, đó là việc ai cũng tránh né, nhưng với người vô tâm thì không có việc gì làm riết cũng quen và trong kinh Bát Nhã: bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm,… không có gì là sạch là dơ, chính do ta tự tạo cảm giác dơ, sạch.

Cũng ví như có người nhà của họ gần hố rác hôi thối, mới đầu thì họ cảm thấy không chịu nổi, bịt mũi lại, nhưng đi qua đi lại sống ở đó lâu ngày thành quen, không còn nghĩ là hố rác hôi thối nữa
Tóm lại
: Gặp việc vô tâm là khó, nhưng với người vô tâm thì dễ phát tâm làm Phật sự, không dính mắc, không phân biệt, người tốt cũng giúp người xấu cũng giúp, làm xong việc thì xã bỏ, không vướng bận tâm trí.

Điều thứ mười một

HỌC RỘNG NGHIÊN CỨU NHIỀU LÀ KHÓ

Nghiên cứu: tìm tòi, tra cứu, tìm hiểu sâu cho đến nơi đến chốn

Lê-Nin có nói: “Học – Học nữa – Học mãi”. Ở thế gian từ nhỏ đã phải học, cho đến lớn, chủ yếu chỉ là học không phải lo liệu gì khác, học cho đến khi thành đạt, vì với người lãnh đạo một đất nước hay làm giám đốc một công ty, nhất định phải là người trí thức nếu không có kiến thức, lấy gì để nói, làm sao biết cách trình bày, làm sao lãnh đạo, làm sao quản lý, nếu người không học không có tri thức sẽ đẩy lùi nền kinh tế của gia đình làm hủy hoại cuộc đời của chính mình và người không có tri thức sẽ là người dốt nát trở thành người ngu và trở thành kẻ ăn hại.

Trong Kinh Tăng Chi có nói: người ngu có ba loại

1.

Không biết những gì cần phải biết.

2.
Biết những điều không nên biết.

3.

Cái cần biết không biết và không rõ những gì đã biết.

Người ngu dốt nếu cộng với sự nhiệt tình sẽ thành kẻ phá hoại. Ví  như có một câu chuyện, chính vì người ngu này mà đã hại một người tàn tật đến suốt cả đời, mà bản thân người ngu này cũng không biết, chính mình đã gây ra bất hạnh cho người.

Chuyện rằng có một người đến treo bảng quảng cáo ở một nhà nọ, khi trèo lên để lắp bảng, vô tình không để ý có dây điện, dòng điện 3Fa rất mạnh, khi bị điện giật, người này té xuống đất, toàn thân đều có điện. Lúc này, có nhiều người chạy đến và có một người (bán hủ tiếu gần đó ) chạy đến thấy vậy, y nhanh nhẹn chạy đến sốc anh này đứng dậy nhưng người này không đứng nổi, thế là anh ta lấy tay xoa bóp người bị nạn. Sau khi thấy không có kết quả, y chở người bị nạn đi bệnh viện, chính do sự nhiệt tình và kém hiểu biết nên kết quả là tất cả các dây thần kinh của người bị nạn đều bị đứt hết nên bắt buộc phải cưa bỏ hai tay, hai chân dẫn đến thân thể không nguyên vẹn.

Thật là xót xa, khi bây giờ mỗi ngày, người này phải đi bán vé số với thân không có tay, chân và phải ngồi xe lăn, thật là đau lòng, đến việc vệ sinh cá nhân mình cũng phải nhờ người khác giúp.

Với người hiểu biết thì người ta sẽ để người bị giật điện nằm xuống đất, tiếp cận với đất vì trong người đang có điện nên phải dùng nước đổ lên người thì dòng điện sẽ theo nước chảy ra đất
Vì vậy ta cần phải đi học, học đến nơi đến chốn , đến khi gặp việc ta biết cách sử sự, biết cách làm giấy tờ khi cần thiết, người không học thì luôn bị thiệt thòi.

Và cũng có nhiều hoàn cảnh rất hiếu học và học rất giỏi nhưng tài chính gia đình không cho phép, có khi học nửa chừng, phải bỏ để đi làm và cũng có trường hợp lười biếng không học, ham hưởng thụ. Không có lý tưởng cha mẹ cho đi học lại trốn học, sau này va chạm với cuộc đời tiếp xúc với xã hội, khi đó mới biết hối hận thì đã muộn màng.

Trong đạo, ta cần phải học hỏi tìm tòi, nghiên cứu Phật pháp, học để thấy rõ bản chất của cuộc đời, học để biết nhân quả, luân hồi, nghiệp báo, học để hiểu các pháp là Vô thường – Khổ – Không – Vô ngã, học để tăng trưởng trí tuệ, học để hoàn thiện nhân cách đạo đức con người, học não bộ luôn hoạt động, trí tuệ luôn sáng suốt. Nếu không não sẽ ít hoạt động và ta sẽ trở nên chậm hiểu biết.

*Trí thức ở thế gian rất cần thiết, tri thức này nếu ta chưa có là một thiếu sót rất lớn, và nếu như ta có mất đi, ta không còn nhớ gì cả, qua đời sau ta phải học lại từ đầu đến cuối, còn với Phật pháp sẽ mang trí tuệ theo ta đi từ đời này đến đời sau.

Điều thứ mười hai

TRỪ DIỆT NGÃ MẠN LÀ KHÓ

– Ngã mạn: bản ngã, kiêu mạn và có bảy loại mạn.

1.

Mạn: tự mình nâng cao mình lên, hạ người khác xuống.

2.

Ngã mạn: coi mình là quá lớn, nên xem thường người khác.

3.

Quá mạn:  khinh thường người, bằng người mà cho là hơn người.

4.

Mạn quá mạn: người ngu luôn chê người trí, thua người mà cho là hơn người.

5.

Tăng thượng mạn: tu chưa chứng mà cho là chứng, chưa thành tựu mà cho là thành tựu.

6.
Ty liệt mạng: thua người nhiều mà cho là thua ít

7.

Tà mạn: kiêu mạn sai lầm, không căn cứ nói mình không hiểu, không đức hạnh mà cho là đức hạnh.

Ngã mạn là một phiền não cơ bản, người nào tư ái nhiều, là tâm ngã mạn càng lớn, tâm ngã mạn luôn làm cản trở, ngăn ngại trên bước đường tu . Phật dạy hàng Tu sĩ, đối trị tâm kiêu mạn:

“Này! Tăng ni muốn mình thành Phật
Bỏ cửa nhà trang Phục xuất gia
Khoác vào mình chiếc áo cà sa
Mong cầu khắp nẻo gần xa cúng dường
Chớ có ý dương dương tự đắc
Cao ngạo gì cũng vứt nó đi
Xuất gia vào đạo rồi thì
Mong người bố thí, từ bi cúng dường
Người thế tục còn buông cao ngạo
Huống chi là vào đạo xuất gia
Mong cầu giải thoát nhớ là
Hạ mình đây đó, người ta cúng dường”.
Người có tâm ngã mạn, trên đường tu sẽ không tiến bộ, mà hãy học câu nói:  “Tôn trọng người khác, người khác sẽ tôn trọng mình”.

Hãy lấy tôn trọng diệt trừ tâm kiêu mạn, kiêu ngạo, cần phải buông nhỏ bản ngã lòng mình, lấy tâm của người làm tâm của mình, để cho đến một ngày bản ngã không còn gì và hãy lấy đức khiêm cung – khiêm hạ để diệt trừ tâm kiêu mạn

Khiêm cung: chịu thiệt thòi hơn người khác

Khiêm hạ: lắng nghe người khác nói, khi ta có kiến thức hay hãy chia sẽ cùng gia đình, đạo bạn và năng lể Phật, lạy Phật, cầu Phật gia bị cho mình có đức khiêm cung, khiêm hạ.

Trong bài Sám nguyện có dạy:

“Xin con biết khiêm hạ
Biết tôn trọng mọi người
Tự thấy mình nhỏ thôi
Việc tu còn kém dở

Xin cho con tỉnh táo
Không kiêu mạn tự hào
Dù tu tiếng đến  đâu
Vẫn tự tìm chỗ dở

Nguyện cho con đi mãi
Không dừng lại giữa đường
Đến tuyệt đối vô biên
Tâm đồng Tâm chư Phật”

Không nên kênh kiệu, không tỏ ra xấu hổ, có sao sống vậy

“Tiêu một phần bản ngã, thêm một phần an lạc
Tiêu một phần bản ngã, thêm một phần chánh niệm
Tiêu một phần bản ngã, thêm một phần giải thoát

Tóm lại
: Dù xuất gia hay tại gia, cũng đều có tâm ngã mạn, phải cố gắng diệt trừ, cho đến khi nào chứng quả A La Hán, thì mới đoạn trừ hoàn toàn tâm ngã mạn. Cổ đức có dạy:

“Một lần kiêu mạn đã là quá nhiều
Người khiêm tốn một trăm lần cũng là quá ít”

Điều thứ mười ba

CHẲNG KHINH NGƯỜI CHƯA HỌC LÀ KHÓ

“Sự học là vô tận, học hoài vẫn chưa đủ”. Ta có phước duyên mới được học Phật pháp, có gieo trồng căn lành nhiều đời kiếp, ngày nay ta nương tựa ba ngôi báu Phật – Pháp – Tăng, được tụng kinh, niệm Phật nhưng tụng kinh phải biết Phật dạy gì, muốn biết và hiểu lời Phật dạy, thì phải học giáo lý, có học từ đó cặp mắt trí tuệ từ từ mở ra.

Trong kinh Trung bộ 22: “Quán sát ý nghĩa học Pháp” chỉ ra hai hạng người học pháp:

Hạng thứ nhất: người học pháp nhưng không dùng trí tuệ quán sát nên không rõ ràng, học chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, muốn khoái khẩu biện luận, hạng này không đạt được mục tiêu của sự học pháp, hướng đến giải thoát, họ nắm giữ pháp một cách sai lệch nên đưa họ đến bất hạnh đau khổ lâu dài.

Hạng thứ hai: người học pháp luôn dùng trí tuệ quán sát ở ba phương diện.
Ø
Văn tuệ: nghe những điều phật pháp .
Ø
Tư duy tuệ: tư duy, suy nghĩ những điều đã được học .
Ø
Tu tuệ: dùng pháp đã được tư duy đúng để ứng dụng tu .
Học pháp phải đến nơi đến chốn, không nên hiểu lờ mờ, học pháp Phật là để tu, học pháp để khi đối duyên xúc cảnh ta gặp phiền não, biết dùng pháp gì để đối trị, hóa giải. Học pháp không phải nhìn lỗi của người mà hãy xem đó là bài học cho ta để ta không vấp phải lỗi lầm. Học pháp để biết lúc nào cần nói và nói lúc người cần nghe.

Với người học Phật, thì không nên coi thường người không học, mà nên cố gắng tiếp tục, chẳng những không chê mà ta phải khuyên người cùng học, phải chia sẽ những gì ta học được cùng người bạn đạo, gia đình. Chứ không che giấu những gì ta học được và khinh thường những người không học.
Thời đức Thế Tôn còn tại thế, có tôn giả với tên là Bàn Đặt tại sao lại có tên này vì người này không có trí nhớ, học có 2 chữ: chổi và quét, mà học không xong, khi học chữ “chổi” thì quên chữ “quét” và khi học chữ “quét” thì quên chữ “chổi” đó là nghiệp nhân và nghiệp quả mà vị này đã tạo ra, vì tiền kiếp vị này là giảng sư thuyết pháp, là giảng sư thì sự học phải rất là thông thái, mới có tài thuyết pháp, biện luận nhưng vì giấu pháp không truyền đạt hết sự hiểu biết của mình nên gánh nghiệp, kết quả đời này không biết một chữ.

Tóm lại
: thấy được sự nguy hiểm của người có học mà khinh thường người không học, ta phải chừa bỏ chẳng những phải chia sẻ sự học của mình và khuyên người cùng ta đi tu học và học theo hạnh nguyện của Bồ tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa: “Tôi chẳng dám khinh quý ngài, vì quý ngài đều sẽ thành Phật” .

Điều thứ mười bốn

THỰC HÀNH TÂM BÌNH ĐẲNG LÀ KHÓ

Bình đẳng: không thiên vị, không xem trọng người này mà khinh thường người kia, thương người này, bỏ người kia.
Ở thế gian, nếu ta dùng vật chất để chia thì không bao giờ bình đẳng được. Nếu như trong gia đình, cha mẹ đến khi chia tài sản cho con phải chia như thế nào ? Người lớn nhất và người nhỏ nhất hay người con nào nghèo chia nhiều và người nào khá thì cho ít. Kết quả là kiểu nào cũng không xong vì lòng tham con người là không đáy thì chia cách nào thì cũng không thể gọi là đồng đều và bình đẳng.

Với giáo lý Phật, chỉ có sự hoá độ của Đức Thế Tôn mới triệt để bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo, cao thấp. Không những loài người mà loài vật trong giáo đoàn của ngài, ngài nhận cả những người hạ tiện như ngài “Ni Đề” làm nghề gánh phân và ngài nhận bữa cơm cuối cùng của người bán than Thuần Đà.

Trong hàng đệ tử của Đức Thế Tôn có hai vị Tôn giả:

Ngài Ma Ha Ca Diếp chuyên hóa độ và tiếp nhận người nghèo với lý do ngài muốn dành phước cho người nghèo, vì ai cúng dường cho ngài một bữa ăn sau khi mất sẽ được sanh thiên với phước báu cúng dường cho bậc A La Hán.

Và ngài Tu Bồ Đề lại chuyên nhận sự cúng dường của người giàu có với lý do người giàu quá dư dã nếu không nhận họ cũng bỏ đi.

Theo lý thì hai vị này đều đúng, nhưng Đức Phật vẫn chưa cho là đúng theo tinh thần bình đẳng và có một lần đến xin nước của người thuộc giai cấp hạ tiện, người này sợ làm ô uế ngài nên Đức Thế Tôn dạy:


Không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng mặn, mỗi người sanh ra đều có Phật tánh và có thể thành Phật
”.Điều thứ mười lăm

CHẲNG NÓI SỰ PHẢI QUẤY LÀ KHÓ

Ở thế gian không có gì là tuyệt đối, cuộc đời này chỉ là tương đối mà thôi, không có gì là phải, không có gì là trái, vì vậy chuyện gì của ai người đó tự biết, chuyện mình, mình biết, không nên nói động đến ai. Vì có câu nói: “Có trong chăn mới biết chăn có rận, cũng như uống nước có nóng hay lạnh tự người đó cảm nhận”.
Ta không được nói việc của người vì nói thị phi là một việc ác khẩu hại người. Do đó đức Phật đã răn dạy hàng Phật tử tại gia về năm giới căn bản, để hoàn thiện nhân cách đạo đức con người, cách nói thị phi cũng là giới thứ tư đó là nói lưỡi đôi chiều, đến bên này nói xấu bên kia, đến bên kia lại nói xấu bên này, người mà trước mặt nói khác sau lưng lại nói khác.
Để thấy rõ, từ nơi khẩu nghiệp này, ta đã gây ra bao ác nghiệp, phải cẩn trọng, để không gánh hậu quả khôn lường .
Trong kinh Tương Ưng có dạy :
“Phàm con người sanh ra
Sanh với búa trong miệng
Kẻ ngu khi nói bậy
Tự chặt đứt lấy thân
Ai khen kẻ làm bậy
Ai chê người làm hay
Tự nhen nhúm bất hạnh
Do chính miệng của mình
Chính do bất hạnh ấy
Nên không được an lành”.
Tóm lại
: càng nói ít, càng ít sai lầm, khi nói phải uốn lưỡi bảy lần.

Điều thứ mười sáu
GẶP THIỆN TRI THỨC LÀ KHÓ
Chư tổ có dạy: “Sanh ta ra là cha mẹ tác thành người là bạn bè”. Ta vì cuộc sống, nên ta ở ngoài đường nhiều hơn ở nhà, khi ta còn ở nhà thì cha mẹ dạy ta rất nhiều, nhưng đến khi ta ra đời thì hoàn cảnh sống môi trường sẽ tác động ta và có được mấy ai dạy ta những điều tốt lành. Họ chỉ muốn ta gặp nạn, muốn thấy ta thất bại và tìm mọi thủ đoạn để dụ dỗ, chớ có mấy ai là người tốt vì vậy gặp được người lành, tốt là khó.
Trên bước đường học Phật, nếu ta gặp được vị thầy hướng đạo, được một bậc minh sư, dẫn dắt ta trên đường tu là do nhân lành gieo trồng với ba ngôi Tam bảo, nhiều đời kiếp, là quyến thuộc bồ đề là bậc Thiện tri thức dẫn dắt ta trên đường đạo, khi ta được gặp minh sư rồi, con đường ta đi sẽ sáng sủa, mục đích tu để thành tựu.

Thiện Tri Thức có ba hạng:

1.

Ngoại hộ Thiện Tri thức: giúp nhu cầu về vật chất trên đường tu học.

2.
Đồng hạnh Thiện Tri Thức: những người bạn, đồng học, đồng tu, cùng nhắc nhở nhau trên đường đạo.

3.

Giáo thọ Thiện Tri Thức: người đem lời Phật truyền dạy cho ta để ta có sự hiểu biết và tu tập, giúp ta đạt được mười điều

ü
Một: khiến ta an trụ tâm bồ đề.

ü
Hai: khiến ta tăng trưởng thiện tâm

ü
Ba:  khiến ta tu hành các pháp Ba La Mật.

ü
Bốn: khiến ta hiểu các pháp về Vô thường – Khổ – Không – Vô ngã.

ü
Năm: khiến ta thành tựu tất cả chúng sanh pháp giúp ta

ü
hiểu về pháp tứ đế : Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế khiến ta hiểu rõ về Tam khổ: Khổ Khổ – Hành Khổ – Hoại Khổ khiến ta thấy rõ về tám khổ; là tám điều cấu uế, khiến ta phiền não, đó là sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, cầu bất đắc khổ, oán tăng hội khổ, ái biệt ly khổ, ngũ âm xí thạnh khổ.

ü
Sáu: khiến ta được biện tài, có khả năng biện luận.

ü
Bảy: giúp ta không nhiễm, không dính mắt trước các pháp thế gian.

ü
Tám: khiến ta mỗi kiếp mỗi tu hành không biết chán, luôn được sự sách tấn, nhắc nhở, động viên.

ü
Chín: khiến ta an trụ mười hạnh Phổ Hiền.

ü
Mười: khiến ta vào được Phật Trí

Trong ba loại Thiện Tri Thức thì giáo thọ Thiện Tri Thức là quan trọng và cốt yếu nhất, nếu ta không có sự chỉ dạy của thầy tổ thì ta sẽ không biết đường tu.

“Sanh ta ra là cha mẹ, thành tựu trên đường tu là thầy Tổ”. Thật vậy ! Thầy Tổ là người khai đạo, mở thông trí tuệ là người mớm cho ta từng dòng sữa Pháp để ta có cuộc sống an lành, có niềm vui an lạc trong tâm thức, ta có thầy Tổ, thì mỗi bước đi có thầy Tổ dạy dỗ theo dõi. Nhờ vậy, ta sẽ được an lành, mỗi lúc ta sai, mỗi lúc ta nhận ra điều chánh pháp không đúng, những lúc ta nhận ra con đường sai lầm giữa cuộc đời có bóng dáng thầy Tổ nhắc nhở chúng ta.

Công đức của thầy Tổ không thể nghĩ bàn, ta phải khắc ghi từng giờ từng phút và phải tôn kính suốt đời, thâm ân thầy Tổ cao cả ngần ấy chúng con nguyện tinh tấn tu học, áp dụng lời dạy của thầy vào trong cuộc sống, để phần nào đền đáp ân đức thầy Tổ dạy dỗ chúng con:

“Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mang

Nghĩa ân sư muôn kiếp, khó đáp đền”.

Tóm lại
: gặp được Thiện Tri Thức là khó, trên đường đạo, gặp được bậc minh sư dẫn dắt là khó vì có nhiều người đi chùa trụng kinh, năm này, năm nọ, mà chưa gặp được minh sư dẫn dắt thì đường tu học sẽ chậm và lạc hướng, không có kết quả cao, phải nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho ta, gặp được Thiện Tri Thức, Bậc Minh sư để dẫn dắt ta trên bước đường tu.
Phật dạy! Muốn biết được minh sư: “Phải thân cận lâu ngày, sống với người ấy, trong hoàn cảnh khó khăn nghe người ấy đàm luận, ta mới thấy được Đức hạnh và sự chứng đắc của người đó.”

Điều thứ mười bảy

THẤY TÁNH HỌC ĐẠO LÀ KHÓ

Kiến tánh: thấy rõ bản thể của tâm, không sanh, không diệt.

Vọng tâm: nhìn bằng hiện tượng, nhìn bằng tâm không thanh tịnh.

Chơn tâm: bản thể thanh tịnh, vắng lặng, như Phật- Bồ Tát

Tâm sanh ra vạn pháp, trong tâm ta có hai loại tâm, vọng tâm và chơn tâm, do con người ai cũng sống bằng vọng tâm, nên ta luôn sai lầm, do ta tham đắm nhiều ở đời, nên ta bị che mờ, không thấy chơn tâm của mình.

Tâm ta như một tấm gương, lâu ngày ta không lau rữa thì sẽ bị hoen ố. Khi ta tẩy sạch những ô uế, thì gương kia sẽ sáng lại.

Tâm ta cũng phải lau chùi bằng cách tụng kinh niệm Phật, thiền tọa cho đến ngày tâm ta sáng lại, khi ta tẩy sạch tất cả phiền não, các kiết sử, tẩy sạch tâm tham, tâm sân, tâm si thì chơn tâm mới sáng tỏ, ai năng chùi rữa tâm thì tâm sáng là Phật, tâm chưa sạch là chúng sanh.
“Phật Phật, ma ma cũng do ta
Phật, ma khác nhau chỗ chánh tà
Giác Phật, mê ma là đó vậy
Chơn như là Phật, vọng là ma”

– Hòa thượng Thanh Từ có dạy: “Phải thấy vọng tâm là giả thì chơn tâm xuất hiện, nếu ta sống mà không thấy vọng tâm thì không thấy chơn tâm, ngay lúc phát hiện ra có vọng tâm thì lúc đó chơn tâm hiễn lộ”.

Người xuất gia, cắt bỏ sự ràng buộc chỉ chuyên tu, không dính vào vật chất, sự nghiệp người tu là “ Trí tuệ” lấy trí tuệ để tu tập ba pháp Giới – Định – Tuệ, ba pháp này là nền tảng căn bản cho sự tu tập.

v
Giới: ngăn ngừa nhửng điều xấu ác.

v
Định: tâm thanh tịnh, tâm an tịnh.

v
Tuệ: tuệ sanh khởi.
Với ba pháp Giới Định Tuệ, mười phương ba đời chư Phật đều nương vào giáo lý ấy mà thành tựu đạo quả vô thượng Bồ đề, đó là con

đường duy nhất gạn lọc thanh tịnh hóa các kết sử.

Giới – Định – Tuệ giữ vai trò quyết định ho việc giải thoát giác ngộ.

Giới thành tựu, Định thành tựu, Tuệ thành tựu.

Chỉ với Tam vô lậu học Giới – Định – Tuệ mới là con đường duy nhất thấy được Chơn tâm kiến tánh, giải thoát thành Phật.

Tóm lại
: người học đạo để thấy tánh là khó

Điều thứ mười tám

TÙY DUYÊN HÓA ĐỘ NGƯỜI LÀ KHÓ

Tùy duyên: tùy thuận chúng sanh, tùy nhân duyên hoàn cảnh mà sử sự.

Tùy duyên bất biến: tùy thuận theo người khác nhưng không đánh mất bản chất của mình, mình vẫn là mình, tu tập và tùy thuận chúng sanh tu tập.

Muốn cảm hóa một người, dùng đủ ngôn từ để cảm hóa, nếu tâm mà đồng tâm thì còn cảm hóa được, nếu giữa tâm thuận và nghịch nhau thì rất khó thuyết phục.

Người hóa độ được chúng sanh chỉ có đức Phật, mới là người hóa độ hoàn hảo nhất với lòng từ bi và trí tuệ, tùy căn cơ, phương tiện mà hóa độ nên ở thời đức Thế Tôn nếu ai được nhân duyên đức Thế Tôn hóa  độ thì sẽ chứng quả vị A La Hán.

Thời nay, dù Phật còn tại thế hay Phật đã thị hiện nhập niết bàn thì Tăng Bảo mãi mãi là ruộng phước tốt cho chúng sanh gieo trồng hạt giống lành.

Thật vậy! Sau khi Phật vắng bóng thì hàng tăng bảo được xem là viên ngọc quý kế thừa mạng mạch Phật Pháp, thay Phật nêu cao ngọn đuốc trí tuệ:
“Kính lạy tăng, người thừa trí cả

Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu

Tùy duyên hóa độ vô cầu

Làm thầy mô phạm, dẫn đường chúng sanh”.

Tóm lại
: tùy duyên hóa độ là khó nhưng cũng có các vị Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trí Quảng,…những người lãnh đạo giáo hội Phật giáo đó chính là tinh thần hóa độ tùy duyên.

Điều thứ mười chín

THẤY CẢNH KHÔNG ĐỘNG TÂM LÀ KHÓ

Người thì ai thấy cảnh cũng động tâm, ví như Phật tử được học đạo biết rõ nhân quả, nghiệp chướng, nếu việc xảy đến với chính người đó thì người này sử sự ra sao? Có động tâm hay không, đi chùa thì rất hiền, ai nói gì cũng nhịn và bỏ qua xem như là anh em, không vì một chút bất đồng mà mất hòa khí, mất tình huynh đệ nhưng thực tế. Khi họ ở ngoài cửa chùa, việc gì đụng đến họ vì quyền lợi của họ, thì họ tranh cải cho đến cùng, đến khi nào họ phải là người chiến thắng thì họ mới yên.

Hư Vân thiền sư có nói: “Kiến vật tiện kiến tâm, vô vật tâm bất hiện.”

Khi thấy cảnh thì tâm hiển lộ khi không có cảnh thì không động tâm,  khi không có đối tượng thì tâm yên lặng không động.

Chỉ với người tu, biết hộ trì, kiểm soát tâm ý, thấy cảnh mới không động tâm, không khởi lên tham dục, phóng tâm, …
Điều thứ hai mươi

KHÉO BIẾT PHƯƠNG TIỆN LÀ KHÓ

Phương tiện: phương pháp tiện dụng để dẫn dắt chúng sanh vào đạo.

Đạo Phật là đạo hướng đến giải thoát và đạo Phật là đạo của sự thật giúp người nhìn rõ bản chất của cuộc đời là giả huyễn, là không có thật nhưng không bỏ mà chỉ dùng làm phương tiện như ngón tay chỉ mặt trăng và bốn mươi chín năm thuyết pháp của Phật cũng chỉ là phương tiện.

Kinh Trung Bộ, Đức Thế Tôn ví pháp như hình ảnh chiếc bè phương tiện qua sông, giúp người từ bờ bên này nguy hiểm chỉ cho si mê, lầm lạc, vô minh, tham ái và dùng chiếc bè là giáo pháp của Đức Thế Tôn, ứng dụng tu tập để qua bờ kia an ổn giải thoát.

Và chiếc bè ở đây chỉ cho thân ngũ uẩn: hình sắc, cảm thọ, nhận thức quan điểm, sự vận chuyển của tâm thức, và sự phân biệt của tâm thức.
Trên đường tu ai cũng phải làm chiếc bè trong tâm thức và ta vay mượn chiếc bè này như một phương tiện để qua biển sanh tử và khi đã qua bờ kia ta phải bỏ lại chiếc bè và tiếp tục đi không luyến tiếc. Không đắm nhiễm dù chiếc bè này đã đem lại nhiều lợi ích cho ta, giúp ta có thân để tu tập và cũng là phương tiện cùng ta đi hết quảng đường sanh tử, không vì vậy mà ta cứ tiếc nuối như người thấy chiếc bè lợi ích quá nên vác chiếc bè lên vai hay đội lên trên đầu.

Giáo pháp của đức Thế Tôn là chiếc bè, các pháp môn phương tiện nhằm giúp người thực hành tìm thấy niềm vui an lạc, giải thoát theo từng cấp độ, căn cơ ta có chiếc bè rồi bây giờ ta phải dung tay chèo, nếu có mỏi ta chuyển qua chèo bằng chân, nếu có mệt thì nghĩ lấy hơi và tiếp tục chèo, nhất định sẽ tới bờ.

Và ngày nay, cũng vì phương tiện mà có các pháp môn tu tập : tu thiền, tu tịnh, tu mật, tuy pháp môn khác nhau nhưng điểm đến là niết bàn, Tịnh Độ, tùy căn cơ, trình độ mỗi người mà chọn cho mình một pháp môn tu tập, không nên phân biệt pháp môn thấp cao, tất cả các pháp môn đưa ra cũng đều vì phương tiện dẫn dắt chúng sanh vào đạo và khi đã đến bờ giải thoát, Đức Thế Tôn dạy: “Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp”

Chánh pháp là một chân lý, là một định luật không thay đổi như con người phải qua bốn tiến trình: Sanh, Già, Bệnh, Chết và vạn vật chịu quy luật của Thành – Trụ – Hoại – Không.
Phi Pháp là những pháp đi ngược lại, không đem lại an lạc hạnh phúc.

Phi pháp ta bỏ trước chánh pháp để tu tập, khi giải thoát thì chánh pháp mới bỏ, bỏ đúng thời đúng lúc.

KẾT LUẬN

Đức Phật là đấng Bi – Trí song toàn, tự thân ngài chứng chánh Đẳng Chánh Giác và đích thân ngài chuyển bánh xe pháp, đem nguồn giáo pháp vi diệu vào trong dân gian, những lời dạy của ngài đã đánh thức biết bao chúng sanh trôi lăn trong sáu nẻo và bổn hoài duy nhất của Phật.

“Khai ngộ chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến”. Là người học Phật, làm thế nào để đền đáp ơn đức của Phật, mới là Điều Thiết Thực cần phải làm trên bước đường tu và học.

Cũng thế! Hai mươi điều khó làm mà Đức Phật đã răn nhắc trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, chính là điều rất rất khó làm, tự bản thân ta phải nổ lực, tinh tấn, kiên quyết thực hành cho được.

Cổ Đức có dạy:
“ Trên đường đạo không gì bằng tinh tấn
Không gì bằng trí tuệ đời ta
Sống điêu linh trong kiếp sống ta bà
Chỉ tinh tấn là vượt qua tất cả”.

Đức Phật đã nói: “Ta chỉ là người dẫn đường, các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi”.

Với hai mươi điều khó làm này mà Đức Phật giúp người thực hành ba nghiệp Thân – Khẩu – Ý thanh tịnh vì vậy bắt buộc người tu học phải làm được, dù người xuất gia hay tại gia, muốn tu hành thành Phật, muốn nhập Niết bàn an lạc đều phải thực hành tu học từ hai mươi điều khó này vì Phật dạy :

“Ai người đạt những điều này

Thuộc hàng đạo hạnh, đủ đầy thánh nhân
”.“ Trên đường đạo không gì bằng tinh tấn
Không gì bằng trí tuệ đời ta
Sống điêu linh trong kiếp sống ta bà
Chỉ tinh tấn là vượt qua tất cả”.

Đức Phật đã nói: “Ta chỉ là người dẫn đường, các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi”.

Với hai mươi điều khó làm này mà Đức Phật giúp người thực hành ba nghiệp Thân – Khẩu – Ý thanh tịnh vì vậy bắt buộc người tu học phải làm được, dù người xuất gia hay tại gia, muốn tu hành thành Phật, muốn nhập Niết bàn an lạc đều phải thực hành tu học từ hai mươi điều khó này vì Phật dạy :

“Ai người đạt những điều này

Thuộc hàng đạo hạnh, đủ đầy thánh nhân

Posted in Management consulting | Leave a comment

4 dang cap cua con nguoi

Con Người được tác tạo với hai phần tuy khác biệt nhưng lại hòa nhập với nhau làm một: Thể Xác và Tinh Thần. Tùy theo giáo dục gia đình và học đường và tùy theo nhận thức mà Con Người sinh hoạt theo từng đẳng cấp: Hướng Hạ, Nhân Bản, Hướng Thượng và Cao Thượng. Tầng lớp Hướng Hạ sống miễn cưỡng, buông thả và không biết chăm sóc bản thân mình, để mặc cho thể xác và tinh thần bệnh hoạn, mặc cho những kết quả của sự buông thả của mình lôi kéo mình đi vào một tương lai vô định. Lớp Nhân Bản sống đúng theo những nhu cầu căn bản của Nhân Loại, sống bình dị, và biết lo lắng cho thân thể và tinh thần mình tráng kiện. Giá trị cao hơn một cấp là lớp Hướng Thượng, tầng cấp này là những nhà giáo dục, những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nghệ sĩ chân chính, kiến trúc sư…luôn tìm cách vươn lên một tầm cao hơn thế đứng hiện tại, đặt tâm hồn và trí thức mình hướng về việc làm cho Nhân Loại thăng hoa cũng như thích chia xẻ những điều Hay, Đẹp cho người khác. Phần thưởng mà họ mong muốn là những nụ cười hạnh phúc của thiên hạ. Vượt qua những đẳng cấp ấy là lớp người Cao Thượng, sẵn sàng hy sinh mình cho niềm vui và hạnh phúc của người khác, tuy biết rằng một khi hy sinh Thể Xác thì Tinh Thần cũng tan biến, sự hiện diện của cá nhân mình trên mặt đất này sẽ không còn nữa. Lớp người Cao Thượng này không hề nghĩ đến đau đớn của Thể Xác một khi chấp nhận hy sinh. Họ cũng không cần Quá Khứ, Hiện Tại, và Tương Lai của chính mình, vì nếu đã hy sinh Thể Xác, thì mọi liên hệ của Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai đều biến mất trong chớp mắt. Sự hy sinh như thế là tận cùng của sự thất thoát và lỗ lã.

Trích theo CTT

Posted in Management consulting | 1 Comment